Ba hệ thống tầng còn lại trên mặt la bàn, hai bước hạ châm và áp tuyến khi dùng la bàn, cùng mối liên hệ giữa thiên văn học cổ đại và kham dư.
Sau tầng phương vị, báo cáo xét ba hệ thống còn lại trên mặt la bàn, rồi bàn về cách thao tác la bàn và ảnh hưởng của thiên văn học cổ đại.
Ba hệ thống tầng bàn còn lại
Tầng quái lệ
Tầng quái lệ là những tầng phối quẻ đặt dưới các tầng phân kim, gồm Tam bàn ngoại quái (Tiên thiên phân kim ngoại quái, Hậu thiên phân kim ngoại quái, Hầu quái), Xuyên sơn bản quái, Thấu địa nội quái, Thập nhị tích quái… Đây là các tầng dùng hào quẻ của sáu mươi tư quẻ Dịch để luận cát hung, một kiểu "kiểm nghiệm" xem phương đã chọn có thật cát tường hay không. Nghĩa là chọn hướng bằng la bàn không chỉ cần "đắc kim" mà còn cần "đắc quái". Nếu ngoại quái của quẻ thu được có hào trên và hào dưới là một âm một dương, đó là quẻ "cửu lục xung hợp", tức là đắc quái.
Điều này dường như là sự tiếp nối của phép bói đất thời cổ. Quyển năm sách Địa lý tân thư đời Tống, chương "Phệ trạch cư", có chép cát hung của việc dùng sáu mươi tư quẻ để bói đất, cho rằng đó là phép bói nơi ở còn lại từ đời Chu, dân vùng "Giang Hoài Ba Thục" vẫn còn dùng.
Các tầng quái lệ được sắp theo những thứ tự quẻ khác nhau, phân bổ vào lục thập Giáp Tý:
- Tiên thiên phân kim ngoại quái theo thứ tự thuận nghịch của quẻ trong Tiên thiên quái khí đồ của Thiệu Khang Tiết, bỏ bốn quẻ Càn, Khôn, Khảm, Ly.
- Hậu thiên phân kim ngoại quái lấy thứ tự vị trí Hậu thiên Bát quái (Lôi, Phong, Hỏa, Địa, Trạch, Thiên, Thủy, Sơn) phối với tám phương, bỏ bốn quẻ chính, được sáu mươi quẻ.
- Tầng Hầu quái lấy sáu mươi tư quẻ theo Quái khí đồ của Kinh Phòng đời Hán, bỏ bốn quẻ Khảm, Ly, Chấn, Đoài.
Phân kim của Thấu địa long phối với Thấu địa nội quái; phân kim của Xuyên sơn thất thập nhị long phối với Xuyên sơn bản quái. Căn cứ vào đó mà xét phân kim thu được có hợp quẻ hay không. Ngoài ra, các tầng quái lệ như Thấu địa nội quái còn phối hợp với những hệ thống thuật số như Kỳ Môn Độn Giáp để tìm các phương Tử, Phụ, Tài, Quan, Lộc, Mã, Quý nhân.
Tầng tinh tú
Tầng tinh tú thường nằm ở vòng ngoài của la bàn phong thủy, gồm Nhị thập bát tú (độ số, giới hạn, phối hai mươi bốn sơn, phối lục thập long), Chu thiên tú độ (360 độ, 365 độ, cát hung của tú độ, Ngũ hành của tú độ), Thập nhị phân dã và Thập nhị cung thứ…, tức là các tầng liên quan đến thiên văn và lịch pháp.
Tầng Cửu tinh và Thiên tinh
Tầng Cửu tinh còn gọi là tầng Tọa sơn Cửu tinh hoặc tầng Địa mẫu phiên quái Cửu tinh, dùng để xét đất lớn hay nhỏ, quý hay tiện. Cách tính là theo thứ tự phiên quái của Địa mẫu quái, bắt đầu từ đối cung của quẻ Khôn trong phép biến diệu Bát quái, lần lượt Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật; rồi theo nguyên tắc Can chi Nạp giáp mà biết mỗi phương trong hai mươi bốn phương được sao nào. Trong đó Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc là cát tinh; ba phương Cấn, Tốn, Đoài ứng với chúng gọi là "Tam cát", cùng với Bính, Tân, Đinh nạp bên dưới hợp thành "Lục tú".
Dựa trên thuyết "sao có đẹp xấu, đất có cát hung", trong Tam viên và Nhị thập bát tú lại có hai mươi bốn Thiên tinh ứng với hai mươi bốn phương vị. Các phương được nêu cụ thể như sau:
| Phương vị | Thiên tinh tương ứng |
|---|---|
| Hợi | Tử Vi viên |
| Cấn | Thiên Thị viên |
| Tốn | Thái Vi viên |
| Đoài | Thiếu Vi viên |
| Bính | Thiên Quý tinh |
| Tân | Thiên Ất tinh |
| Đinh | Nam Cực tinh |
Như vậy Cấn, Tốn, Đoài, Bính, Tân, Đinh lại trùng với Lục tú tính theo Cửu tinh Địa mẫu quái; thêm Hợi và Tỵ thì gọi chung là "Bát quý", đều là đất đẹp.
Bàn Cửu tinh và bàn Thiên tinh đều dùng để tìm sự đẹp xấu, quý tiện của phương vị tương ứng, nên trên mặt la bàn chúng thường là hai vòng liền nhau, tự thành một hệ thống.
Thao tác la bàn phong thủy
Cách thao tác cơ bản của la bàn không phụ thuộc vào phái phong thủy hay loại la bàn. Ngoài chút khác biệt về "vị trí đo" và "cách giải thích phân kim của tầng bàn", việc dùng la bàn trên thực tế chỉ là xác định phương hướng, giống như ta dùng kim chỉ nam để xác định phương vị.
Bước thứ nhất là "hạ châm" tại địa điểm đã chọn: xác định hướng Nam – Bắc, rồi đưa nội bàn về "quy linh". Nói đơn giản là xoay cho dấu hiệu phương Bắc trên "đường Tý Ngọ của Thiên trì" (dấu có hai chấm đỏ) trùng với đầu chỉ Bắc của kim (đầu tròn).
Bước thứ hai là dựa vào Thiên tâm thập đạo, tức đường chữ thập màu đỏ trên la bàn, "áp tuyến" để xác định phân kim tọa hướng của nơi ấy; từ phân kim tọa hướng mà suy tính cát lợi, hung hiểm, rồi bố cục phong thủy cho thích hợp theo phương pháp của từng lưu phái.
Báo cáo gốc có một hình chú thích các bộ phận của la bàn (bản dịch không kèm hình), gồm: hai mươi bốn sơn, Bát quái, đường Tý Ngọ của Thiên trì, ngoại bàn, đế bàn màu đỏ, nội bàn, Thiên tâm thập đạo (đường chữ thập màu đỏ của nội bàn), Thiên trì và kim chỉ nam.
Thực ra, la bàn thông dụng hiện nay đều đã đánh dấu sẵn những phương vị cát lợi mà thầy phong thủy cần. Khi làm thực địa, thầy có thể "áp tuyến" là biết ngay tọa hướng ấy cát hay hung, nên lấy phân kim cát lợi về phía nào. Mỗi tầng trên la bàn ghi các kết quả do từng lưu phái thuật số phong thủy suy tính ra; quá trình suy tính được lược bỏ, chỉ hiển thị phương vị tốt hay không tốt. Chỉ cần hiểu các dấu hiệu đặc thù trên tầng bàn là dễ dàng biết phương vị tốt xấu.
Vì vậy, trên la bàn kiểu mới hiện nay xuất hiện nhiều tầng khác trước. Đó chẳng qua là ký hiệu đặc biệt để đánh dấu trực tiếp, không phải lưu phái mới hay cách thao tác la bàn khác. Cách dùng la bàn hiện đại do đó không khác gì trước kia; khác biệt chỉ ở chỗ thầy phong thủy mỗi lưu phái thêm bớt, biến đổi các tầng theo nhu cầu của mình.
Ảnh hưởng của thiên văn học cổ đại đối với la bàn
Từ hình thức và cách ứng dụng la bàn phong thủy Trung Quốc, có thể thấy nhiều cách giải thích và vận dụng liên quan đến thiên văn học cổ đại, chẳng hạn Nhị thập tứ tinh tú, Thập nhị chi thần… Cách dùng chúng trên la bàn không hoàn toàn giống lý luận và giải thích của thiên văn học cổ đại, nhưng nhìn vào quá trình quan sát và phát triển của thiên văn học cổ đại, quả thật có thể hiểu được ảnh hưởng của nó đối với hệ thống tri thức của la bàn.
Thời Tiên Tần, con người quan sát mặt trời để định hai hướng Đông, Tây, rồi tiến thêm một bước chia ra Nam, Bắc; quan niệm bốn hướng hình thành. Đến Đông Chu, thuyết Bát quái thịnh hành, bốn hướng hòa vào Bát quái, thêm bốn góc thành tám phương. Khoảng Tần, Hán, Thập nhị chi lại ghép với Bát can, định thành hai mươi bốn phương vị. Vì vậy hai mươi bốn sơn trên la bàn ngày nay đã xuất hiện sớm nhất từ thời Tần, Hán; ở thức bàn đời Hán cũng có thể thấy nguyên hình ban đầu của la bàn.
Đến Đường, Tống, nam châm được dùng rộng rãi để định hướng, người ta phát hiện thêm rằng kết quả định hướng theo thiên văn và theo nam châm hơi lệch nhau. La bàn dùng trong kham dư cũng từ đó dần phát triển lý luận Chính châm và Phùng châm.
Thời Đường, Tống, văn hóa và giao thương hưng thịnh, các lý luận tư tưởng và tri thức khoa học đương thời cũng theo đó nở rộ. Các trào lưu luận bàn không chỉ sôi nổi trong giới trí thức mà còn phổ biến rộng trong dân gian. Các học phái tự thành dòng riêng nhưng vẫn ảnh hưởng lẫn nhau. Thiên văn học và kham dư học càng nhờ sự dung hợp với các tư tưởng "Dịch học", "Âm dương Ngũ hành" mà phát triển thành những môn học độc đáo, đậm tư tưởng truyền thống Trung Quốc.
Thời Minh, Thanh, tri thức phương Tây du nhập khiến lý luận tư tưởng truyền thống Trung Quốc phải đối diện với sự kiểm nghiệm của khoa học phương Tây. Thiên văn học, do ảnh hưởng của dụng cụ hiện đại và tri thức khoa học, tách khỏi lý luận "Âm dương Ngũ hành" truyền thống. Kham dư học thì ngược lại, chịu ảnh hưởng của tri thức phương Tây mà sinh ra càng nhiều phương pháp luận phức tạp và "có vẻ khoa học". Chẳng hạn, trong dụng cụ thiên văn đời Minh, bàn kim chỉ nam chỉ chia hướng theo 360 độ, ít dùng lối hai mươi bốn phương vị truyền thống, càng không thấy phép trời đất tương ứng của Thập nhị phân dã. Còn la bàn kham dư không chỉ tiếp tục dùng Thập nhị phân dã để suy định trời đất, nhân sự, mà còn thêm cách chia 360 độ, khiến "phân kim" truyền thống càng chia nhỏ hơn.
Từ đời Tống, khoa học dần phát đạt, ví như việc phát hiện độ lệch từ. Thiên văn học từng bước bước vào lĩnh vực kiểm chứng của khoa học hiện đại; còn kham dư học, do chịu ảnh hưởng của quan niệm truyền thống về sự tương ứng giữa trời, đất và người, lại nghiêng về phía tư tưởng triết học. Thiên văn học hiện đại và kham dư học Trung Quốc vì thế ngày càng ít ảnh hưởng qua lại. Ngoài một bộ phận tinh chiêm học dẫn kết quả quan sát thiên văn hiện đại để ứng với kết quả kham dư của mình, quan sát thiên văn nói chung vẫn lấy thực chứng khoa học làm khung lý luận. Bởi vậy nên nói rằng lý luận tư tưởng của thiên văn học cổ đại có liên quan nhất định với hệ thống tri thức của la bàn phong thủy, còn sự phát triển của tri thức khoa học thì có ảnh hưởng then chốt đối với cả thiên văn học cổ đại lẫn kham dư học.
Thiên văn học cổ đại và kham dư học cùng chung khung lý luận "Âm dương Ngũ hành", nên hình thức trông tương tự nhau. Khi thiên văn học cổ đại thay đổi dưới ảnh hưởng của tri thức khoa học, kham dư học cũng băn khoăn có cần đổi mới hay không mà tiến hành chỉnh lý lại. Việc kham dư học hiện đại có nhiều học phái lý luận phức tạp như vậy hẳn là do quá trình liên tục chỉnh lý ấy mà phân dòng. Lẽ tự nhiên, la bàn kham dư cũng phải ứng theo các lưu phái khác nhau, hình thành những loại tầng bàn và cách dùng khác nhau, thể hiện hệ thống tri thức độc lập của kham dư học.
Loạt bài: Hệ thống tri thức của la bàn phong thủy
- La bàn phong thủy (1): Đề tài, tóm tắt và mục đích nghiên cứu
- La bàn phong thủy (2): Văn hiến về la bàn và phương pháp nghiên cứu
- La bàn phong thủy (3): Nguồn gốc, ba loại la bàn và tầng phương vị
- La bàn phong thủy (4): Quái lệ, tinh tú, Cửu tinh, cách thao tác và dấu ấn thiên văn (bài đang đọc)
- La bàn phong thủy (5): Kết luận, tự đánh giá và tài liệu tham khảo
- La bàn phong thủy (6): Danh mục văn hiến La kinh và bảng phân loại tầng bàn
- La bàn phong thủy (7): Bảng đối chiếu tầng bàn qua các trước tác
Nguồn: Báo cáo đề tài NSC94-2211-E-119-001 (2005–2006) — Khâu Bác Thuấn, Viện Nghiên cứu Kiến trúc và Bảo tồn Cổ tích, Đại học Nghệ thuật Quốc lập Đài Bắc