Vấn đề nan giải thứ tư: núi non ngăn cách Hán Thủy và đất Thục khiến hai cánh quân không chi viện được nhau, như trận Tương Phàn năm 219.
Chia quân đã làm mỏng binh lực. Hai cánh quân ở hai đầu núi non còn vấp thêm một trở ngại: tin tức đi không kịp.
Thông tin không thể truyền đạt kịp thời
Theo phương án «Long Trung đối», hai đại quân Bắc phạt từ phía đông và phía tây: một cánh theo lưu vực Hán Thủy tiến lên bắc, một cánh theo đường sạn đạo vượt Kiếm Các và Tần Lĩnh. Giữa họ có núi non ngăn cách, nên trong chỉ huy, điều động và chia sẻ tình báo, hai cánh quân rất dễ rơi vào cảnh ai nấy tự đánh. Thực tế, lúc Quan Vũ bại ở Mạch Thành, Lưu Bị và Gia Cát Lượng đang tại Thành Đô, không cứu kịp; đó chính là một nhược điểm của việc chia quân hai đường.
Thời Tam Quốc, việc thu thập, phân tích và truyền đạt tình báo đều rất lạc hậu, đặc biệt khó trong việc phán đoán thời cơ chiến đấu. «Tam Quốc chí» nhiều lần tán dương mưu thần có tài quyết đoán đúng lúc, đều là những trường hợp dự báo đúng tình hình địch khi không có tình báo đầy đủ. Chẳng hạn «Giả Hủ truyện» chép:
“Giả Hủ khuyên Trương Tú liên hòa với Lưu Biểu. Thái Tổ [Tào Tháo] đem quân đánh Tú; một buổi sớm rút quân, Tú đích thân đuổi theo. Hủ bảo Tú: ‘Không thể đuổi, đuổi ắt thua’. Tú không nghe, tiến binh giao chiến, đại bại trở về. Hủ lại bảo: ‘Mau đuổi nữa, đánh lần nữa nhất định thắng’. Tú tạ lỗi: ‘Không nghe lời ông nên đến nông nỗi này; nay đã bại, sao còn đuổi nữa?’ Hủ nói: ‘Thế quân đã thay đổi, mau đi ắt có lợi’. Tú tin theo, thu quân tan tác đuổi đánh, đại chiến và quả nhiên thắng trở về. Tú hỏi Hủ: ‘Tôi lấy tinh binh đuổi quân rút lui mà ông nói chắc thua; sau lại lấy quân thua đánh quân thắng mà ông nói chắc được. Đều nghiệm như lời ông, tại sao ngược đời mà đúng cả?’ Hủ đáp: ‘Đó là việc dễ biết. Tướng quân tuy giỏi dùng binh nhưng không phải đối thủ Tào công. Quân Tào tuy mới rút, Tào công ắt tự đi đoạn hậu; quân truy kích của ta tuy tinh nhuệ nhưng chủ tướng đã không bằng địch, quân địch lại còn hăng hái, nên biết chắc thua. Tào công đánh tướng quân không có tính toán nào sai, chưa dốc hết sức đã lui, hẳn trong nước có việc. Sau khi phá tướng quân, ông ta ắt khinh binh tiến nhanh; dù để các tướng ở lại đoạn hậu thì những tướng ấy dù dũng cảm cũng không phải đối thủ của tướng quân. Vì vậy, dù dùng bại binh giao chiến cũng chắc thắng’. Tú bèn phục.” [47]
Một ví dụ nữa: năm Kiến An thứ hai mươi hai, Pháp Chính khuyên Lưu Bị xuất binh đánh Hán Trung, nói:
“Tào Tháo một trận khiến Trương Lỗ đầu hàng, bình định Hán Trung, vậy mà không nhân thế ấy để mưu lấy Ba Thục, lại để Hạ Hầu Uyên, Trương Cáp đóng giữ, bản thân vội vã trở về phương bắc. Đó không phải vì trí ông ta không tới hay sức không đủ, nhất định là bên trong có điều lo nguy bức bách. Nay xét tài lược Uyên, Cáp không bằng các tướng nước ta; đem quân tới đánh ắt thắng. Ngày thắng trận, mở mang nông nghiệp, tích lương, xem xét sơ hở, chờ đợi thời cơ: trên có thể lật đổ giặc thù, tôn phù hoàng thất; giữa có thể dần chiếm Ung, Lương, mở rộng cương thổ; dưới có thể cố giữ nơi hiểm yếu, tính kế lâu dài. Đó gần như trời đem cho ta, không thể bỏ lỡ thời cơ”. Tiên chủ cho kế ấy là hay, bèn dẫn tướng tiến quân Hán Trung, Pháp Chính cũng theo. Năm thứ hai mươi bốn, Tiên chủ từ Dương Bình vượt Hán Thủy về phía nam, men núi dần tiến, lập doanh ở Định Quân, Hưng Thế. Hạ Hầu Uyên mang quân tới tranh đất. Chính nói: “Có thể đánh rồi”. Tiên chủ lệnh Hoàng Trung từ trên cao đánh trống hò reo xông đánh, đại phá quân Uyên, Uyên và những người khác bị chém đầu. Tào công thân đi đánh về phía tây, nghe kế của Chính bèn nói: “Ta vốn biết Huyền Đức không tự có được kế ấy, ắt có người chỉ cho”. [48]
Những trường hợp ấy đều cho thấy khả năng dựa vào tin tức hạn chế mà dự đoán chính xác tình hình địch, từ đó nắm thời cơ chiến đấu, đánh bại địch. Nhưng phương án Bắc phạt của «Long Trung đối» lại chia quân làm hai đường, một theo lưu vực Hán Thủy, một theo sạn đạo vượt Kiếm Các, Tần Lĩnh, đường sá chia cắt, tin tức không thông, vì thế cần tới hai đại quân sư có thể dựa vào lượng thông tin hạn chế để phán đoán chiến sự, nắm thời cơ. Huống chi hai cánh quân tự đánh, tự chiếm đất, thu dân đinh, trưng tập tiếp tế, nguồn lực chiến tranh giữa hai phía khó lưu chuyển. Nếu một phía xảy ra biến cố, cánh còn lại chắc khó phản ứng và cứu viện nhanh chóng. Như vậy tài nguyên chiến tranh vốn đã ít và yếu của Thục Hán lại bị dàn trải trên nhiều nơi, phân tán sức lực, khó có sự điều độ phù hợp nhất.
Nhìn hai chiến trường đông và tây của Thục Hán năm Kiến An thứ hai mươi bốn (219): cánh quân phía tây đóng tại Hán Trung từ mùa đông năm Kiến An thứ hai mươi hai (217), từ tháng tư năm thứ hai mươi ba giao chiến tại Dương Bình Quan với các tướng Ngụy Hạ Hầu Uyên, Trương Cáp, Từ Hoảng..., hai bên thắng thua đan xen. Đến tháng năm năm thứ hai mươi bốn, Tào Tháo dẫn quân rút về, chiến sự Hán Trung mới tạm chấm dứt. Trong thời đại vũ khí lạnh, thể lực quân sĩ rất quan trọng, y học lại chưa phát triển; tướng sĩ dù thiện chiến đến đâu, sau các năm chinh chiến liên tục thân thể ít nhiều đều tổn thương. Vì vậy một chiến dịch kéo dài một hai năm rồi thì cần có thời gian nghỉ ngơi chỉnh đốn, nếu không chiến lực và sĩ khí khó duy trì; quân đội huấn luyện tốt đến đâu cũng chán đánh trận, tức là tình trạng “quân già, binh mệt”. Cho nên lúc này Lưu Bị đưa quân về Thành Đô nghỉ ngơi, không trực tiếp điều đại quân sang chiến trường Kinh Châu, chỉ phái một số quân chưa trải trận mạc quá lâu để phối hợp Quan Vũ, là việc tự nhiên. «Tam Quốc chí – Thục thư – Lưu Phong truyện» chép:
“Năm Kiến An thứ hai mươi bốn, [Tiên chủ] lệnh Mạnh Đạt từ Tỷ Quy tiến lên bắc đánh Phòng Lăng; Thái thú Phòng Lăng Khoái Kỳ bị quân Đạt giết. Đạt sắp tiến đánh Thượng Dung, Tiên chủ ngầm lo Đạt khó một mình gánh việc, bèn phái Lưu Phong từ Hán Trung theo dòng Miện Thủy xuôi xuống thống lĩnh quân Đạt; hai người hội tại Thượng Dung. Thái thú Thượng Dung Thân Đam dẫn quân đầu hàng, đưa vợ con và tông tộc đến Thành Đô. Tiên chủ phong thêm Đam làm Chinh Bắc tướng quân, vẫn lĩnh Thượng Dung thái thú, tước Viên Hương hầu như cũ, cho em Đam là Thân Nghi làm Kiến Tín tướng quân, thái thú Tây Thành; thăng Lưu Phong làm Phó quân tướng quân. Từ khi Quan Vũ vây Phàn Thành và Tương Dương, liên tiếp gọi Phong, Đạt đưa quân giúp. Phong và Đạt viện cớ các quận miền núi vừa quy phục, chưa thể gây xáo động, không nghe lệnh Vũ. Đúng lúc Vũ thất bại, Tiên chủ căm giận họ. Lưu Phong lại bất hòa, tranh cãi với Mạnh Đạt, chẳng bao lâu Phong cướp đội nhạc nghi trượng của Đạt. Đạt vừa sợ bị trị tội, vừa oán Phong, bèn dâng biểu từ biệt Tiên chủ, đem quân mình theo hàng Ngụy. Ngụy Văn Đế quý tư chất, tài năng và dáng vẻ Đạt, phong làm Tán kỵ thường thị, Kiến Vũ tướng quân, Bình Dương đình hầu. Gộp ba quận Phòng Lăng, Thượng Dung, Tây Thành thành Tân Thành quận, cho Đạt lĩnh thái thú Tân Thành; sai Chinh Nam tướng quân Hạ Hầu Thượng, Hữu tướng quân Từ Hoảng cùng Đạt đánh Lưu Phong.” [49]
Có thể chứng minh hai lực lượng phối hợp với Quan Vũ lúc ấy: một là quân của Thái thú Nghi Đô Mạnh Đạt, nhìn đường hành quân từ Tỷ Quy lên phía bắc đánh Phòng Lăng thì rõ là chưa trải trận Hán Trung, đáng coi là lực lượng mới; hai là quân con nuôi Lưu Phong, từ Hán Trung theo dòng Hán Thủy xuôi xuống phía nam. Sau khi hai cánh hợp lại, Lưu Phong thống lĩnh quân Mạnh Đạt, tiếp tục đánh lấy Thượng Dung. Xét toàn bộ ý đồ tác chiến của Lưu Bị, rõ ràng muốn phối hợp Quan Vũ từ thượng lưu và hạ lưu Hán Thủy đánh kẹp Tương Dương–Phàn Thành. Nhưng Quan Vũ chờ mãi không thấy quân cứu viện từ Thượng Dung, Phòng Lăng tới, nhiều lần thúc giục vẫn không thành, đành rút quân phòng bị Tôn Ngô ở Kinh Châu đưa ra tiền tuyến. Trần Trí Bình trong «Tam Quốc sử thoại» viết:
“Thực ra thất bại của Quan Vũ, nguyên nhân chính dĩ nhiên do Lã Mông tập kích Giang Lăng; còn một nguyên nhân nữa là Lưu Phong, Mạnh Đạt không tới cứu. Quan Vũ quyết đánh Tương, Phàn là vì Lưu Phong, Mạnh Đạt đã chiếm ba thành Thượng Dung, Tây Thành, Phòng Lăng, khống chế thượng lưu Hán Thủy. Quan Vũ từ Nam Quận Bắc phạt, định đồng thời với Lưu, Mạnh tiến binh, dùng thế công gọng kìm lấy Tương, Phàn. Đến khi Phàn Thành giao chiến dữ dội, không ngờ quân Lưu, Mạnh mãi không tới. Quan Vũ nhiều lần thúc giục, Lưu và Mạnh viện cớ: ‘Các thành miền núi mới lấy, nhân tâm chưa quy phục, không thể tự ý rời đi!’, cuối cùng không phát một quân một lính, làm lỡ thời cơ quân sự khiến cục diện chiến trận đổi khác.” [50]

Rõ ràng việc Thượng Dung, Tây Thành, Phòng Lăng không thể kịp thời phát binh phải chịu trách nhiệm lớn về thất bại của Quan Vũ. Quan Vũ tử trận tháng 12 năm 219, Mạnh Đạt hàng Ngụy tháng 7 năm 220, cách nhau hơn nửa năm; xét việc Thục Hán truy cứu trách nhiệm sau trận, hiển nhiên đã trì hoãn quá lâu. Suy nguyên nhân cũng là giao thông không tiện, thậm chí để Tào Ngụy tái chiếm cả ba thành Thượng Dung, Tây Thành, Phòng Lăng mà không thể ứng phó thỏa đáng kịp thời. Tất cả chứng minh giao thông ngăn trở giữa lưu vực Hán Thủy và bồn địa Tứ Xuyên khiến điều động quân sự, chia sẻ tình báo của Thục Hán chậm trễ quá lâu. Do vậy, hai cánh quân đông–tây của Thục Hán phải tự tác chiến, không thể chi viện cho nhau, là vấn đề nan giải thứ tư mà «Long Trung đối» không giải quyết nổi.
Chú thích
- [47] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngụy thư – Giả Hủ truyện», tr. 329.
- [48] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Thục thư – Pháp Chính truyện», tr. 961.
- [49] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Thục thư – Lưu Phong truyện», tr. 991–992.
- [50] Trần Trí Bình, «Tam Quốc sử thoại», tr. 110.
- [51] Dẫn từ Trần Trí Bình, «Tam Quốc sử thoại», tr. 106.
Loạt bài: Bình nghị những khiếm khuyết của Long Trung đối
- Long Trung đối (1): Có thể đổ hết lỗi cho Quan Vũ mất Kinh Châu?
- Long Trung đối (2): Người xưa và học giới hai bờ đã bàn những gì
- Long Trung đối (3): Minh ước với Tôn Ngô không đáng tin cậy
- Long Trung đối (4): Kinh Châu, vùng đất bốn phía có chiến sự
- Long Trung đối (5): Thục Hán vốn ít người, chia hai đường càng mỏng
- Long Trung đối (6): Hai cánh quân cách núi, tin tức không kịp (bài đang đọc)
- Long Trung đối (7): Kinh tế phương Bắc hồi phục nhanh hơn phương Nam
- Long Trung đối (8): Kết luận và tài liệu tham khảo
Nguồn: Phan Bá Niên (潘柏年), Lâm Hiểu Quân (林曉筠), «〈隆中對〉缺失評議», Trung Quốc học thuật niên san (中國學術年刊) số 34, kỳ mùa Thu, 9/2012, tr. 83–112 — Khoa Quốc văn, Đại học Sư phạm Quốc lập Đài Loan