Từ dải S1–S5 ngoài Vành đai 4 đến Hồ Tây, Hoàng thành, Hồ Gươm, phố cổ: vì sao vùng gần tâm lại khó phân cung nhất.
Tiếp phần khảo sát từng phân khu theo cùng nguyên tắc đã nêu ở phần trước, phần này đi qua dải đô thị phía Tây và phía Nam Vành đai 4, hệ vành đai xanh nam sông Hồng, rồi vào lõi nội đô lịch sử quanh Hồ Tây, Ba Đình và Hồ Gươm.
8. Khảo sát các phân khu theo hình thế và sự chuyển vận (tiếp)
| TT | Mã | Tên và phạm vi | Phương chủ đạo | Vận tinh cơ sở (Vận 9 / 1 / 2) |
|---|---|---|---|---|
| 12 | S1 | Đô thị phía Tây Vành đai 4 – Đan Phượng/Từ Liêm | Tây (Tây Bắc) | 2 / 3 / 4 |
| 13 | S2 | Đô thị Tây Vành đai 4 – Hoài Đức/Đan Phượng/Từ Liêm | Tây (Tây Nam) | 2 / 3 / 4 |
| 14 | S3 | Đô thị Tây Vành đai 4 – Hoài Đức/Từ Liêm | Tây Nam (Tây) | 6 / 7 / 8 |
| 15 | S4 | Đô thị phía Tây Vành đai 4 – Hà Đông | Tây Nam (Nam) | 6 / 7 / 8 |
| 16 | S5 | Đô thị phía Nam Vành đai 4 – Thanh Trì/Thường Tín | Nam (Đông Nam) | 4 / 5 / 6 |
| 17 | GS | Vành đai xanh, nêm xanh nam sông Hồng | Tây (Tây Nam/Nam) | 2 / 3 / 4 |
| 18 | A6 | Hồ Tây và khu vực xung quanh | Trung cung (Bắc/Tây Bắc) | 9 / 1 / 2 |
| 19 | A1 | Trung tâm chính trị – hành chính Ba Đình | Trung cung (Tây Bắc) | 9 / 1 / 2 |
| 20 | A2 | Hoàng thành Thăng Long – khảo cổ 18 Hoàng Diệu | Trung cung (Đông) | 9 / 1 / 2 |
| 21 | A5 (H1-1) | Hồ Gươm và phụ cận | Trung cung (Đông/Đông Nam) | 9 / 1 / 2 |
| 22 | A3 (H1-1) | Khu phố cổ | Trung cung (Đông) | 9 / 1 / 2 |
| 23 | A4 (H1-1) | Khu phố cũ | Trung cung (Đông/Đông Nam) | 9 / 1 / 2 |
| 24 | A7 (H1-2) | Hạn chế phát triển – Ba Đình | Trung cung (Tây/Tây Nam) | 9 / 1 / 2 |
| 25 | A7 (H1-3) | Hạn chế phát triển – Đống Đa | Trung cung (Nam/Tây Nam) | 9 / 1 / 2 |
| 26 | A7 (H1-4) | Hạn chế phát triển – Hai Bà Trưng | Trung cung (Đông Nam/Nam) | 9 / 1 / 2 |
12. S1 – Đô thị phía Tây Vành đai 4 – Đan Phượng/Từ Liêm
S1 nằm ở phía Tây – Tây Bắc, trong vùng mở rộng đô thị ngoài khu lõi. Hình thế ở đây mang tính tuyến: đường vành đai, các trục xuyên tâm và khu dân cư mới, những thứ có thể biến đổi nhanh hơn chu kỳ 20 năm của một vận. Việc Đoài nhận số 2 ở Vận 9 không phải lý do để coi đất S1 kém giá trị. Trong Vận 9, đáng khảo sát nhất là những nơi tuyến kết nối phía Tây gặp hành lang sông và đất xanh, cùng các nút giao có thể làm đổi đường vào và minh đường. Qua Vận 1, Vận 2, cần dùng cùng một hồ sơ vị trí và giữ nguyên điểm lập cực để so sánh.
13. S2 – Đô thị Tây Vành đai 4 – Hoài Đức/Đan Phượng/Từ Liêm
S2 thuộc dải đô thị hóa phía Tây, nơi mạng vành đai – hướng tâm cùng hệ kênh, sông Nhuệ và các hồ điều hòa làm nên cấu trúc không gian. Trong Vận 9, những thay đổi về trục Tây – Đông, mặt đường, cốt nền, vị trí mặt nước và chiều cao công trình có thể khiến các lô trong cùng S2 nhận đường, nước và sa hình rất khác nhau, nên phải chia nhỏ khi nghiên cứu sâu. Dãy vận tinh 2, 3, 4 của Đoài không thay được việc đánh giá vùng trũng và chất lượng thoát nước.
14. S3 – Đô thị Tây Vành đai 4 – Hoài Đức/Từ Liêm
S3 ở vùng giao Tây – Tây Nam, nơi khu đô thị mới chuyển tiếp sang các dải xanh. Xa trong đại cục là vùng đồi gò phía Tây Hà Nội, nhưng trong phạm vi S3 thì phải khảo sát mặt đất, nước mặt, tuyến đường và cốt nền thực tế. Kiến trúc ở đây có thể hình thành rất nhanh trong Vận 9, nên cần đo tỷ lệ phần thuộc Đoài và phần thuộc Khôn, theo dõi ranh đô thị – nêm xanh và các vùng nền cao thấp phía Tây Nam. Đến Vận 2, khi Khôn thành Chính thần, chính dữ liệu sa thủy tích lũy được mới là căn cứ để xét lại.
15. S4 – Đô thị phía Tây Vành đai 4 – Hà Đông
S4 kéo dài trên rìa Tây Nam xuống gần phương Nam, nên một phương chủ đạo không phản ánh hết ranh giới. Mạng đường mới, các khu ở mở rộng và việc chuyển đổi sử dụng đất có thể làm thay đổi lớn hình thế. Đáng chú ý nhất là các đoạn giao Khôn – Ly, nơi đường mới và khối xây dựng làm đổi nền cao, khoảng thoáng và hướng tiếp cận; cần phân diện tích theo hai cung trước khi nhận định chi tiết. Sang Vận 2, chỉ phần thực thuộc Tây Nam mới đưa vào phép so sánh với Khôn Chính thần.
16. S5 – Đô thị phía Nam Vành đai 4 – Thanh Trì/Thường Tín
S5 trải về phía Nam, trên đất đồng bằng thấp, nơi hệ kênh, sông tiêu thoát quyết định nhiều đến xây dựng. Đất trong đê, dải ven sông, đoạn có hồ điều hòa và đất đã nâng cốt là những điều kiện khác nhau trong cùng một khu. Vận 9 xét Ly là Chính thần, nhưng khối cao tầng mới xây chưa phải "sơn" theo nghĩa đủ để kết luận cát hung. Phần giao Đông Nam với dải xanh GS(D)/GN(D) cần tách riêng và đối chiếu với nguy cơ ngập, quy hoạch thoát nước. Sang Vận 1, khi Nam thành Linh thần, thủy hệ phía Nam đô thị cần được khảo sát lại cùng diễn biến thực của công trình và dòng chảy.
17. GS – Vành đai xanh, nêm xanh nam sông Hồng
GS là mạng vành đai xanh, nêm xanh phía nam sông Hồng, phân bố qua nhiều khu vực chứ không thành một ô đất, nên không gán được một vận tinh chung. Phần phía Tây xét theo Đoài, đoạn Tây Nam theo Khôn, đoạn xuống phía Nam theo Ly, tùy vị trí và tính chất sử dụng đất. Giữ hành lang xanh và thay đổi hình thế bên trong nó là hai vấn đề khác nhau, cả về quy hoạch lẫn Phong thủy. Trong Vận 9, đáng chú ý là vai trò của các khoảng trống, hồ và kênh nước trong cấu trúc đô thị đã xây dựng.
18. A6 – Hồ Tây và khu vực xung quanh
Mặt nước lớn của Hồ Tây chi phối cảnh quan lõi đô thị, nhưng không quy được về một hướng Bắc hay Tây Bắc duy nhất: nhà ở bờ Đông nhìn nước về phía Tây, nhà ở bờ Tây nhìn nước về phía Đông, còn các vị trí phía Nam lại có tương quan khác. Cần xét riêng từng tuyến bờ, đường vòng hồ, khối nhà ven hồ, các khoảng mở, các giới hạn bảo tồn cảnh quan và mối liên hệ lịch sử với sông Tô Lịch. Đặt thái cực phụ cho từng khu ven hồ có thể cho phương vị khác hẳn so với vòng tham chiếu toàn đô thị.
19. A1 – Trung tâm chính trị – hành chính Ba Đình
A1 có chức năng và quy chế quản lý không gian đặc thù, không đánh giá được như một khu đô thị thương mại. Vì nằm sát điểm lập cực, phân cung bằng mắt ở đây có sai số lớn; thay vì gán một vận tinh cho toàn khu, nên nhận diện trục không gian, minh đường, mảng cây xanh, độ cao kiến trúc và quan hệ giữa công trình với quảng trường, đường phố. Điều đáng nghiên cứu trong Vận 9 là sự ổn định và biến đổi có kiểm soát của cấu trúc không gian trung tâm.
20. A2 – Hoàng thành Thăng Long – khảo cổ 18 Hoàng Diệu
Lõi thành từng có những gò nền và núi đất được nhắc đến trong tư liệu, trong đó có núi Nùng gắn với khu điện Kính Thiên; hình thế ấy đã biến đổi mạnh qua nhiều lần kiến thiết. Chính khoảng cách giữa địa mạo lịch sử và địa hình hiện hữu là đề tài Loan đầu cần khảo cứu ở đây, thay vì coi chữ "núi" trong văn hiến là sơn tự nhiên còn nguyên trạng. Trong Vận 9, việc khảo sát nên tập trung vào cảnh quan, trục tiếp cận và các giới hạn bảo tồn đang có hiệu lực; khảo cứu Phong thủy chỉ bổ sung góc nhìn, không thay thế yêu cầu khảo cổ và bảo vệ di sản.
21. A5 (H1-1) – Hồ Gươm và phụ cận
Hồ Gươm gắn với lịch sử đổi dòng ở khu vực sông Hồng và quá trình hình thành phố thị. Hồ, phố và các trục tiếp cận hợp thành một cấu trúc trong đó phương vị của nước thay đổi theo từng chỗ đứng, nên không thể coi cả A5 là một thủy cục chỉ vì nó nằm gần trung cung. Vận 9 cần theo dõi các bờ hồ, đường ven hồ, độ mở của quảng trường, trục phố và khoảng mở trong giới hạn cảnh quan bảo tồn. Các trạch ven hồ cũng không cùng đổi vận theo một cách khi sang Vận 1, Vận 2.
22. A3 (H1-1) – Khu phố cổ
Phố cổ có mật độ xây dựng cao, mạng ngõ hẹp và cấu trúc đô thị mang giá trị lịch sử. Ở đây, chỉnh trang, yêu cầu phòng cháy chữa cháy và việc mở rộng lối tiếp cận tác động trực tiếp đến minh đường, đường khí và thế công trình, nhưng không đồng đều giữa các tuyến phố; vì thế không thể gọi A3 là "vượng" hay "suy" chỉ vì khu này lệch về phía Đông so với tâm bản đồ. Trong Vận 9, cần so sánh trước và sau các đợt chỉnh trang ở từng tuyến: hướng đường, bề rộng ngõ, chiều cao hai bên, lối thoát hiểm và khoảng trống trước nhà.
23. A4 (H1-1) – Khu phố cũ
Khu phố cũ có tương quan mặt phố – sân vườn – công trình khác với phố cổ A3. Vì nằm gần tâm, A4 có thể đổi cung khi đổi thái cực tham chiếu. Nội dung khảo sát chủ yếu là sự bảo tồn các trục phố, thay đổi cao độ, khối nhà xen cấy và tác động của chỉnh trang hạ tầng. Nhiều công trình ở đây xây qua nhiều thời kỳ, nên không thể lấy mốc năm 2024 để đồng loạt coi là trạch vận Vận 9; điều then chốt là phân biệt sửa chữa thông thường với những thay đổi đủ để xác lập lại vận theo pháp môn áp dụng.
24. A7 (H1-2) – Hạn chế phát triển – Ba Đình
Khu hạn chế phát triển ở Ba Đình tiếp giáp lõi chính trị – lịch sử và nhiều tuyến phố dân cư hiện hữu. Nằm sát thái cực, chỉ một xê dịch nhỏ khi chọn tâm cũng làm đổi cung của nhiều ô đất; còn chức năng hạn chế phát triển và điều kiện cải tạo hạ tầng thì ảnh hưởng thực tế lớn hơn nhiều so với số sao. Vận 9 cần khảo sát từng tuyến ngõ, đường tiếp cận và khả năng chỉnh trang có căn cứ pháp lý, rồi mới đánh giá mức thay đổi của minh đường, sa hình ở từng nhà.
25. A7 (H1-3) – Hạn chế phát triển – Đống Đa
Phần ở Đống Đa trải từ khu lõi về Nam – Tây Nam: có ô vẫn gần trung cung, có ô đã chạm vùng Ly hoặc Khôn, nên ranh giữa các cung phải kiểm tra kỹ. Đường mới mở, khối nhà thay đổi dọc trục và hệ thống sân – ngõ bên trong khi chỉnh trang là những yếu tố trực tiếp làm biến đổi hình thế từng trạch. Trong Vận 9, chỉ phần thực thuộc Ly mới đặt vào bài toán Chính thần phương Nam; sang Vận 1, các đoạn ấy cần đối chiếu lại trên bản đồ hiện trạng đã cập nhật.
26. A7 (H1-4) – Hạn chế phát triển – Hai Bà Trưng
Phần ở Hai Bà Trưng nằm nơi lõi nội đô tiếp giáp Đông Nam – Nam, và cho thấy rõ giới hạn của phép luận cấp phân khu: hai dãy phố sát nhau, cùng mã quy hoạch, vẫn có thể khác hướng mở, cao độ nền và vị trí mặt nước. Áp Ly Chính thần của Vận 9 cho cả khu sẽ suy rộng quá mức; phải khảo sát mạng đường và kiến trúc hiện hữu trước, rồi mới xác định phần nào thuộc Ly, phần nào thuộc Tốn. Phần thuộc Tốn nhận vận tinh 9 ở Vận 1, khi Cửu Tử đã qua thời đương vận. Trong Vận 9, cần ghi nhận các thay đổi lớn về tuyến phố và khối tích công trình, nhất là nơi giáp vùng mở rộng B4.
Loạt bài: Nghiên cứu 38 phân khu đô thị trung tâm Hà Nội dưới góc nhìn Phong thủy
- 38 phân khu Hà Nội (1): Bản đồ quy hoạch và đại cục núi sông
- 38 phân khu Hà Nội (2): Lập cực, vận bàn và Chính thần – Linh thần qua ba vận
- 38 phân khu Hà Nội (3): Bảng đối chiếu phương vị và thời vận
- 38 phân khu Hà Nội (4): Tám phương và trung cung trong thế núi sông Vận 9
- 38 phân khu Hà Nội (5): Các phân khu bắc sông Hồng
- 38 phân khu Hà Nội (6): Đô thị phía Tây, phía Nam và lõi nội đô lịch sử (bài đang đọc)
- 38 phân khu Hà Nội (7): Nội đô mở rộng, Long Biên, nêm xanh và hai hành lang sông
- 38 phân khu Hà Nội (8): Ba trường hợp đối chiếu và kết luận