Đi đến chỗ bế tắc thì phải biết thay đổi, thay đổi rồi mới có đường thông
窮則變,變則通,通則久
Trong 《Chu Dịch · Hệ Từ hạ – 周易·繫辭下》 có câu:
「易窮則變,變則通,通則久。」
Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu.
Nghĩa là: Sự việc đi đến chỗ cùng tận thì phải biến đổi; có biến đổi mới thông; thông rồi mới có thể lâu dài.
Chữ “cùng – 窮” ở đây không phải là nghèo, mà là đi đến chỗ bế tắc, cách cũ đã khó dùng tiếp. Chữ “biến – 變” cũng không phải thay đổi tùy tiện, mà là biết nhìn lại hoàn cảnh rồi điều chỉnh cho phù hợp.
Người học Huyền học rồi cũng có lúc gặp những đoạn như vậy.
Ban đầu ai cũng có một lý do để học.
Có người muốn hiểu Mệnh và Vận của chính mình.
Có người muốn nghiên cứu cổ thư.
Có người thích Kinh Dịch, Can Chi, Lịch pháp.
Có người đi từ Tử Vi, Bát Tự, Lục Hào, Mai Hoa rồi mới dần hiểu rằng phía sau các môn ấy còn cả một nền tảng Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái, Thiên Can, Địa Chi, lịch và thời gian.
Có người học Phong Thủy vì muốn hiểu nhà cửa, mồ mả, hình thế, lý khí.
Có người tìm đến Kỳ Môn Độn Giáp, Trạch Nhật, Tướng Pháp hay các môn dự đoán khác vì nhu cầu riêng.
Có người chỉ học để biết.
Có người muốn nghiên cứu sâu.
Có người sau này mới nghĩ đến chuyện dạy học hay làm tư vấn.
Mỗi mục đích sẽ dẫn đến một con đường khác nhau.
Nếu ngay từ đầu không biết mình học để làm gì, rất dễ học rất nhiều mà vẫn thấy mơ hồ.
Thấy người khác học Tử Vi thì học Tử Vi.
Nghe Bát Tự hay thì chuyển sang Bát Tự.
Thấy Kỳ Môn được nói nhiều lại muốn học Kỳ Môn.
Đọc vài bài về Huyền Không, Đại Quái, Long Môn Bát Cục thấy lạ lại muốn tìm hiểu.
Môn nào cũng biết một chút, sách nào cũng có vài cuốn, nhưng đến lúc cần giải thích một vấn đề thì không biết mình đang đứng trên hệ thống nào.
Cái khó khi ấy chưa chắc do Huyền học quá rộng.
Có khi chỉ vì cách học đang chưa đúng.
Cùng tắc biến.
Đã học một thời gian mà càng học càng rối thì không nhất thiết phải cố nhồi thêm.
Có lúc nên dừng lại để hỏi:
Mình đang học môn này để làm gì?
Phần căn bản đã đủ chưa?
Những thứ đang đọc thuộc cùng một hệ thống hay đang trộn nhiều môn phái?
Câu này là nguyên văn cổ thư, chú giải đời sau hay chỉ là kinh nghiệm truyền miệng?
Điều mình đang tin đã được kiểm chứng chưa?
Chỉ vài câu hỏi như vậy đôi khi đã mở ra một đường khác.
Có người mắc vì học quá nhiều môn cùng lúc.
Có người mắc vì chỉ đọc sách phổ thông mà chưa từng chạm đến văn bản gốc.
Có người lại mắc vì lao ngay vào cổ thư trong khi nền Can Chi, Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái còn chưa chắc.
Có người học rất nhiều lý thuyết nhưng gần như không thực hành.
Có người thực hành rất nhiều nhưng không ghi chép, không đối chiếu, nên kinh nghiệm lâu ngày chỉ còn là cảm giác.
Có người đổi Thầy liên tục.
Có người lại giữ một người Thầy quá lâu dù đã thấy cách học không còn phù hợp.
Cho nên thay đổi cũng phải đúng chỗ.
Nếu thiếu nền thì quay về học nền.
Nếu thiếu nguồn thì tìm lại sách gốc.
Nếu cách giải thích hiện tại chưa đủ thì đọc thêm chú giải khác.
Nếu học một mình quá lâu thì tìm người có thể cùng trao đổi.
Nếu chỉ nghe giảng mà không làm thì bắt đầu thực hành.
Nếu làm nhiều nhưng không biết mình đúng sai ở đâu thì phải xây cách ghi chép và kiểm chứng.
Đó mới là “biến”.
Không phải hôm nay thấy môn này khó thì ngày mai bỏ sang môn khác.
Đổi môn liên tục nhiều khi không phải linh hoạt.
Chỉ là đem sự bế tắc cũ sang một cái tên mới.
Học với Thầy cũng vậy.
Người Thầy có thể giúp mình bớt rất nhiều đoạn đường vòng, nhưng trước khi chọn học ai cũng nên biết mình đang cần gì.
Người mới cần một người dựng nền rõ ràng.
Người đã có nền có thể cần người giúp đọc văn bản sâu hơn.
Người muốn thực hành cần người có kinh nghiệm thực tế.
Người muốn nghiên cứu phải quan tâm đến nguồn, phương pháp, cách kiểm chứng và khả năng phản biện.
Không phải người nổi tiếng nhất sẽ phù hợp nhất với mình.
Cũng không phải học phí cao nhất thì kiến thức chắc chắn tốt nhất.
Điều quan trọng là người dạy có hệ thống hay không, nguồn gốc kiến thức có rõ hay không, cách giải thích có nhất quán hay không, và sau khi học xong mình có tự đi tiếp được hay vẫn phải phụ thuộc vào từng câu trả lời của Thầy.
Sách cũng vậy.
Không phải sách nhiều là tốt.
Có giai đoạn chỉ cần vài cuốn thật sự quan trọng, đọc chậm và đọc kỹ còn hơn mua đầy giá mà mỗi cuốn chỉ lật vài trang.
Có cuốn dùng để học căn bản.
Có cuốn dùng để tra cứu.
Có cuốn chỉ đáng tham khảo.
Có cuốn phải đặt trong bối cảnh một môn phái nhất định.
Có cuốn mang tên cổ nhưng nội dung lại xuất hiện rất muộn.
Đọc sách cũng phải biết phân loại.
Nếu một con đường đọc mãi không thông, có khi cần đổi từ đọc ngang sang đọc theo vấn đề.
Gặp một khái niệm thì lần theo nó qua nhiều văn bản.
Gặp một khẩu quyết thì tìm xem nó xuất hiện sớm nhất ở đâu.
Gặp hai cách giải thích khác nhau thì chưa vội chọn bên nào, trước hết xem mỗi cách dựa trên nền tảng gì.
Nghiên cứu đến đó mới bắt đầu có đường.
Thực hành lại là một cửa khác.
Một môn dự đoán không thể chỉ học bằng cách thuộc công thức.
Tử Vi cần lá số.
Bát Tự cần mệnh cục và vận trình.
Lục Hào, Mai Hoa cần quẻ thực tế.
Kỳ Môn cần những trường hợp cụ thể để nhìn cách cục vận hành.
Phong Thủy cần đi thực địa, nhìn hình thế, phương vị, thời gian, người sử dụng.
Tướng Pháp càng không thể chỉ nhìn vài hình ảnh rồi kết luận.
Lịch pháp và Trạch Nhật lại đòi hỏi tính toán, đối chiếu thời gian rất cẩn thận.
Mỗi môn có một cách thực hành khác nhau.
Không thể dùng một kiểu học cho tất cả.
Có người đọc tốt nhưng thực hành yếu.
Có người quan sát thực tế rất tốt nhưng lý thuyết rời rạc.
Có người nhớ khẩu quyết nhanh nhưng chưa hiểu nguyên lý.
Không sao.
Biết chỗ nào yếu thì sửa chỗ đó.
Kết quả tốt là thu hoạch.
Kết quả chưa tốt cũng là dữ liệu.
Một lần luận đúng chưa chứng minh được phương pháp đúng.
Một lần luận sai cũng chưa đủ để phủ định cả hệ thống.
Phải xem sai ở đâu.
Sai dữ liệu đầu vào?
Sai cách lập cục?
Sai cách hiểu?
Sai vì dùng một quy tắc ngoài phạm vi của nó?
Hay chính phương pháp ấy cần xem lại?
Nếu không phân tích như vậy, thực hành nhiều năm vẫn có thể chỉ là lặp lại.
Đi lâu rồi mới thấy, giờ bay không chỉ nằm ở số lượng trường hợp đã gặp, mà ở số lần mình chịu quay lại xem mình đã làm đúng hay sai ở đâu.
Có người làm hàng nghìn trường hợp nhưng cách làm vẫn như ngày đầu.
Có người làm ít hơn nhưng mỗi lần đều ghi chép, đối chiếu, sửa phương pháp.
Hai kiểu kinh nghiệm ấy rất khác nhau.
Rồi đến một lúc sẽ xuất hiện câu hỏi khác:
Có làm nghề hay không?
Không phải ai học Huyền học cũng cần trở thành người tư vấn.
Có người học để nghiên cứu.
Có người học vì sở thích.
Có người dùng một phần kiến thức hỗ trợ công việc khác.
Có người thực sự phù hợp với nghề tư vấn và dạy học.
Nếu muốn làm nghề thì lại phải học thêm những thứ sách chuyên môn chưa chắc dạy.
Cách nghe người khác nói.
Cách đặt câu hỏi.
Cách phân biệt điều mình chắc với điều mình chỉ đang phỏng đoán.
Cách nói một vấn đề xấu mà không làm người nghe hoảng sợ.
Cách biết lúc nào nên từ chối một trường hợp vượt quá khả năng.
Cách giữ giới hạn giữa tư vấn và quyết định thay người khác.
Cách lưu lại trường hợp để kiểm chứng mà vẫn tôn trọng chuyện riêng của khách.
Đó cũng là một phần của nghề.
Có kiến thức chưa chắc đã làm nghề được.
Biết luận chưa chắc đã biết tư vấn.
Biết tư vấn chưa chắc đã biết dạy.
Biết dạy chưa chắc đã biết nghiên cứu.
Mỗi con đường cần một năng lực khác.
Bởi vậy, gặp chỗ bế tắc không nhất thiết phải nghĩ mình không phù hợp với Huyền học.
Có khi chỉ là mình đang đứng sai chỗ.
Người thích nghiên cứu sâu nhưng cứ ép mình phải đi tư vấn nhiều sẽ mệt.
Người rất mạnh trong thực hành nhưng bắt mình viết theo kiểu học thuật có thể gặp khó.
Người hợp dạy nhập môn chưa chắc phù hợp với nghiên cứu văn bản cổ.
Biết mình mạnh ở đâu cũng là một cách để “biến tắc thông”.
Con đường nghề nghiệp cũng không đứng yên.
Có thời gian nhận nhiều khách để tích lũy trường hợp.
Có thời gian cần giảm bớt để đọc lại.
Có giai đoạn nên dạy.
Có giai đoạn phải quay về nghiên cứu.
Có lúc nên mở rộng sang môn khác vì đã có đủ nền.
Có lúc phải dừng học thêm để làm cho chắc những gì đã biết.
Không phải lúc nào học thêm cũng là tiến bộ.
Có lúc tiến bộ chính là bỏ bớt.
Bỏ một hướng không còn giá trị.
Bỏ một cách giải thích đã kiểm chứng thấy không ổn.
Bỏ một thói quen chỉ thích nghe thứ phù hợp với điều mình đã tin.
Bỏ cả mong muốn phải biết tất cả các môn.
Huyền học rộng đến mức một người học cả đời cũng không thể đi hết.
Biết chọn mới đi sâu được.
Trong nguyên văn có một ý rất đáng giữ:
Nước chảy không tranh xem giọt nào đi trước, điều quan trọng là dòng nước chảy mãi.
Việc học cũng vậy.
Không cần năm nào cũng học thêm một môn mới.
Không cần tháng nào cũng phải có một phát hiện lớn.
Không cần lúc nào cũng chứng minh mình đang tiến nhanh hơn người khác.
Có thời gian chỉ đọc lại một bộ sách.
Có thời gian chỉ kiểm chứng một vấn đề.
Có năm chủ yếu dành cho công việc và gia đình, việc nghiên cứu đi chậm lại.
Không sao.
Đi đường dài không phải lúc nào cũng đi nhanh.
Người đi được lâu thường là người biết lúc nào cần tiến, lúc nào phải chậm, lúc nào nên nghỉ, lúc nào phải đổi cách.
「變則通,通則久。」
Biến tắc thông, thông tắc cửu.
Thay đổi được thì đường mới thông.
Đường thông rồi mới đi được lâu.
Cái cần giữ không phải mọi kiến thức mình từng học.
Cũng không phải mọi phương pháp mình từng dùng.
Cái cần giữ là sự nghiêm túc với việc học, sự trung thực với điều mình biết và chưa biết, khả năng kiểm chứng, và sự tỉnh táo để nhận ra khi nào con đường hiện tại cần điều chỉnh.
Còn học môn nào, học ai, đọc sách gì, dùng công cụ gì, thực hành bằng cách nào, có làm nghề hay không, làm nghề đến mức nào, những thứ ấy hoàn toàn có thể thay đổi theo từng giai đoạn.
Đó không phải mất phương hướng.
Nếu biết rõ mình đang thay đổi vì điều gì, nhiều khi đó chính là lúc phương hướng bắt đầu rõ hơn.
「易窮則變,變則通,通則久。」
Con đường nào rồi cũng có đoạn mắc.
Quan trọng không phải chưa từng bế tắc.
Mà là đến lúc bế tắc, mình còn đủ bình tĩnh để nhìn lại:
Mình đang học để làm gì?Cách này còn phù hợp không?Nếu không, cần thay đổi ở đâu?
Trả lời được ba câu ấy, nhiều khi đường đã bắt đầu mở rồi.
Bài cùng tuyển tập
Đây là bài 22/51 trong tuyển tập Học và làm nghề tư vấn Huyền học.
- Bài trước: Tự tri giả minh, tri túc giả phú
- Bài sau: Quân tử chi giao đạm nhược thủy