Mở đầu bài nghiên cứu của Phan Bá Niên và Lâm Hiểu Quân: đề yếu, nguyên văn «Long Trung đối» và câu hỏi về trách nhiệm của Quan Vũ.
Loạt bài này là bản dịch tiếng Việt bài nghiên cứu 〈隆中對〉缺失評議 (Bình nghị những khiếm khuyết của Long Trung đối) của Phan Bá Niên (潘柏年) và Lâm Hiểu Quân (林曉筠), đăng trên Trung Quốc học thuật niên san (中國學術年刊) số 34, kỳ mùa Thu, tháng 9/2012, tr. 83–112, do Khoa Quốc văn, Đại học Sư phạm Quốc lập Đài Loan xuất bản (ISSN 1021-7851; nhận bài 28/3/2012, chấp nhận 28/6/2012). Lúc công bố, Phan Bá Niên là trợ lý giáo sư kiêm nhiệm tại Học viện Kỹ thuật Á Đông; Lâm Hiểu Quân là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Quốc văn, Đại học Sư phạm Quốc lập Đài Loan. Bài được chia thành tám kỳ theo đúng bố cục của nguyên tác; chú thích của tác giả giữ nguyên số thứ tự và đặt cuối mỗi kỳ.
Đề yếu
Về thành bại của «Long Trung đối», giới nghiên cứu ở cả hai bờ eo biển Đài Loan đều đã có những bài luận khảo. Các học giả Đài Loan chủ yếu quy trách nhiệm về việc Thục Hán không thể phục hưng nhà Hán cho sự sơ suất của Quan Vũ khiến Kinh Châu thất thủ. Cách nói ấy quá trực quan và đơn nhất, khó tránh khỏi bỏ qua những nhân tố khác. Một số học giả Trung Quốc đại lục đã chú ý tới những khiếm khuyết ngay trong bản thân «Long Trung đối», song các quan điểm đều tập trung vào những trọng điểm riêng, chưa khảo cứu vấn đề một cách toàn diện. Vì vậy, chủ đích của bài viết này là kiểm điểm toàn diện những khiếm khuyết của «Long Trung đối».
Bài viết chủ trương rằng ngay từ đầu «Long Trung đối» đã tồn tại năm vấn đề nan giải không có lời giải; vì vậy, tuy có công tạo nên thế chia ba thiên hạ, lại không có được sự nghiệp định đỉnh, thống nhất. Biết chỗ thành công thì biết chỗ thất bại; biết chỗ thất bại lại càng hiểu rõ chỗ thành công. Thông qua việc xem xét những khiếm khuyết của «Long Trung đối», chúng ta càng có thể nhận ra nhãn quan và trí tuệ trác việt của Gia Cát Lượng: ông có thể hoạch định cho Lưu Bị, người khi ấy chưa có căn cứ địa, một bản thiết kế dựng nước thực sự khả thi, đồng thời dẫn dắt chiều hướng lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng do các hạn chế của hoàn cảnh bên ngoài, việc phục hưng nhà Hán vốn là tìm kiếm một tia cơ hội trong tình thế bất khả; quyết không thể lấy thành bại mà luận anh hùng.
Từ khóa: Long Trung đối; Gia Cát Lượng; Tam Quốc; Thục Hán.
Lời mở đầu
Trong thời đại Tam Quốc, phương án hoạch định chiến lược nổi tiếng nhất, hữu hiệu nhất, thành công nhất hẳn phải là «Long Trung đối» của Gia Cát Lượng. Lưu Bị dựa theo đó đặt nền móng cơ nghiệp, cùng Tào Tháo, Tôn Quyền tạo thành thế chân vạc, cũng xác lập đại thế “thiên hạ chia ba” trong lịch sử và duy trì tình thế ấy hơn nửa thế kỷ. Do vậy, ý nghĩa và giá trị lịch sử của «Long Trung đối» vốn không cần phải bàn thêm.
Bấy giờ, Lưu Bị lần đầu đến Long Trung gặp Khổng Minh, hỏi kế sách đối với thiên hạ rằng: “Nhà Hán đang suy đồi, gian thần chiếm quyền, thiên tử phải chịu cảnh lưu lạc. Ta không tự lượng đức độ và tài sức, muốn làm sáng tỏ đại nghĩa trong thiên hạ, nhưng trí mưu nông cạn nên rốt cuộc lâm cảnh khốn đốn. Dẫu vậy, chí hướng vẫn chưa thôi. Theo tiên sinh, phải tính kế ra sao?” Gia Cát Khổng Minh đáp:
“Từ sau khi Đổng Trác nổi lên, hào kiệt đua nhau khởi binh; kẻ chiếm nhiều châu quận nhiều không đếm xuể. Tào Tháo so với Viên Thiệu, danh thế nhỏ hơn, quân số ít hơn, vậy mà Tháo có thể đánh bại Thiệu, lấy yếu thắng mạnh; ấy không chỉ nhờ thiên thời, mà còn do mưu tính của con người. Nay Tháo đã có trăm vạn quân, khống chế thiên tử để sai khiến chư hầu, thật không thể đối đầu tranh phong. Tôn Quyền chiếm cứ Giang Đông đã trải ba đời, có địa thế hiểm yếu và dân chúng quy phục, người hiền tài chịu làm việc cho ông ta; có thể kết làm viện trợ chứ không thể mưu lấy. Kinh Châu phía bắc dựa vào sông Hán, sông Miện, nguồn lợi phía nam thông tới Nam Hải, phía đông nối Ngô Hội, phía tây thông Ba Thục, là nơi thích hợp để dùng binh, mà người chủ hiện tại lại không giữ nổi. Đó gần như là trời đem nơi ấy giúp tướng quân, tướng quân có ý định chăng? Ích Châu hiểm trở kín lối, ruộng tốt nghìn dặm, đất thiên phủ; Hán Cao Tổ từng dựa vào đó làm nên đế nghiệp. Lưu Chương tối tăm yếu kém, Trương Lỗ ở phía bắc, dân đông nước giàu mà người cầm quyền không biết chăm lo, kẻ trí tài mong có minh quân. Tướng quân đã là hậu duệ hoàng thất, tiếng tín nghĩa vang khắp bốn biển, thu nạp anh hùng, cầu hiền như khát; nếu chiếm giữ cả Kinh Châu và Ích Châu, bảo vệ các nơi hiểm trở, phía tây hòa hiếu với các bộ Nhung, phía nam vỗ về các bộ Di Việt, đối ngoại kết giao tốt với Tôn Quyền, đối nội sửa sang chính trị; khi thiên hạ có biến, sai một thượng tướng chỉ huy quân Kinh Châu tiến tới Uyển, Lạc, còn tướng quân đích thân thống lĩnh quân Ích Châu tiến ra Tần Xuyên, thì dân chúng ai không mang cơm giỏ nước bầu ra đón tướng quân? Nếu quả như vậy, bá nghiệp có thể thành, nhà Hán có thể hưng phục.” [1]
Đường hướng phát triển thời kỳ đầu của Thục Hán đại thể tuân theo ý tưởng này; toàn bộ chiều hướng lịch sử buổi đầu Tam Quốc cũng đi theo bản hoạch định ấy. Nhưng cuối cùng lịch sử dừng ở khâu “thiên hạ có biến”, trước khi Bắc phạt thành công. Về sau, Tào Ngụy dần lớn mạnh; dù bên trong có những cuộc tranh đoạt chính trị, nhiều thế lực địa phương nổi loạn, phù hợp với điều kiện “thiên hạ có biến”, Thục Hán rốt cuộc vẫn không thể phục hưng nhà Hán. Người bình luận phần nhiều đổ trách nhiệm cho Quan Vũ, cho rằng vì Quan Vũ sơ suất đánh mất Kinh Châu, từ đó Thục Hán không còn nắm được Kinh Châu, không thể thực hiện ý tưởng chiến lược trong «Long Trung đối» — chia binh làm hai đường, đồng thời từ hai châu Kinh và Ích tiến lên phía bắc. Sau đó Gia Cát Lượng nhiều lần Bắc phạt, thường khốn đốn vì đường tiếp tế không thông suốt; lương cạn, quân mệt, phải trở về mà không lập công. Người đọc sử thường trách Quan Vũ không nên nóng lòng lập công, mạo hiểm tiến quân để rồi sơ suất mất Kinh Châu, làm lý tưởng của «Long Trung đối» không thể thực hiện.
Thế nhưng, quả thực có thể quy toàn bộ trách nhiệm về thất bại của các cuộc Bắc phạt Thục Hán cho Quan Vũ hay sao? Nếu Kinh Châu không mất, liệu Thục Hán có thực sự dựa vào kế hoạch tiến quân hai đường của «Long Trung đối» mà thống nhất thiên hạ? Mất Kinh Châu là do Quan Vũ quá bất cẩn, hay là hậu quả tất nhiên của tình trạng thiếu binh lực? Trong các cuộc Nam chinh của Tào Tháo, Bắc phạt của Quan Vũ và Tôn Ngô, thống nhất của nhà Tấn, Bắc phạt của Nam triều và cuộc đánh Giang Lăng của Bắc Chu, Kinh Châu đều là chiến trường trọng yếu. Với đất đai mà nhà binh nào cũng phải tranh đoạt như thế, các thế lực đối địch làm sao có thể không có tham vọng với nơi này? Nếu bản thân «Long Trung đối» đã mang khiếm khuyết bẩm sinh, khiến Gia Cát Lượng khi hoạch định đã gặp những trở ngại khó vượt, thì trách nhiệm về việc Thục Hán không thể thống nhất thiên hạ chưa chắc chỉ nằm ở một mình Quan Vũ.
Bài viết này chuyên bàn những khiếm khuyết của «Long Trung đối», không có nghĩa «Long Trung đối» hoàn toàn vô giá trị, càng không phải vì thích hạ thấp cổ nhân. Bởi ưu điểm của «Long Trung đối» đã được nhiều học giả bàn luận, không cần nói thêm; trong khi nguyên nhân không thể thực hiện kế hoạch đến cùng lại thường chỉ được giải thích bằng việc trách cứ Quan Vũ. Do đó, chúng tôi mong có thể khảo xét toàn diện những chỗ khiếm khuyết của «Long Trung đối», qua đó mở ra một góc nhìn mới đối với lịch sử Tam Quốc.
Chú thích
- [1] Trần Thọ đời Tấn, «Tam Quốc chí – Thục thư – Gia Cát Lượng truyện» (Đài Bắc: Đỉnh Văn thư cục, xuất bản lần đầu tháng 10/1976), tr. 912–913.
Loạt bài: Bình nghị những khiếm khuyết của Long Trung đối
- Long Trung đối (1): Có thể đổ hết lỗi cho Quan Vũ mất Kinh Châu? (bài đang đọc)
- Long Trung đối (2): Người xưa và học giới hai bờ đã bàn những gì
- Long Trung đối (3): Minh ước với Tôn Ngô không đáng tin cậy
- Long Trung đối (4): Kinh Châu, vùng đất bốn phía có chiến sự
- Long Trung đối (5): Thục Hán vốn ít người, chia hai đường càng mỏng
- Long Trung đối (6): Hai cánh quân cách núi, tin tức không kịp
- Long Trung đối (7): Kinh tế phương Bắc hồi phục nhanh hơn phương Nam
- Long Trung đối (8): Kết luận và tài liệu tham khảo
Nguồn: Phan Bá Niên (潘柏年), Lâm Hiểu Quân (林曉筠), «〈隆中對〉缺失評議», Trung Quốc học thuật niên san (中國學術年刊) số 34, kỳ mùa Thu, 9/2012, tr. 83–112 — Khoa Quốc văn, Đại học Sư phạm Quốc lập Đài Loan