Khảo sát mười một phân khu ở Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm: bờ bãi sông Hồng, sông Cà Lồ, đầm Vân Trì và phép Linh thần phương Bắc trong Vận 9.
Sau phần khái quát theo tám phương, nghiên cứu đi vào từng phân khu. Phần này khảo sát mười một mục đầu tiên: các khu đô thị, công nghiệp và nêm xanh phía bắc sông Hồng thuộc Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm.
8. Khảo sát các phân khu theo hình thế và sự chuyển vận
Phần khảo sát giữ đủ 38 mục theo bản đồ. Mỗi khu được xem trước hết ở vị trí địa hình và quan hệ với sông, hồ, đường, đê, vùng cao – thấp; Vận 9 là giai đoạn đối chiếu chủ yếu, còn nhận định cho Vận 1 và Vận 2 chỉ nhằm giữ tầm nhìn dài hạn.
Một nguyên tắc chung áp cho mọi mục dưới đây, nên không nhắc lại ở từng khu: vận tinh cơ sở chỉ là lớp tham chiếu, không dùng để suy cát hung, giá đất hay triển vọng phát triển; phép Chính – Linh chỉ áp cho phần đất thực sự thuộc cung tương ứng; và mỗi công trình vẫn phải lập riêng tọa hướng, thời điểm kiến tạo và trạch vận bàn, có tính đến hồ sơ pháp lý của nó.
| TT | Mã | Tên và phạm vi | Phương chủ đạo | Vận tinh cơ sở (Vận 9 / 1 / 2) |
|---|---|---|---|---|
| 01 | N1 | Đô thị bắc sông Hồng – Mê Linh | Tây Bắc (Bắc) | 1 / 2 / 3 |
| 02 | N2 | Công nghiệp và nêm xanh – Mê Linh | Tây Bắc (Bắc) | 1 / 2 / 3 |
| 03 | N3 | Đô thị bắc sông Hồng – Mê Linh/Đông Anh | Tây Bắc (Bắc) | 1 / 2 / 3 |
| 04 | N4 | Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh | Tây Bắc (Bắc) | 1 / 2 / 3 |
| 05 | N5 | Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh | Bắc (Đông Bắc) | 5 / 6 / 7 |
| 06 | N6 | Công nghiệp và dân cư – Đông Anh | Bắc (Đông Bắc) | 5 / 6 / 7 |
| 07 | N7 | Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh | Bắc (Đông Bắc) | 5 / 6 / 7 |
| 08 | N8 | Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh | Bắc (Đông Bắc) | 5 / 6 / 7 |
| 09 | N9 | Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh/Gia Lâm | Đông Bắc (Đông) | 3 / 4 / 5 |
| 10 | N11 | Đô thị bắc sông Hồng – Gia Lâm | Đông (Đông Nam) | 7 / 8 / 9 |
| 11 | GN | Nêm xanh bắc sông Hồng – Mê Linh/Đông Anh | Tây Bắc (Bắc) | 1 / 2 / 3 |
01. N1 – Đô thị bắc sông Hồng – Mê Linh
N1 nằm ở góc Tây Bắc bản đồ, trong không gian Mê Linh, tựa vào bờ bãi và hành lang sông Hồng. Đất đô thị dự kiến xây dựng xen với vùng bãi, đoạn đê và hệ kênh tiêu: có nơi hướng thẳng ra mặt nước, có nơi bị đường hoặc đê ngăn cách, nên phải chia thành tiểu vùng trước khi đối chiếu. Trong Vận 9, trọng tâm là trục kết nối Tây Bắc – sông Hồng, ranh giữa đô thị và nêm xanh, và những đoạn đường mới có thể làm đổi hướng tiếp cận từng khu đất. Sang Vận 1, phần giao với phương Bắc được xét lại khi Khảm thành Chính thần.
02. N2 – Công nghiệp và nêm xanh – Mê Linh
N2 pha trộn công nghiệp với nêm xanh, nên không đọc được như một trạch ở. Nhà xưởng, kho bãi, đường vận tải nội bộ và dải cây xanh tạo nên những kiểu hình thế khác nhau, lại được xây vào những thời điểm khác nhau. Vận 9 cần làm rõ tác động của đường lớn, mặt nước, độ cao công trình công nghiệp và khoảng xanh ngăn cách. Khi có chỉnh trang hay chuyển đổi công năng, phải đo lại hướng và lập vận trạch mới, không dùng nhận định đại cục.
03. N3 – Đô thị bắc sông Hồng – Mê Linh/Đông Anh
N3 nằm giữa Mê Linh và Đông Anh, ở vùng chuyển tiếp Tây Bắc – Bắc, chịu ảnh hưởng của mạng đường mới, đất nêm xanh và nhiều loại mặt nước. Hạ tầng ở đây được triển khai theo nhiều giai đoạn, nên trong Vận 9 cần lập lại bản đồ đường, bờ đê và cốt nền theo từng dự án, ghi từng mốc hình thành thay vì chụp một hiện trạng duy nhất: thời điểm hoàn thành có thể làm thay đổi sa thủy ngay trước khi chuyển sang Vận 1.
04. N4 – Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh
N4 thuộc Đông Anh, sát hành lang sông Hồng và các tuyến cầu, đường dẫn nối hai bờ. Bãi sông, mặt đê, dân cư trong đê và ngoài đê là những cách cục khác nhau. Vận 9 cần theo dõi bờ sông, cầu mới và các trục hướng tâm nối Đông Anh với nội đô, vì chúng thay đổi khoảng mở và hướng tiếp cận; phần nước nhìn từ mỗi ô đất phải đo theo tâm riêng, không lấy hướng Bắc của cả đô thị.
05. N5 – Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh
N5 nằm ở chính Bắc, nơi phép Linh thần Vận 9 đặt câu hỏi rõ nhất, nhưng phần đất đô thị và các khoảng xanh quanh nó không chung một thủy thế. Muốn luận, cần biết nguồn nước cụ thể ở đâu, có bị đê hay nền cao ngăn cách không, đã hiện hữu hay mới trên quy hoạch. Vùng đồi Sóc Sơn thuộc đại cục phía Bắc, không thay được việc xác định sơn tại từng ô đất. Hồ sơ về mặt nước, đường, khối nhà mới và địa thế nền trong giai đoạn 2024–2043 sẽ là căn cứ so sánh khi Bắc chuyển thành Chính thần ở Vận 1.
06. N6 – Công nghiệp và dân cư – Đông Anh
N6 gồm cả công nghiệp lẫn dân cư, ở vùng Bắc giao Đông Bắc. Nhà xưởng quy mô lớn, khu ở, dải xanh GN(B) và mặt đường tạo nên những cấu trúc sa thủy không giống nhau; gộp chúng vào một nhận định là bỏ qua loại công trình, tọa hướng và thời điểm kiến tạo, những điều kiện căn bản của trạch bàn Phi Tinh. Vận 9 cần nhận diện vùng cao thấp và khoảng trống giữa khu công nghiệp với khu dân cư, nhất là khi nhà xưởng mở rộng hoặc đường mới được làm. Những ô thuộc cung Cấn sẽ tách riêng khi có ranh giới chính xác.
07. N7 – Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh
N7 là một trong những phân khu phía Bắc đáng đối chiếu với phép Linh thần Vận 9, nhưng nằm ở bắc sông Hồng không có nghĩa là được "Bắc thủy". Quan hệ giữa sông Cà Lồ, sông Thiếp, đầm Vân Trì và hệ thống thoát nước phải xác định theo ranh từng tiểu khu. Nên ghi lại những thay đổi của trục Bắc – Cổ Loa – sông Hồng và các khoảng xanh còn giữ được giữa khu ở, dựa trên ảnh hiện trạng nhiều thời điểm thay vì một bản đồ quy hoạch tĩnh.
08. N8 – Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh
N8 nằm gần bờ Bắc sông Hồng, giáp không gian xanh và di tích phía Cổ Loa; ranh giới kéo dài từ Bắc sang Đông Bắc. Điểm then chốt là phân biệt khu đất thực sự hướng ra sông với khu quay vào lõi đô thị: hai trường hợp này khác nhau về minh đường, hướng nước và cách lập Sơn tinh – Hướng tinh. Trong Vận 9, khu gần nước phải khảo sát bờ và đê thực tế; khu nằm sâu bên trong thì xét đường, khối nhà và quan hệ với dải xanh GN(ĐB).
09. N9 – Đô thị bắc sông Hồng – Đông Anh/Gia Lâm
N9 ở vùng Đông Bắc, nơi các hành lang của sông Hồng, sông Đuống và không gian Cổ Loa gặp nhau. Hướng cầu, tuyến đê, hồ đầm và hào thành tạo nên những loại hình thủy khác nhau, nên đây là nơi thích hợp để nghiên cứu quan hệ giữa thủy tự nhiên và mạng đường đô thị mới. Trong Vận 9, cần phân đoạn bờ, xác định từng trục giao thông và ranh đất di sản, cây xanh; đến Vận 2, đoạn thực thuộc Cấn mới được đối chiếu theo Linh thần Đông Bắc.
10. N11 – Đô thị bắc sông Hồng – Gia Lâm
N11 thuộc phía Đông, tiếp giáp không gian Gia Lâm và vùng hạ lưu sông Đuống; sông, đê và các tuyến giao thông xuyên vùng chi phối cách tổ chức khối công trình. Cần tách nơi bám sông khỏi các ô nằm sâu trong đô thị, rồi mới xét Chấn hay Tốn. Ranh Chấn – Tốn và những ô có đường dẫn mới đáng chú ý nhất trong Vận 9, vì chỉ một thay đổi hướng tiếp cận cũng làm khác tương quan trước – sau của khu đất.
11. GN – Nêm xanh bắc sông Hồng – Mê Linh/Đông Anh
Dải nêm xanh qua Mê Linh và Đông Anh là bộ phận cấu trúc không gian, không phải khu đô thị tập trung, và chức năng cây xanh không có nghĩa là đất có thể chuyển sang nhà ở hay thương mại. Dải này chủ yếu thuộc Tây Bắc, giao với Bắc, tác động đến khoảng thoáng, đường gió, trục nhìn và hình thế của các khu lân cận. Trong Vận 9, GN giúp làm rõ quan hệ thực – hư giữa khối xây dựng và không gian mở; sang Vận 1, những đoạn thuộc Bắc được đối chiếu lại theo Chính – Linh mà chức năng pháp lý của dải xanh không đổi.
Loạt bài: Nghiên cứu 38 phân khu đô thị trung tâm Hà Nội dưới góc nhìn Phong thủy
- 38 phân khu Hà Nội (1): Bản đồ quy hoạch và đại cục núi sông
- 38 phân khu Hà Nội (2): Lập cực, vận bàn và Chính thần – Linh thần qua ba vận
- 38 phân khu Hà Nội (3): Bảng đối chiếu phương vị và thời vận
- 38 phân khu Hà Nội (4): Tám phương và trung cung trong thế núi sông Vận 9
- 38 phân khu Hà Nội (5): Các phân khu bắc sông Hồng (bài đang đọc)
- 38 phân khu Hà Nội (6): Đô thị phía Tây, phía Nam và lõi nội đô lịch sử
- 38 phân khu Hà Nội (7): Nội đô mở rộng, Long Biên, nêm xanh và hai hành lang sông
- 38 phân khu Hà Nội (8): Ba trường hợp đối chiếu và kết luận