Công cụ

Long Trung đối (4): Kinh Châu, vùng đất bốn phía có chiến sự

🏷 Nghiên cứu - Tổng hợp ✍ Sơn Chu 🕒 24/10/2026
Long Trung đối (4): Kinh Châu, vùng đất bốn phía có chiến sự

Vấn đề nan giải thứ hai: Kinh Châu là đất mà Ngụy, Ngô, Tấn đều phải tranh; ai giữ nơi này cũng bị kéo vào chiến tranh tiêu hao.

Vấn đề thứ nhất là minh ước với Tôn Ngô không đáng tin. Vấn đề thứ hai nằm ở chính mảnh đất mà Gia Cát Lượng chọn làm căn cứ cho Lưu Bị.

Kinh Châu là vùng đất bốn phía có chiến sự

Vấn đề khó khăn thứ hai của «Long Trung đối» là Kinh Châu, căn cứ Gia Cát Lượng lựa chọn cho Lưu Bị, lại là địa điểm chiến lược then chốt mà Tào Ngụy, Tôn Ngô, Thục Hán, cho đến nhà Tấn của họ Tư Mã sau này, đều dùng làm hướng tác chiến chủ yếu. Trước trận Xích Bích, đường tiến xuống phương nam của Tào Tháo chính là theo Hán Thủy. «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện» đã dẫn trên đây chép rằng khi Tôn Quyền lần đầu đối đáp với Lỗ Túc, phương châm Lỗ Túc hoạch định cho Quyền là “diệt Hoàng Tổ, tiến đánh Lưu Biểu, lấy trọn những nơi Trường Giang vươn tới, chiếm giữ tất cả, sau đó lập đế hiệu để mưu lấy thiên hạ”, [34] cho thấy rõ tham vọng của Tôn Quyền đối với Kinh Châu.

«Tam Quốc chí – Ngô thư – Cam Ninh truyện» cũng có lời tương tự:

“Nay vận nhà Hán ngày càng suy, Tào Tháo càng thêm kiêu căng, cuối cùng sẽ làm kẻ cướp ngôi. Đất Nam Kinh [phía nam Kinh Châu] có núi đồi thế đất thuận tiện, sông ngòi thông suốt, quả thật là địa thế phía tây của nước nhà. Ninh đã quan sát Lưu Biểu, thấy tầm nhìn không xa, con cái lại kém, không phải người có thể nối giữ nền móng cơ nghiệp. Chí tôn nên sớm tính kế lấy nơi ấy, không được để sau Tào Tháo. Muốn lấy nơi ấy, trước hết nên đánh Hoàng Tổ. Tổ nay đã già, rất lú lẫn, tiền của và lương thảo đều thiếu, người bên cạnh lừa dối, chỉ chăm mưu lợi, hà hiếp quan quân khiến họ oán giận; thuyền bè và dụng cụ chiến tranh bị bỏ phế không sửa, biếng nhác việc nông canh, quân đội không có tổ chức kỷ luật. Chí tôn nay tiến đánh ắt phá được. Phá xong quân Tổ thì gióng trống tiến về tây, phía tây chiếm giữ cửa ải nước Sở, thế nước càng rộng lớn, rồi có thể dần mưu lấy Ba Thục.” [35]

Phương châm phát triển do Cam Ninh và Lỗ Túc đề xuất cho Tôn Ngô đều là trước hết lấy Kinh Châu, rồi “dần mưu lấy Ba Thục”, “lấy hết những nơi Trường Giang vươn tới”; cái nhìn hai người đại thể giống nhau.

Về sự coi trọng Kinh Châu của họ Tư Mã, có thể thấy qua bản tấu cuối cùng của Lục Kháng. «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lục Kháng truyện» chép:

“Tây Lăng, Kiến Bình là phên dậu che chắn nước nhà, tuy ở hạ lưu, nhưng phải chịu địch ở hai nơi. Nếu địch thả thuyền xuôi dòng, chiến thuyền nối nhau nghìn dặm, tiến nhanh như sao sa chớp giật, chốc lát đã tới, thì không thể trông cậy quân ở nơi khác tới cứu trong thế nguy cấp ngược treo. Đây là then chốt an nguy xã tắc, không chỉ là chuyện biên giới bị lấn chiếm đôi chút. Xưa phụ thân thần là Lục Tốn ở biên giới phía tây từng dâng lời, cho rằng Tây Lăng là cửa phía tây của nước nhà, tuy nói dễ giữ nhưng cũng dễ mất. Một khi không giữ được, chẳng chỉ mất một quận mà Kinh Châu cũng không còn thuộc Ngô. Nếu nơi ấy gặp nguy, phải dốc toàn lực cả nước mà tranh. Trước đây thần ở Tây Lăng, có thể tiếp nối dấu cũ của phụ thân, từng xin ba vạn tinh binh, nhưng người có trách nhiệm cứ làm theo lệ thường, không chịu điều động tới. Từ sau vụ Bộ Xiển, lực lượng càng hao hụt thêm. Nay địa bàn thần thống lĩnh dài nghìn dặm, chịu địch từ bốn phía; ngoài chống kẻ địch mạnh, trong phải lo hàng trăm bộ Man; quân hiện có từ trên xuống dưới chỉ vài vạn, đã suy yếu lâu ngày, khó ứng phó biến cố. Theo ngu ý của thần, các vương còn nhỏ, chưa cai quản việc nước, nên tạm đặt quan phó, quan tướng để dìu dắt tài chất, không sử dụng binh mã làm lỡ việc quan yếu. Lại còn những hoạn quan trong cung tự lập cơ quan chiếm mộ dân quân, quân và dân oán ghét lao dịch, kẻ trốn tránh đều chui vào cơ quan ấy. Xin đặc chiếu kiểm soát, xét và đưa hết ra để bổ sung cho nơi biên giới thường xuyên gặp địch; làm sao quân do thần thống lĩnh đủ tám vạn, giảm những việc phiền toái, giữ phép thưởng phạt cho đáng tin. Dù Hàn Tín và Bạch Khởi sống lại cũng không nơi thi thố tài khéo. Nếu quân không tăng, chế độ ấy không đổi, mà lại muốn hoàn thành đại sự, đó là điều thần hết sức lo đau. Nếu thần chết, xin đặc biệt phó thác việc phía tây cho người thích hợp. Mong bệ hạ nghĩ kỹ lời thần thì thần chết cũng không phai mất.” [36]

Qua những điều trên, có thể biết Tào Ngụy, Tôn Ngô, Tư Mã Tấn đều hết sức coi trọng Kinh Châu, biến nơi này thành đất mà các bên buộc phải tranh. Vì vậy Lục Kháng chỉ ra khuyết điểm của địa bàn: “tuy nói dễ giữ nhưng cũng dễ mất”; khi chiến tranh thường xuyên thì chỉ còn cách “nếu có nguy phải dốc toàn lực cả nước mà tranh”. Do đó chiếm giữ Kinh Châu lâu dài sẽ gặp cảnh “địa bàn thống lĩnh dài nghìn dặm, chịu địch từ bốn phía; ngoài chống cường địch, trong lo hàng trăm bộ Man; quân hiện có chỉ vài vạn, đã suy yếu lâu ngày, khó ứng biến”. Vấn đề Lục Kháng gặp phải khi kinh doanh Kinh Châu ở cuối thời Tam Quốc vốn đã tồn tại ngay từ đầu thời kỳ ấy. Dù Lưu Biểu hay Lưu Bị nắm giữ Kinh Châu đều phải chịu chiến tranh từ bốn phương tám hướng. Khác nhau chỉ ở chỗ Lục Kháng chủ yếu lo phòng tuyến bắc và tây, còn Lưu Biểu, Lưu Bị chủ yếu lo phía bắc và phía đông; bản chất phòng thủ nhiều hướng, đánh trận liên miên không có gì khác.

Nói cách khác, dù Quan Vũ tăng cường phòng thủ Kinh Châu, không tùy tiện Bắc phạt, chỉ cần Tào Ngụy và Tôn Ngô đều nhắm vào Kinh Châu, mà minh ước Ngô–Thục như đã nói lại không đáng tin, thì để giữ Kinh Châu, sớm muộn Quan Vũ cũng phải đối mặt chiến tranh từ bốn phía, tiêu hao hết tiềm lực chiến tranh của Thục Hán trong những trận đánh liên tiếp. Nay lấy năm Kiến An thứ hai mươi bốn (219), khi Quan Vũ thất bại tử trận, làm mốc, để tính các cuộc đại chiến sau khi Đông Ngô chiếm Kinh Châu:

Năm 222 xảy ra trận Di Lăng, hai bên Ngô–Lưu quyết chiến; sau Di Lăng, Tào Ngụy tiến công ba đường, Hạ Hầu Thượng, Trương Cáp, Từ Hoảng vây Nam Quận. Cuối năm 222, Tôn Thịnh chiếm Trung Châu; đầu năm 223 bị Trương Cáp chiếm lại, tiếp theo hai bên giằng co ở đó. Năm 226, Tôn Ngô và Tào Ngụy đánh nhau tại Giang Hạ, Tương Dương; năm 241 đánh nhau ở Phàn Thành; năm 250 đánh nhau ở Di Lăng, Giang Lăng, Tỷ Quy; năm 252 tại Nam Quận, Vũ Xương; năm 261 có việc tướng Ngô Đặng Du, Lý Quang giả đầu hàng; năm 264, sau khi Thục Hán diệt vong, Lục Kháng về phía tây tranh đất Thục Hán cũ, Tư Mã Chiêu sai Hồ Liệt đánh Tây Lăng, buộc Lục Kháng lui binh; năm 268 lại đánh nhau ở Giang Hạ, Tương Dương; năm 272, tướng Ngô Bộ Xiển hàng Tấn, dẫn tới trận Dương Hỗ và Lục Kháng tranh Tây Lăng; năm 277, tướng Ngô Tôn Thận lại cướp phá Giang Hạ; năm 278, Đỗ Dự mới thay Dương Hỗ đã tập kích Trương Chính, Đốc Tây Lăng; năm 279 nhà Tấn cất đại quân đánh Ngô, trong sáu đường tiến binh thì có ba đường đánh Vũ Xương, Hạ Khẩu, Giang Lăng — chiếm một nửa số đạo quân — trung quân đóng tại Tương Dương, cho thấy Kinh Châu là điểm nút trung tâm. Tháng hai năm 280 quân Tấn chiếm Tây Lăng; tháng ba Tôn Ngô diệt vong. Như vậy chiến sự Kinh Châu gắn liền với quốc vận Tôn Ngô từ đầu tới cuối.

Đó mới chỉ là các trận đánh lớn ở Kinh Châu được «Tư trị thông giám» ghi chép; những xung đột vũ trang thực tế còn nhiều hơn. Hơn nữa, sau Di Lăng, Thục Hán đã không còn sức đông tiến, vậy mà chiến tranh tại Kinh Châu giữa Tôn Ngô và Tào Ngụy vẫn liên tiếp như thế. Chẳng trách Lục Kháng hết sức nhấn mạnh: “Địa bàn thống lĩnh dài nghìn dặm, chịu địch từ bốn phía; ngoài chống cường địch, trong lo hàng trăm bộ Man; quân hiện có chỉ vài vạn, đã suy yếu lâu ngày, khó ứng biến.” Tôn Ngô thời Tam Quốc hậu kỳ phải trả giá cực lớn mới giữ được Kinh Châu. Bởi vậy cho dù Quan Vũ không mất Kinh Châu, Thục Hán muốn giữ được vẫn phải hao phí nhiều nguồn lực chiến tranh. Đây là vấn đề khó tránh của vùng đất chiến lược mà các nhà binh đều phải tranh đoạt.

Lại xét địa thế Kinh Châu từ các khu vực tranh chấp thời Tam Quốc. Trong «Tam Quốc sử thoại» của Trần Trí Bình có bức “Bản đồ địa thế các vùng tranh chấp thời Tam Quốc” (三國糾紛地帶形勢圖), và trong đó khu vực chiến tranh lớn nhất chính là đất Kinh Châu. [37]

Bản đồ địa thế các khu vực tranh chấp thời Tam Quốc
Hình 1. Bản đồ địa thế các khu vực tranh chấp thời Tam Quốc (三國糾紛地帶形勢圖), dẫn từ Trần Trí Bình, «Tam Quốc sử thoại», tr. 95

Địa điểm chiến lược như thế, ai dụng binh cũng phải tranh giành, càng chứng tỏ rằng thế lực nào nắm đất Kinh Châu cũng thường xuyên phải chịu áp lực và sự tàn phá của chiến tranh.

Bất kể ai trấn giữ Kinh Châu, giữ vùng đất phải đánh nhau bốn phía này nhất định phải trả giá rất lớn. Trong bài “Tam phân cát cứ hu trù sách, vạn cổ vân tiêu nhất vũ mao — Bình «Long Trung đối sách» và «Tam phân»”, Đinh Trung Giang viết:

“Liên minh Lưu Bị và Tôn Quyền bị sự việc Quan Vũ giữ Kinh Châu làm ngòi nổ tan vỡ. Quan Vũ là danh tướng, tự coi trọng lòng trung nghĩa, nhưng Lưu Bị ngàn lần không nên, vạn lần không nên sai ông ta trấn Kinh Châu. Người thống soái Kinh Châu phải hiểu ngoại giao, hiểu cách vận dụng, biết lợi dụng mâu thuẫn giữa tập đoàn Tôn Quyền và tập đoàn Tào Tháo: lúc nên nhường thì nhường, lúc nên tranh thì tranh, phải biết linh hoạt phối hợp sách lược, chiến thuật mềm dẻo. Bất hạnh là Quan Vũ tự phụ về trí, cứng đầu độc đoán, không giỏi sự mềm dẻo linh hoạt, mà trái lại đó chính là sở đoản. Sở đoản ấy dẫn tới thất bại ở Mạch Thành; Quan Vũ thất bại khiến liên minh Thục–Ngô tan rã. Gia Cát Lượng tuy hoạch định được đại thế chia ba, lại không nắm được sự biến đổi của thế chia ba, khiến Thục Hán rốt cuộc không thể phục hưng Hán thất. Mưu việc do người, thành việc do trời; ấy là thời, là mệnh!” [38]

Lại như kết luận bài “Từ quan điểm chiến lược luận «Long Trung đối» của Gia Cát Lượng” của Đinh Triệu Cường:

“Tóm lại, «Long Trung đối» của Gia Cát Lượng là ý tưởng chiến lược toàn trình nhằm thống nhất thiên hạ cụ thể nhất, hoàn chỉnh nhất, đồng thời hết sức trác việt trong lịch sử nước ta. Đáng tiếc là trong quá trình thi hành đã bất hạnh xảy ra những sai sót và lỗi lầm nghiêm trọng, khó cứu vãn, khiến cái lợi từ năm điểm được không bù nổi cái hại do bốn điểm mất; trong đó đặc biệt việc mất Kinh Châu là vết thương chí mạng của «Long Trung đối». Nếu không mất Kinh Châu thì đã không có thất bại ở Hào Đình. Hai trận thua ấy làm chiến lực quân Thục giảm rõ rệt, trong bảy năm tiếp theo đều không bổ sung được; nhất là thương vong nhiều danh tướng dày dạn trận mạc, không có người kế tục; mất Kinh Châu lại càng đẩy thế chiến lược Thục Hán vào bất lợi. Nếu lúc ấy thay Quan Vũ bằng Triệu Vân — người dũng mãnh thiện chiến, hiểu binh pháp thao lược, trung trinh giữ chí, vững vàng cân bằng và thấu đại nghĩa — để trấn Kinh Châu, có lẽ «Long Trung đối» còn có hy vọng thành công!” [39]

Đinh Triệu Cường chủ trương thay Quan Vũ bằng Triệu Vân thì Kinh Châu sẽ yên. Nhưng với sự bảo đảm mong manh của liên minh Ngô–Thục, dù có thể tạm hoãn chiến họa Kinh Châu nhờ ngoại giao, về lâu dài do xung đột giữa những mục tiêu cuối cùng của Ngô và Thục vẫn không thể bảo đảm Kinh Châu sẽ không bị kẹt vào chiến tranh hai mặt trận. Thực tế, căn cứ chủ yếu của Lưu Bị là hai châu Kinh, Ích. Thời Tam Quốc, ngay một châu mục cũng có khả năng trở thành thế lực độc lập, huống hồ Kinh Châu tương đương một nửa thế lực Thục Hán. Lưu Bị đã tự lĩnh Ích Châu mục, thì người lĩnh Kinh Châu nhất định phải là nhân vật số hai của tập đoàn. Do đó lúc Lưu Bị vào Thục, ông để Gia Cát Lượng trấn Kinh Châu, Quan Vũ phụ tá; đến khi Bàng Thống tử trận, Lưu Bị triệu Gia Cát Lượng tới bên mình tham mưu, đương nhiên Kinh Châu phải giao cho nhân vật số ba trong tập đoàn là Quan Vũ trấn giữ. Sau khi Tôn Ngô có Kinh Châu, nơi này do Lục Tốn, đại diện tầng lớp sĩ tộc Giang Đông, trấn giữ; tầm quan trọng của cha con Lục Tốn, Lục Kháng trong chính quyền Tôn Ngô đều chứng tỏ người trấn Kinh Châu có địa vị đặc biệt trong tập đoàn.

Tìm hiểu lý do Gia Cát Lượng chọn Kinh Châu, một là đó là cơ hội duy nhất của Lưu Bị, hai là con đường trọng yếu để Bắc phạt. Việc chọn Kinh Châu làm căn cứ là lựa chọn bất đắc dĩ. Bấy giờ Tào Tháo đã phá Viên Thiệu, thế lực hưng thịnh, nhất thời không ai sánh nổi; Lưu Bị chưa hề có căn cứ địa, không thể đứng chân ở Trung Nguyên. Vùng Giang Đông đã qua ba đời Tôn Kiên, Tôn Sách, Tôn Quyền kinh doanh, nền móng vững vàng, Tôn Quyền lại trẻ khỏe, mưu thần võ tướng đều quy phục, nên không còn cơ hội cho Lưu Bị. Nhìn khắp Trung Quốc, chỉ còn Lưu Biểu già sắp mất; sau khi ông ta chết, hai con tranh quyền thừa kế, có lẽ mới có dịp thừa cơ. Vì thế Gia Cát Lượng chọn Kinh Châu có hoàn cảnh bắt buộc của nó.

Sau khi Lưu Bị đánh chiếm Ích Châu, Kinh Châu vẫn còn tác dụng lớn, vì trong chiến tranh cổ đại, tuyến đường tiếp tế thuận tiện nhất là theo sông ngòi, nên chiến tranh Nam–Bắc chủ yếu xảy ra trong lưu vực Hán Thủy và Hoài Hà. Vì thế Thục Hán phải giữ Kinh Châu, đầu mối giao thông dễ tiếp tế và tiến quân. Nhưng cái giá giữ Kinh Châu quá lớn, chiến sự hầu như năm nào cũng có. Chỉ khi Thục Hán tại Kinh Châu giành được những chiến thắng lớn như Xích Bích, Di Lăng — lấy ít thắng nhiều, khiến Tào Ngụy và Tôn Ngô không còn sức dòm ngó — thì mới có khả năng lâu dài chiếm giữ vùng đất bốn bề có chiến sự. Trông đợi điều đó hiển nhiên không thực tế. Huống chi năm 208 Tào Tháo đại bại ở Xích Bích, nhưng năm 222 vẫn nhân lúc Ngô–Thục đại chiến tại Di Lăng mà đưa quân đánh Kinh Châu. Muốn giữ Kinh Châu lâu dài, phải kết thúc mỗi cuộc chiến bằng thắng lợi lớn, không thể lún vào chiến tranh tiêu hao không dứt. Song xét toàn bộ những cuộc chiến xảy ra ở Kinh Châu thời Tam Quốc, phần lớn Kinh Châu là cỗ máy nghiền người trong thế giằng co. Với quốc lực Thục Hán, Lưu Bị chỉ mất bốn vạn quân trong trận Di Lăng đã suy sụp không gượng dậy, thì làm sao chống đỡ được hố sâu tiêu hao không đáy tại Kinh Châu? Chiến tranh Kinh Châu sẽ kéo Thục Hán vào sự tiêu hao bất tận; đó là vấn đề nan giải thứ hai mà «Long Trung đối» không thể giải quyết.

Chú thích

  • [34] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện», tr. 1268.
  • [35] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Cam Ninh truyện», tr. 1292–1293.
  • [36] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lục Kháng truyện», tr. 1359–1360.
  • [37] Dẫn từ Trần Trí Bình, «Tam Quốc sử thoại» (Đài Bắc: Công ty cổ phần Tam Dân thư cục, lần in đầu của bản tái bản lần hai, 11/2008), tr. 95.
  • [38] Đinh Trung Giang (giảng), Đinh Yến Thạch (chỉnh lý), “Tam phân cát cứ hu trù sách, vạn cổ vân tiêu nhất vũ mao — Bình «Long Trung đối sách» và «Tam phân»”, tr. 186.
  • [39] Đinh Triệu Cường, “Từ quan điểm chiến lược luận «Long Trung đối» của Gia Cát Lượng”, tr. 26.

Loạt bài: Bình nghị những khiếm khuyết của Long Trung đối

Nguồn: Phan Bá Niên (潘柏年), Lâm Hiểu Quân (林曉筠), «〈隆中對〉缺失評議», Trung Quốc học thuật niên san (中國學術年刊) số 34, kỳ mùa Thu, 9/2012, tr. 83–112 — Khoa Quốc văn, Đại học Sư phạm Quốc lập Đài Loan

Sơn Chu
Về tác giả

Sơn Chu

Nhà sáng lập & Chủ tịch Học quán Sơn Chu

Nhà sáng lập Học quán Sơn Chu — nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng tinh hoa Cổ học phương Đông.

Hỏi người biết việc

Chuyên gia của Học quán

Đọc xong còn điều muốn hỏi cho rõ? Đặt lịch trực tiếp với chuyên gia của Học quán, hoặc mở hồ sơ để biết họ nhận những môn nào.

Chu Văn Thu

Chu Văn Thu

Trưởng ban CLB Tử Vi Miền Bắc, Ban Nghiên cứu & Tư vấn Học quán Sơn Chu
Chưa có đánh giá
Tử ViKinh DịchTướng Pháp - Phong Thủy
Dương Hoàng Hân

Dương Hoàng Hân

Phó chủ nhiệm CLB Tử Vi Miền Bắc, Ban Nghiên cứu & Tư vấn Học quán Sơn Chu
Chưa có đánh giá
Tử Vi Đẩu SốTướng PhápKinh dịch
Chang Đất

Chang Đất

Giảng viên - Chuyên gia Nghiên cứu và Tư vấn Tử Vi
5.0(1)
Tử ViTarotThần số Pitago
Hoàng Đình Kì

Hoàng Đình Kì

Phó ban CLB Tử Vi Miền Bắc · Ban Nghiên cứu & Tư vấn Học quán Sơn Chu
Chưa có đánh giá
Tử Vi Đẩu SốKinh DịchĐào tạo Huyền học
Muốn học bài bản hoặc cần người xem giúp? Để lại tên và số điện thoại — không cần chọn khoá, không cần chọn thầy. Học quán sẽ liên hệ lại.