Đi lần lượt từ lõi Ba Đình – Hồ Tây – Hoàn Kiếm ra tám phương, xem núi, sông, hồ thực tế ở mỗi phương đặt cạnh vận bàn ra sao.
Bảng đối chiếu ở phần trước mới cho biết mỗi phân khu nằm ở cung nào. Phần này đi theo chiều ngược lại: lần lượt từng phương và trung cung, xem thế núi sông thực tế ở đó ra sao, với trọng tâm là Vận 9.
7. Tám phương và trung cung trong thế núi sông Hà Nội – trọng tâm Vận 9
Bảng dưới tóm lược các nhóm phân khu và dãy vận tinh cơ sở của từng phương, theo đúng các mục trình bày tiếp sau.
| Phương | Các phân khu chính | Vận tinh cơ sở (Vận 9 / 1 / 2) |
|---|---|---|
| Trung cung | A1–A7: Ba Đình, Hồ Tây, Hoàn Kiếm và lõi nội đô lịch sử | 9 / 1 / 2 |
| Bắc – Khảm | N5, N7, một phần N6, N8 và GN(C) | 5 / 6 / 7 |
| Đông Bắc – Cấn | N9, GN(A), GN(ĐB), một phần Đông Anh – Gia Lâm | 3 / 4 / 5 |
| Đông – Chấn | N10 và các vùng giao N9, N11, R(6) | 7 / 8 / 9 |
| Đông Nam – Tốn | B4, N11 và các dải xanh giao Nam | 8 / 9 / 1 |
| Nam – Ly | B3, S5, phần B4, A7 và S4 | 4 / 5 / 6 |
| Tây Nam – Khôn | S3, S4 và dải chuyển tiếp B2–B3 | 6 / 7 / 8 |
| Tây – Đoài | S1, S2, B2 và những đoạn GS phía Tây | 2 / 3 / 4 |
| Tây Bắc – Càn | N1–N4, GN và B1 | 1 / 2 / 3 |
Trung cung – Ba Đình, Hồ Tây, Hoàn Kiếm và lõi nội đô lịch sử
Các khu A1–A7 hội tụ quanh tâm của vòng phân hướng, nhưng chính vùng lõi lại có hình thế phức tạp nhất. Hồ Tây và Hồ Gươm là hai mặt nước khác nhau về lịch sử hình thành lẫn quy mô; sông Tô Lịch cùng các dấu tích dòng chảy cũ gắn chặt với cấu trúc Thăng Long; trong khu Hoàng thành từng có các gò, nền cao và núi đất như núi Nùng, nay không thể coi là sơn lớn hiện hữu. Trên vận bàn cơ sở Vận 9, Cửu Tử nhập trung, nhưng việc đánh giá lõi đô thị phải bắt đầu từ hồ, trục đường, các không gian bảo tồn và thế kiến trúc quanh từng ô phố. Trung cung của vòng quy chiếu không thay được thái cực riêng của mỗi di tích, khu phố hay ngôi nhà.
Bắc – Khảm: N5, N7, một phần N6, N8 và GN(C)
Phương Bắc nổi bật trong phép luận Linh thần Vận 9, nhưng hình thế thực ở phía Bắc trung tâm gồm nhiều tầng. Xa hơn là vùng đồi Sóc Sơn liên hệ với hệ núi Tam Đảo; còn trong phạm vi bản đồ 38 phân khu chủ yếu là đồng bằng Đông Anh, Mê Linh, những dải nêm xanh, bờ bãi và sông Cà Lồ. Không thể lấy núi Sóc làm sơn trực tiếp cho mọi lô đất phía Bắc, cũng không thể coi cả phương Bắc là một mặt nước. Cần khảo sát từng đoạn sông Cà Lồ, sông Thiếp, đầm Vân Trì, nền cao thấp và các tuyến đê, rồi xác định phương vị của thủy từ từng điểm lập cực. Sang Vận 1, Khảm trở thành Chính thần theo phép đang xét; khi ấy hình thế phải được đo lại trên cảnh quan thực tế, chứ không chỉ đổi tên gọi của phương.
Đông Bắc – Cấn: N9, GN(A), GN(ĐB), một phần Đông Anh – Gia Lâm
Ở Đông Bắc, điểm đáng chú ý là sự chuyển tiếp giữa đất đô thị mới, di sản Cổ Loa và những dòng nước, hồ đầm phía Bắc sông Hồng. Hệ thống thành lũy, hào nước Cổ Loa là hình thế lịch sử, cần xét độc lập với các quy tắc đô thị mới. Vùng đồi Sóc Sơn và xa hơn là Tam Đảo thuộc đại cục rộng, không nằm trọn trong các khu N9, GN(A) hay GN(ĐB). Qua Vận 9, Vận 1 và Vận 2, cung Cấn lần lượt nhận vận tinh cơ sở 3, 4, 5; đến Vận 2 mới xuất hiện cặp Khôn Chính thần – Cấn Linh thần trong cách luận này. Muốn khảo sát thủy thế khi đó, trước hết phải xác định mặt nước thực, không suy từ tên cung Cấn.
Đông – Chấn: N10 và các vùng giao N9, N11, R(6)
Phía Đông nổi bật với Long Biên – Gia Lâm nằm giữa sông Hồng và sông Đuống. Sông Đuống phân lưu từ sông Hồng, tạo thành một hành lang thủy lớn; hai bờ, những đoạn uốn lượn và các cây cầu vượt sông làm thay đổi không gian mở của khu vực. Trong Vận 9, điều đáng quan sát là mạng đường, tuyến đê, bờ bãi và hướng tiếp cận mặt nước của đô thị mới. Cung Chấn lần lượt nhận 7, 8, 9 qua ba vận, nhưng số 9 xuất hiện ở Vận 2 không có nghĩa Cửu Tử đang đương vận; đó chỉ là kết quả phi bố. Không có căn cứ xếp hạng sự phát triển của Long Biên chỉ dựa vào dãy số này.
Đông Nam – Tốn: B4, N11 và các dải xanh giao Nam
Phần Đông Nam có nhiều vùng trũng, ao hồ và tuyến thoát nước dẫn về các hệ sông phía hạ lưu. Đây là nơi cần quan sát cốt nền, hệ tiêu úng, nước mặt, hướng dòng và sự thay đổi khối công trình khi các khu dân cư mới hình thành. Các dải B4, N11, GS(D)/GN(D) nằm ở những tiểu vùng khác nhau, không chung một thủy cục. Vận tinh tại Tốn qua ba vận là 8, 9, 1; các con số này chỉ nên dùng làm lớp tham khảo sau khi đã xác định ranh Tốn – Ly và những yếu tố địa hình kiểm chứng được.
Nam – Ly: B3, S5, phần B4, A7 và S4
Phía Nam của vòng định phương là vùng đồng bằng đô thị mở rộng, gắn với các hệ sông và kênh tiêu như Tô Lịch, Kim Ngưu, Nhuệ cùng những vùng ao hồ, đồng trũng. Trong Vận 9, Ly là Chính thần theo nguyên vị Cửu Tử, nên cách khảo sát hình cao – thấp, thực – hư ở đây có ý nghĩa nhất định. Tuy vậy, "sơn" ở đồng bằng không thể thay bằng số lượng tòa cao tầng: cần phân biệt gò nền tự nhiên, khu đất nâng cốt, đê, công trình lớn và khả năng tạo thế chắn, thế tụ trong từng tiểu vùng. Sang Vận 1, Ly chuyển thành Linh thần, trong khi phần lớn hệ thống sông và đường vẫn kế thừa giai đoạn trước. Vì vậy việc so sánh phải dựa trên cùng một địa điểm và cùng một tiêu chuẩn hình thế.
Tây Nam – Khôn: S3, S4 và dải chuyển tiếp B2–B3
Tây Nam là vùng chuyển tiếp từ đô thị đồng bằng ra khu vực đồi gò và các lưu vực sông phía Tây. Ở đại cục Hà Nội, Ba Vì – Tản Viên là khối sơn đáng chú ý về phía Tây, Tây Nam; song khối núi ấy nằm ngoài ranh 38 phân khu, không thể mặc nhiên coi là hậu chẩm hay sơn ứng cho từng ô đất ở Hoài Đức, Hà Đông. Trong phạm vi phân khu phải khảo sát cao độ nền, sông Đáy, sông Nhuệ và các hồ, kênh gần vị trí thực tế. Vận 9 là giai đoạn quan sát quá trình đô thị hóa và biến đổi sa thủy; đến Vận 2, khi Khôn trở thành Chính thần, hồ sơ đã tích lũy về hình thế cao – thực của từng nơi sẽ có giá trị đối chiếu.
Tây – Đoài: S1, S2, B2 và những đoạn GS phía Tây
Phía Tây đô thị trung tâm là vùng mở rộng giữa các đường vành đai, đường hướng tâm và các dải xanh. Xa hơn trong đại cục là miền đồi gò và núi Ba Vì, nhưng trong vòng quy hoạch phần lớn vẫn là đất đồng bằng đang chuyển đổi công năng, có sông Nhuệ, kênh tiêu và các hồ nhân tạo. Vấn đề của Vận 9 ở đây nằm ở sự thay đổi trục đường, ranh nước, cốt nền và hình khối đô thị. Vận bàn cơ sở đặt 2, 3, 4 tại Đoài qua ba vận; dãy số này không diễn đạt mức độ phát triển, càng không thay được phân tích dòng chảy, ngập úng hay khả năng sử dụng đất.
Tây Bắc – Càn: N1–N4, GN và B1
Phía Tây Bắc thể hiện tương quan giữa dải đô thị Mê Linh – Đông Anh, bờ bãi sông Hồng và cửa ngõ dẫn về miền trung du. Xa hơn theo hệ địa hình rộng có những vùng đồi núi phía Bắc và phía Tây, nhưng trong phân khu cần nhận diện các dòng nước, đê, đường dẫn và những khoảng mở còn lại. Càn nhận vận tinh 1 trên vận bàn Vận 9; sang Vận 1, Nhất Bạch nhập trung và Càn nhận 2. Đây là thay đổi của phép phi bố, không phải dòng sông hay khu dân cư tự đổi tính chất. Các vị trí giáp sông Hồng và vùng nêm xanh cần được nghiên cứu theo từng đoạn bờ và theo phương vị nhìn từ điểm quan sát cụ thể.
Loạt bài: Nghiên cứu 38 phân khu đô thị trung tâm Hà Nội dưới góc nhìn Phong thủy
- 38 phân khu Hà Nội (1): Bản đồ quy hoạch và đại cục núi sông
- 38 phân khu Hà Nội (2): Lập cực, vận bàn và Chính thần – Linh thần qua ba vận
- 38 phân khu Hà Nội (3): Bảng đối chiếu phương vị và thời vận
- 38 phân khu Hà Nội (4): Tám phương và trung cung trong thế núi sông Vận 9 (bài đang đọc)
- 38 phân khu Hà Nội (5): Các phân khu bắc sông Hồng
- 38 phân khu Hà Nội (6): Đô thị phía Tây, phía Nam và lõi nội đô lịch sử
- 38 phân khu Hà Nội (7): Nội đô mở rộng, Long Biên, nêm xanh và hai hành lang sông
- 38 phân khu Hà Nội (8): Ba trường hợp đối chiếu và kết luận