Vấn đề nan giải thứ ba: dân số Ngụy–Ngô–Thục chừng 4:2:1, quân Thục chỉ vài vạn, chia hai cánh Bắc phạt thì mỗi cánh càng yếu.
Hai kỳ trước bàn về đồng minh không đáng tin và Kinh Châu, vùng đất bị tranh giành từ bốn phía. Kỳ này xét đến sức người, sức của mà Thục Hán có trong tay.
Nguồn lực Thục Hán càng mỏng yếu khi chia thành hai đại quân
Dân số và thuế khóa của Thục Hán chủ yếu tập trung ở một số thành thị thuộc Kinh Châu, Ích Châu; những vùng thôn dã rộng lớn vẫn chưa phải nơi chính lệnh có thể vươn tới. Xem “Bản đồ thời đại Tam Quốc” trong «Tam Quốc sử thoại» của Trần Trí Bình, càng thấy thành thị trên lãnh thổ Thục Hán đếm được trên đầu ngón tay:

Từ đó có thể nhận ra sức dân và thực lực kinh tế yếu kém của Thục Hán. Từ thống kê của Đinh Phúc Hổ trong bài “Bàn về được mất trong định vị chiến lược «Long Trung đối»”, tỷ lệ dân số Ngụy–Ngô–Thục thời Tam Quốc “xấp xỉ 4:2:1”, đến khi Tây Tấn thống nhất “tỷ lệ dân số ba vùng là 10:2:1”, [41] càng có thể thấy rõ sự thiếu hụt dân số Thục Hán. Kinh tế thời Tam Quốc chủ yếu là nông nghiệp; dân số đông hay ít đại diện cho thực lực kinh tế, đồng thời là cơ sở bổ sung binh sĩ. Hiển nhiên Thục Hán là chính quyền khan hiếm nguồn lực dân số nhất trong ba nước.
Nhưng theo thiết kế chia quân làm hai đường trong «Long Trung đối» của Gia Cát Lượng, mọi nguồn lực chiến tranh đều phải phân đôi: một cánh quân bị tách thành hai bộ phận, đường hành quân lại cách xa nhau, khó chi viện lẫn nhau, không tránh được việc để địch có cơ hội đánh bại từng bộ phận. Sử liệu hiện còn không ghi rõ tổng quân số Quan Vũ Bắc phạt; nhưng Lưu Bị khi báo thù Quan Vũ và dự định đoạt lại Kinh Châu, cái gọi là “đại quân” cũng chỉ bốn vạn người. [42] So với ước tính của Chu Du về quân Xích Bích của Tào Tháo là mười lăm, mười sáu vạn, cộng bảy, tám vạn quân Lưu Biểu đầu hàng, [43] hay năm vạn quân do Lục Tốn chỉ huy đến chống Lưu Bị, [44] lực lượng Lưu Bị thực chẳng đáng kể, huống hồ đây đã là quân đội chuẩn bị gần hai năm. [45] Trong thời kỳ vũ khí lạnh, chênh lệch kỹ thuật không lớn; binh lực, năng lực chỉ huy, tướng và quân quyết định thắng bại. Khéo đến mấy cũng chẳng nấu cơm được nếu không có gạo. Đại quân Lưu Bị đánh Ngô chỉ bốn vạn, có thể hình dung quân lực Quan Vũ lúc Bắc phạt. Chẳng trách Quan Vũ phải huy động toàn bộ binh Kinh Châu bao vây Tương Dương, Phàn Thành: vì quân ít, nếu để lại nhiều quân giữ Giang Lăng, Công An thì lực lượng tiến công không đủ, đánh lâu không hạ được, tiêu hao càng lớn. Nhìn vào quân số trong hai lần Thục Hán đại chiến với Tôn Ngô, quân lực và tài nguyên chiến tranh Thục không đủ sức chống đỡ quy mô chiến tranh hai mặt trận. Chia quân hai đường chỉ trao cho địch cơ hội lần lượt đánh bại từng cánh.
Bùi Tùng Chi trong «Tam Quốc chí chú» còn có câu: “Thừa tướng Gia Cát quả có tài phò tá, nhưng ở nơi cô lập xa xôi, binh sĩ chưa đủ năm vạn.” [46] Không rõ lời ấy có đáng tin không. Nếu đúng thì quân lực toàn Thục Hán chỉ khoảng năm vạn, chia làm hai đường, mỗi cánh chỉ được hai, ba vạn. Như đã biết, khi Thục Hán Bắc phạt, Tào Ngụy chỉ cần dựng phòng tuyến vững, thực hiện vườn không nhà trống, cố thủ thành trì, tìm cơ hội tiêu hao binh lực đôi bên, chờ thời cơ đánh bại từng cánh, thì lực lượng chiến tranh của Thục Hán khó giành được một tấc đất nào, trái lại còn dễ phí phạm vô ích. Bởi năng lực kinh tế đôi bên quá khác nhau, Tào Ngụy chịu nổi tiêu hao về quân số, chiến tướng, thóc gạo, tiền bạc, vật tư; chỉ cần đợi quân Thục tổn thất, mệt mỏi rồi tổng phản công, đánh một trận là định. Đó là bất lợi bẩm sinh của Thục Hán. Nếu còn chia hai cánh thì từng cánh càng mỏng yếu; trong điều động, ắt sẽ thiếu trước hụt sau. Quan Vũ chính là đã điều cả quân lưu giữ hậu phương ra tiền tuyến, mong trong thời gian ngắn nhất phá thành trại, khiến hậu phương trống trải và bị Lã Mông thừa cơ.
Nguồn lực Thục Hán vốn không dồi dào; sau khi chia quân làm hai đường, binh lực mỗi cánh càng mỏng yếu, trong cả tiến công lẫn phòng thủ khó tránh có sơ hở. Đây là vấn đề nan giải thứ ba của «Long Trung đối».
Chú thích
- [40] Dẫn từ Trần Trí Bình, «Tam Quốc sử thoại», tr. 2.
- [41] Đinh Phúc Hổ, “Bàn về được mất trong định vị chiến lược «Long Trung đối»”, tr. 37.
- [42] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngụy thư – Văn Đế kỷ», chú Bùi Tùng Chi dẫn «Ngụy thư»: “Ngày Quý Hợi, Tôn Quyền dâng thư nói: ‘Đảng quân Lưu Bị bốn vạn người, ngựa hai, ba nghìn con, từ Tỷ Quy tiến ra; xin đi quét sạch, lấy chiến thắng làm hiệu quả’”. Vì vậy xác định Lưu Bị có bốn vạn quân trong trận Di Lăng. Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngụy thư – Văn Đế kỷ», tr. 79.
- [43] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Ngô chủ truyện», chú Bùi Tùng Chi dẫn «Giang Biểu truyện»: “Quyền rút đao chém mặt bàn đặt tấu, nói: ‘Tướng lại nào còn dám nói nên hàng Tào Tháo, sẽ như bàn này!’ Đêm tan họp, Chu Du xin gặp: ‘Mọi người chỉ thấy thư Tào Tháo nói có tám mươi vạn thủy bộ binh thì sợ, không xét hư thực mà vội nêu chuyện hàng, thật vô nghĩa! Nay xét thực, lính Trung Quốc Tháo mang theo không quá mười lăm, mười sáu vạn, lại đã mệt vì lâu ngày; quân Lưu Biểu thu được nhiều nhất cũng bảy, tám vạn, còn chưa dứt lòng nghi. Lấy lính mệt yếu điều khiển quân còn nghi hoặc, tuy số đông, chẳng đáng sợ. Có năm vạn tinh binh là đủ chế ngự; xin tướng quân chớ lo’. Quyền vỗ lưng Chu Du: ‘Công Cẩn nói đến đây thật hợp lòng ta. Tử Bố, Văn Biểu và mọi người chỉ lo vợ con, mang mối lo riêng, khiến ta hết sức thất vọng; chỉ khanh và Tử Kính cùng lòng ta, trời sai hai người giúp ta. Năm vạn binh khó tụ ngay, đã tuyển ba vạn, thuyền lương khí giới đủ cả; khanh cùng Tử Kính, Trình công hãy đi trước, ta sẽ đưa người theo và chở nhiều lương làm hậu viện. Khanh có thể làm thì cứ quyết; nếu ngẫu nhiên không được, cứ trở về với ta, ta sẽ cùng Mạnh Đức quyết một trận’.” Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Ngô chủ truyện», tr. 1262.
- [44] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lục Tốn truyện»: “Năm Hoàng Vũ thứ nhất, Lưu Bị dẫn đại quân tới biên giới phía tây, Quyền phong Lục Tốn làm Đại đô đốc, trao phù tiết, chỉ huy năm vạn quân của Chu Nhiên, Phan Chương, Tống Khiêm, Hàn Đương, Từ Thịnh, Tiên Vu Đan, Tôn Hoàn... ra chống”. Đó là căn cứ để biết Lục Tốn có năm vạn quân trong trận Di Lăng. Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lục Tốn truyện», tr. 1346.
- [45] Quan Vũ thất bại tử trận cuối năm 219; Lưu Bị đánh Ngô tháng 7/221, nên suy đoán Lưu Bị chuẩn bị gần hai năm để đoạt lại Kinh Châu.
- [46] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Thục thư – Gia Cát Lượng truyện», tr. 834.
Loạt bài: Bình nghị những khiếm khuyết của Long Trung đối
- Long Trung đối (1): Có thể đổ hết lỗi cho Quan Vũ mất Kinh Châu?
- Long Trung đối (2): Người xưa và học giới hai bờ đã bàn những gì
- Long Trung đối (3): Minh ước với Tôn Ngô không đáng tin cậy
- Long Trung đối (4): Kinh Châu, vùng đất bốn phía có chiến sự
- Long Trung đối (5): Thục Hán vốn ít người, chia hai đường càng mỏng (bài đang đọc)
- Long Trung đối (6): Hai cánh quân cách núi, tin tức không kịp
- Long Trung đối (7): Kinh tế phương Bắc hồi phục nhanh hơn phương Nam
- Long Trung đối (8): Kết luận và tài liệu tham khảo
Nguồn: Phan Bá Niên (潘柏年), Lâm Hiểu Quân (林曉筠), «〈隆中對〉缺失評議», Trung Quốc học thuật niên san (中國學術年刊) số 34, kỳ mùa Thu, 9/2012, tr. 83–112 — Khoa Quốc văn, Đại học Sư phạm Quốc lập Đài Loan