Mười hai mục cuối: B1–B4, Long Biên, Cổ Loa, các nêm xanh và hành lang sông Hồng, sông Đuống, nơi một con sông không thể là một thủy cục.
Phần này khép lại việc khảo sát từng phân khu, theo cùng nguyên tắc đã nêu ở đầu mục 8, với mười hai mục cuối: bốn khu nội đô mở rộng, đô thị Long Biên, các nêm xanh phía Đông Bắc – Đông Nam và hai hành lang sông Hồng, sông Đuống.
8. Khảo sát các phân khu theo hình thế và sự chuyển vận (tiếp)
| TT | Mã | Tên và phạm vi | Phương chủ đạo | Vận tinh cơ sở (Vận 9 / 1 / 2) |
|---|---|---|---|---|
| 27 | B1 (H2-1) | Nội đô mở rộng – Tây Hồ/Từ Liêm | Tây Bắc (Tây/Trung cung) | 1 / 2 / 3 |
| 28 | B2 (H2-2) | Nội đô mở rộng – Cầu Giấy/Từ Liêm/Hà Đông | Tây (Tây Nam/Trung cung) | 2 / 3 / 4 |
| 29 | B3 (H2-3) | Nội đô mở rộng – Thanh Xuân/Hoàng Mai/Hà Đông | Nam (Tây Nam/Trung cung) | 4 / 5 / 6 |
| 30 | B4 (H2-4) | Nội đô mở rộng – Hoàng Mai/Hai Bà Trưng | Đông Nam (Nam/Trung cung) | 8 / 9 / 1 |
| 31 | N10 | Đô thị Long Biên | Đông (Đông Bắc/Đông Nam) | 7 / 8 / 9 |
| 32 | GN(A) | Trung tâm TDTT ASIAD và nêm xanh | Đông Bắc (Đông) | 3 / 4 / 5 |
| 33 | GN(B) | Cây xanh, công viên, nêm xanh nam KCN Đông Anh | Bắc (Đông Bắc) | 5 / 6 / 7 |
| 34 | GN(C) | Nêm xanh nam sông Cà Lồ | Bắc (Đông Bắc) | 5 / 6 / 7 |
| 35 | GN(ĐB) | Di tích thành Cổ Loa | Đông Bắc (Đông) | 3 / 4 / 5 |
| 36 | GS(D) / GN(D) | Nêm xanh Đông S5 – khu vực Đông Mỹ, Thanh Trì | Đông Nam (Nam) | 8 / 9 / 1 |
| 37 | R(1–5) | Hành lang xanh hai bên sông Hồng | Liên cung (Tây Bắc/Bắc/Đông/Nam) | Không cố định |
| 38 | R(6) | Hành lang xanh hai bên sông Đuống | Liên cung (Đông Bắc/Đông/Đông Nam) | Không cố định |
27. B1 (H2-1) – Nội đô mở rộng – Tây Hồ/Từ Liêm
B1 nối vùng Tây Hồ – Từ Liêm với phía Tây Bắc và lõi đô thị, chịu ảnh hưởng đồng thời của Hồ Tây, sông Hồng, các đường hướng tâm và khối kiến trúc mới. Dù gần vùng nước lớn, B1 trên vòng La kinh chủ yếu nghiêng về Tây Bắc, có phần giao trung cung và phương Tây, nên trong Vận 9 cần phân rõ nguồn nước nào thực sự nằm ở phương Bắc của từng vị trí. Các giao điểm giữa đường lớn, hồ và khu dân cư là chỗ đáng theo dõi nhất. Sang Vận 1, chỉ phần thuộc Khảm được đặt lại quan hệ Chính – Linh; phần thuộc Càn giữ nguyên tắc phân cung riêng (Càn nhận vận tinh 2 ở Vận 1 và 3 ở Vận 2).
28. B2 (H2-2) – Nội đô mở rộng – Cầu Giấy/Từ Liêm/Hà Đông
B2 trải dài từ phía Tây vào sát trung tâm, gồm không gian xây dựng dày đặc, khu chung cư và mạng đường lớn. Hình dạng trải rộng khiến việc chọn Đoài làm cung chủ đạo chỉ có giá trị tra cứu sơ bộ; tác động Phong thủy ở đây phụ thuộc chủ yếu vào tương quan cao tầng – đường – khoảng mở, vốn thay đổi mạnh qua từng đợt phát triển. Trong Vận 9, cần chia B2 theo nhóm ô phố, xác định những nơi giao với Khôn và với trung cung; đến Vận 2, phần thực thuộc Khôn mới trở thành đối tượng so sánh theo Chính thần.
29. B3 (H2-3) – Nội đô mở rộng – Thanh Xuân/Hoàng Mai/Hà Đông
B3 trải về Nam – Tây Nam, trong miền đô thị hóa có mạng kênh thoát nước, sông Nhuệ, các vùng hồ và đất thấp. Phần thực thuộc phương Nam là đối tượng khảo sát theo Ly Chính thần trong Vận 9, nhưng đê, bờ mương, đường nâng cốt và khối nhà mới đều có thể làm biến đổi sa thủy từng trạch, nên cần theo dõi kỹ cao thấp và thủy cục. Những đoạn nghiêng Tây Nam phải tách riêng. Sang Vận 1, Ly thành Linh thần và thủy cục cần khảo sát lại; đến Vận 2, phần Tây Nam cần thêm một lớp khảo sát với Khôn Chính thần.
30. B4 (H2-4) – Nội đô mở rộng – Hoàng Mai/Hai Bà Trưng
B4 nằm về Đông Nam – Nam, nơi cao độ nền, hồ nước, tuyến tiêu thoát và mật độ đô thị dày đặc ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan. Dãy vận tinh 8, 9, 1 của Tốn phải đặt cạnh dữ liệu thực như hướng nước và độ mở đường phố, không thay được yếu tố thoát úng. Trong Vận 9, cần đặc biệt chú ý cửa ngõ Đông Nam, hệ thống tiêu thoát nước, cao độ mặt đường và tác động của bê tông hóa. Các đoạn giao Tốn – Ly phải phân cung theo ranh thực tế khi xét sự chuyển đổi Chính – Linh giữa Vận 9 và Vận 1.
31. N10 – Đô thị Long Biên
Long Biên chịu tác động rất khác nhau từ sông Hồng ở một phía và sông Đuống ở phía kia; hai trục sông, các tuyến đê và hệ thống cầu tạo nên những hướng mở chính của đô thị. Khu ven sông, khu giáp đường dẫn cầu và khu nằm sâu bên trong có hình thế khác nhau, nên trong Vận 9 cần tách N10 thành các dải bám sông, các ô giáp cầu và các khu nội đô, khảo sát theo từng đoạn bờ, từng trục giao thông. Tên cung Chấn và vận tinh số 7 không đủ để đánh giá; với từng công trình, phải định lại hướng khí và mặt nước thực thay vì lấy phương Đông của cả thành phố làm tọa hướng.
32. GN(A) – Trung tâm TDTT ASIAD và nêm xanh
GN(A) gồm không gian thể thao ASIAD và nêm xanh, tiếp giáp các khu N8–N9 ở phía Đông Bắc. Công năng đất, khoảng trống và khối công trình ở đây có thể thay đổi khác nhau theo từng dự án. Khảo sát Vận 9 cần tách đất công trình thể thao khỏi công viên và hành lang xanh, theo dõi cách chúng cùng đường lớn tạo nên hình thế mới trong tương quan với mặt nước và bờ sông. Phần giáp ranh Đông Bắc – Đông phải kiểm tra trên bản đồ có tọa độ, vì đến Vận 2 chỉ phần thực thuộc Cấn mới đối chiếu được với Linh thần.
33. GN(B) – Cây xanh, công viên, nêm xanh nam KCN Đông Anh
GN(B) là khu cây xanh, công viên và nêm xanh phía nam khu công nghiệp Đông Anh, được tách riêng trong chú giải gốc; mã này được giữ nguyên vì một nguồn thứ cấp đã ghi trùng thành GN(A). Vai trò thực tế của nó là tạo khoảng mở giữa công nghiệp và dân cư, có ý nghĩa với đường gió, tầm nhìn và khả năng thoát nước, nên không phân tích như một phân khu nhà ở. Trong Vận 9, cần chú trọng ranh công nghiệp – cây xanh – đô thị, các hồ và tuyến tiêu nước; sang Vận 1, quan hệ Chính – Linh của phương Bắc có thể dùng để đối chiếu lại hình thế.
34. GN(C) – Nêm xanh nam sông Cà Lồ
GN(C) là dải nêm xanh gắn với sông Cà Lồ ở phía Bắc bản đồ, nổi bật ở yêu cầu giữ hành lang nước và không gian thoát lũ. Với phép Linh thần Vận 9, sự hiện diện của nước mới chỉ là điểm khởi đầu; còn phải xác định đê, hướng dòng, cốt nền, khoảng lùi bảo vệ, mức độ mở của hành lang và sự tương tác với các khu N5–N7. Khi Khảm thành Chính thần ở Vận 1, yêu cầu bảo vệ hành lang sông và việc quản lý thủy lợi, đê điều vẫn giữ nguyên.
35. GN(ĐB) – Di tích thành Cổ Loa
Thành lũy, vòng hào và các vùng mặt nước Cổ Loa là cấu trúc cảnh quan lịch sử. Hào thành không đồng nhất với sông lớn: chức năng phòng thủ, quá trình bồi lấp và chỉnh trang đã làm thế nước thay đổi qua thời gian, và điều đó phải được xét trước khi gán cho khu này một vận tinh của cung Cấn. Ưu tiên trong Vận 9 là ghi nhận thực địa thành, hào, trục đường, những khoảng mở quanh thành và ranh bảo tồn, đồng thời phân biệt phần thuộc Cấn với phần giao Chấn. Các nhận định Phong thủy không thay thế nghĩa vụ gìn giữ di sản.
36. GS(D) / GN(D) – Nêm xanh Đông S5 – khu vực Đông Mỹ, Thanh Trì
Ký hiệu vùng xanh phía Đông S5 chưa thống nhất ngay trên ảnh: bảng chú giải ghi GS(D), nhãn trên bản đồ là GN(D); cả hai được giữ cho tới khi có hồ sơ gốc đối chiếu. Dải này nằm ở vùng Đông Nam – Nam, gần các hành lang nước và khu Đông Mỹ, Thanh Trì; ranh kéo dài nên xếp trọn vào Tốn hay Ly đều có thể sai. Việc trước hết là xác minh ký hiệu và ranh pháp lý, sau đó khảo sát đường nước, cao độ nền và sự khác nhau giữa đất cây xanh, sông với các khối xây dựng lân cận. Chỉ khi có tọa độ mới tách được đoạn thuộc Tốn với đoạn thuộc Ly để đối chiếu tiếp ở Vận 1, Vận 2.
37. R(1–5) – Hành lang xanh hai bên sông Hồng
Sông Hồng là trục thủy lớn nhất trên bản đồ và đi qua nhiều hướng của vòng định phương, nhưng một con sông dài không phải một thủy cục đồng nhất, nên không lập dãy vận tinh chung cho cả năm đoạn. Phải tách các đoạn uốn, hai bờ, bãi giữa, vùng ngoài đê, điểm hợp lưu – phân lưu, cầu và đường dẫn, đồng thời phân biệt hướng dòng chảy với phương vị thân nước nhìn từ mỗi địa điểm. Trong Vận 9, quan hệ Ly – Khảm chỉ là một lớp đối chiếu; việc cần làm là dựng bản đồ tuyến bờ, hệ thống cầu, các đoạn thoát lũ và vùng trũng, rồi mới đối chiếu từng khu đô thị giáp hành lang.
38. R(6) – Hành lang xanh hai bên sông Đuống
R(6) bắt đầu từ chỗ sông Đuống phân lưu khỏi sông Hồng, đi qua các vùng Đông Bắc, Đông và Đông Nam. Dòng sông, bờ đê, khu bãi, cầu vượt và các tiểu vùng đô thị kế cận tạo nên những tình huống sa thủy khác nhau, nên trong Vận 9 cần chia R(6) thành các tiểu đoạn có tọa độ và công năng rõ ràng theo hình thế thực. Sang Vận 2, chỉ những địa điểm thực có thủy ở phương Cấn so với thái cực đang xét mới phù hợp để nghiên cứu theo phép Cấn Linh thần.
Loạt bài: Nghiên cứu 38 phân khu đô thị trung tâm Hà Nội dưới góc nhìn Phong thủy
- 38 phân khu Hà Nội (1): Bản đồ quy hoạch và đại cục núi sông
- 38 phân khu Hà Nội (2): Lập cực, vận bàn và Chính thần – Linh thần qua ba vận
- 38 phân khu Hà Nội (3): Bảng đối chiếu phương vị và thời vận
- 38 phân khu Hà Nội (4): Tám phương và trung cung trong thế núi sông Vận 9
- 38 phân khu Hà Nội (5): Các phân khu bắc sông Hồng
- 38 phân khu Hà Nội (6): Đô thị phía Tây, phía Nam và lõi nội đô lịch sử
- 38 phân khu Hà Nội (7): Nội đô mở rộng, Long Biên, nêm xanh và hai hành lang sông (bài đang đọc)
- 38 phân khu Hà Nội (8): Ba trường hợp đối chiếu và kết luận