Công cụ

Long Trung đối (3): Minh ước với Tôn Ngô không đáng tin cậy

🏷 Nghiên cứu - Tổng hợp ✍ Sơn Chu 🕒 24/10/2026
Long Trung đối (3): Minh ước với Tôn Ngô không đáng tin cậy

Vấn đề nan giải thứ nhất: Tôn Quyền nuôi chí lấy thiên hạ, ngoại giao chỉ theo lợi ích, nên liên minh Tôn–Lưu sớm muộn cũng đổ vỡ.

Sau phần điểm lại các ý kiến đi trước, hai tác giả bắt đầu trình bày năm vấn đề mà theo họ «Long Trung đối» không thể giải quyết ngay từ đầu. Vấn đề thứ nhất nằm ở đồng minh phía đông.

Năm vấn đề lớn của «Long Trung đối»

Chúng tôi khảo sát các chi tiết của «Long Trung đối» và nghiên cứu những vấn đề khó khăn bên trong, cho rằng bản hoạch định của Gia Cát Khổng Minh vốn có những thế bế tắc không thể giải quyết ngay từ đầu; do đó tuy có công chia ba thiên hạ, rốt cuộc không có sự nghiệp định đỉnh thống nhất. Không hẳn vì mưu tính con người không tốt hay người thực thi sơ suất, mà là vì đại kế Bắc phạt trong «Long Trung đối» chỉ thuộc trạng thái lý tưởng. Nếu không có thiên mệnh và vận may đặc biệt ưu ái thì từ đầu đã không thể thực hiện sự nghiệp lớn là khôi phục nhà Hán, thống nhất thiên hạ. Nay xin chia những vấn đề nan giải của «Long Trung đối» thành năm điểm để luận chứng như sau.

Minh ước với Tôn Ngô không đáng tin cậy

Khó khăn lớn nhất của «Long Trung đối» là minh ước với Tôn Ngô không đáng tin cậy. Trước trận Xích Bích, liên minh giữa hai nhà Tôn và Lưu vốn chỉ là một biện pháp quyền nghi do áp lực bên ngoài. «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện» chép lời Lỗ Túc thuyết phục Tôn Quyền liên kết Lưu Bị chống Tào:

“Đất Kinh Sở liền kề với nước ta, dòng nước xuôi theo hướng bắc, bên ngoài có Trường Giang và Hán Thủy bao bọc, bên trong có núi đồi ngăn giữ, vững chắc như thành đồng; ruộng tốt muôn dặm, sĩ dân đông đúc, giàu có. Nếu chiếm lấy được nơi ấy, đó là cơ nghiệp để làm đế vương. Nay Lưu Biểu vừa mất, hai người con vốn không hòa thuận, tướng lĩnh trong quân chia thành bè phái. Thêm nữa, Lưu Bị là bậc kiêu hùng trong thiên hạ, vốn có mối hiềm với Tào Tháo, đến nương nhờ Lưu Biểu, nhưng Biểu ghét tài năng nên không dùng được. Nếu Lưu Bị cùng họ một lòng, trên dưới đồng thuận, ta nên vỗ về, kết giao đồng minh; nếu có điều bất hòa, phải tính cách khác để hoàn thành đại sự. Tôi xin vâng mệnh sang điếu hai người con Lưu Biểu, thăm hỏi người có thực quyền trong quân, và thuyết phục Lưu Bị thu phục quân dân của Biểu, đồng tâm nhất ý cùng trị Tào Tháo; Bị chắc sẽ vui lòng vâng theo. Nếu việc hòa hợp thành công, thiên hạ có thể định. Nếu không sớm đi, e Tào Tháo sẽ đến trước.” [18]

Từ câu “nếu có điều bất hòa, phải tính cách khác”, có thể thấy trong kế hoạch Lỗ Túc, liên minh với Lưu Bị chỉ là nhu cầu nhất thời. Về sau thời cuộc chuyển đổi, Tôn Ngô vốn vẫn giữ khả năng bội ước.

Trình Dục nước Ngụy cũng nhìn nhận minh ước Tôn–Lưu như vậy, nói: “Tôn Quyền mới lên ngôi, chưa được thiên hạ kiêng nể. Tào công vô địch trong thiên hạ, mới chiếm Kinh Châu, uy danh chấn động vùng Giang Biểu; Tôn Quyền dù có mưu trí cũng không thể một mình chống đỡ. Lưu Bị có danh tiếng anh hùng, Quan Vũ và Trương Phi đều là tướng địch nổi vạn người, Quyền ắt sẽ nhờ họ chống lại chúng ta.” [19] Nói cách khác, nếu không phải Tào Tháo tiến quân Giang Đông, khiến Tôn Ngô khó độc lực chống đỡ, thì hai nhà Tôn và Lưu vốn chẳng cần liên minh. Tuy về sau họ sử dụng những phương thức ngoại giao như kết thông gia, ký thỏa thuận, minh ước vẫn hết sức mong manh. Mấu chốt là Tôn Quyền không thỏa mãn với việc giữ yên một góc, mà sớm có chí hướng lấy thiên hạ. «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện» chép cuộc nói chuyện lần đầu giữa Tôn Quyền và Lỗ Túc, Lỗ Túc nói:

“Xưa Hán Cao Đế một lòng muốn tôn thờ Nghĩa Đế mà không được, vì Hạng Vũ gây cản trở. Tào Tháo ngày nay cũng như Hạng Vũ thuở trước, tướng quân làm sao có thể trở thành Tề Hoàn công, Tấn Văn công? Theo tôi suy đoán, nhà Hán không thể phục hưng, Tào Tháo không thể lập tức trừ diệt. Kế cho tướng quân chỉ có đứng vững ở Giang Đông, thành thế chân vạc, quan sát những rạn nứt trong thiên hạ. Khuôn khổ ấy cũng không có gì phải e ngại. Vì sao? Miền bắc quả thật nhiều việc; nhân lúc họ bận rộn, diệt Hoàng Tổ, tiến đánh Lưu Biểu, lấy trọn những nơi Trường Giang vươn tới, chiếm giữ tất cả, sau đó lập đế hiệu để mưu lấy thiên hạ. Đó chính là cơ nghiệp của Hán Cao Đế.” [20]

Từ câu “sau đó lập đế hiệu để mưu lấy thiên hạ; đó chính là cơ nghiệp của Hán Cao Đế”, có thể biết mục tiêu cuối cùng trong phương châm phát triển do Lỗ Túc hoạch định cho Tôn Quyền không phải giữ yên Giang Đông, mà là dựng một triều đại mới thống nhất cả nước. Tôn Quyền đáp Lỗ Túc bằng lời khiêm tốn: “Nay ta gắng hết sức ở một phương, mong phụ tá nhà Hán mà thôi; những điều ấy không thuộc việc ta nên bàn”, không thẳng thắn công nhận Lỗ Túc đã nói trúng tâm ý. Nhưng đoạn sau có chép: “Quyền không để bụng, càng quý trọng Lỗ Túc, ban cho mẹ Túc quần áo, màn trướng và đồ dùng sinh hoạt, khiến cảnh giàu sang gần như trước.” [21] Nhìn sự trọng đãi ấy có thể thấy trong lòng Tôn Quyền rất tán thưởng hoạch định chiến lược của Lỗ Túc. «Lỗ Túc truyện» lại chép:

“Sau khi Tào công bị đánh bại bỏ chạy, Lỗ Túc trở về trước; Tôn Quyền long trọng mời các tướng đón Túc. Khi Túc sắp vào cửa bái kiến, Quyền đứng dậy đáp lễ và nói: ‘Tử Kính, ta nắm yên xuống ngựa đón khanh, đã đủ làm khanh vinh hiển chưa?’ Túc tiến nhanh đáp: ‘Chưa’. Mọi người nghe đều kinh ngạc. Khi ngồi xuống, Túc thong thả giơ roi nói: ‘Mong đến khi uy đức của Chí tôn phủ khắp bốn biển, bao quát chín châu, hoàn thành đế nghiệp, lại sai xe an xa bánh bọc mềm đến mời Túc về, lúc ấy mới thật là vinh hiển’. Quyền vỗ tay cười lớn.” [22]

Có thể thấy cả Tôn Quyền lẫn Lỗ Túc đều không cam lòng giữ yên miền đông nam, mà đều có chí hướng hướng tới thiên hạ.

Lưu Bị kêu gọi phục hưng nhà Hán, Tôn Quyền lại có tham vọng đối với thiên hạ, vì vậy hai người tồn tại mâu thuẫn căn bản. Trước Xích Bích, việc Tôn Quyền liên minh với Lưu Bị chỉ là nhu cầu tạm thời dưới áp lực của Tào Tháo; bởi vậy khi thế lực Lưu Bị phát triển nhanh, đối thủ giả định của Tôn Ngô chuyển từ Tào Ngụy sang Thục Hán thì minh ước ấy chắc chắn không giữ nổi. Khi Lưu Bị chiếm Hán Trung, Quan Vũ Bắc phạt, uy hiếp Tương Dương–Phàn Thành, tiến dòm ngó Uyển–Lạc, thế lực Thục đạt tới đỉnh cao, Tôn Ngô đã xem Thục Hán thay Tào Ngụy thành mối đe dọa chủ yếu. «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lã Mông truyện» ghi rõ bước ngoặt này:

“Lỗ Túc mất, Lã Mông đóng quân phía tây tại Lục Khẩu, toàn bộ hơn mười nghìn binh mã của Túc đều được giao cho Mông. Mông lại được phong Thái thú Hán Xương, hưởng tô thuế các huyện Hạ Tuyển, Lưu Dương, Hán Xương, Châu Lăng. Cùng Quan Vũ giáp ranh chia đất, Mông biết Vũ dũng mãnh, kiêu hùng, có lòng thôn tính, lại ở thượng lưu nước mình, nên tình thế ấy khó kéo dài. Trước đây Lỗ Túc và những người khác cho rằng Tào công vẫn còn, tai họa vừa nhen nhóm, nên giúp đỡ nhau, cùng chống kẻ thù, không thể bỏ lỡ. Riêng Mông bí mật dâng kế: ‘Nay Chinh lỗ tướng quân giữ Nam Quận, Phan Chương ở Bạch Đế, Tưởng Khâm cầm một vạn thủy quân cơ động qua lại trên sông, ở đâu có địch thì ứng chiến, còn Mông vì nước chiếm trước Tương Dương; làm thế có gì phải lo Tào Tháo, có gì cần nhờ Quan Vũ? Vả lại vua tôi Quan Vũ cậy sức và mưu trá, luôn trở mặt, không thể tin như người tâm phúc. Nay Vũ chưa tiện quay sang phía đông là vì Chí tôn anh minh, bọn Mông còn sống. Nếu không tính việc ấy ngay khi mình đang mạnh khỏe, một mai suy sụp, muốn dốc sức lần nữa, còn được chăng?’ Quyền hết sức tán thành kế ấy, rồi lại bàn thêm về ý định lấy Từ Châu. Mông đáp: ‘Nay Tào Tháo ở xa phía bắc Hoàng Hà, vừa bình định các họ Viên, đang vỗ yên U Châu và Ký Châu, chưa rảnh nhìn sang phía đông. Nghe nói quân phòng giữ đất Từ không đáng kể, kéo đến tự khắc thắng. Nhưng vùng đất ấy nối liền đường bộ, kỵ binh mạnh tha hồ tung hoành; hôm nay Chí tôn lấy được Từ Châu, mươi ngày sau Tháo ắt đến tranh, dù dùng bảy tám vạn quân giữ vẫn lo. Chi bằng đánh Quan Vũ, chiếm trọn Trường Giang, địa thế sẽ rộng mạnh hơn’. Quyền càng cho lời ấy là đúng.” [23]

Rõ ràng lúc này Thục Hán mạnh lên, đã trở thành mối lo của Tôn Ngô. Khi Quan Vũ Bắc phạt, Lã Mông thấy thời cơ không thể bỏ, bèn dâng thư nêu cách đánh chiếm Kinh Châu: “Vũ đánh Phàn Thành nhưng để lại nhiều quân phòng bị, chắc lo Mông tập kích sau lưng. Mông vốn thường mắc bệnh, xin chia quân về Kiến Nghiệp, lấy cớ chữa bệnh. Vũ nghe vậy ắt rút quân phòng bị, đưa hết tới Tương Dương. Đại quân ta theo dòng sông, ngày đêm tiến nhanh, tập kích chỗ trống, Nam Quận có thể hạ, Quan Vũ có thể bắt.” [24] Điều đó cho thấy Tôn Ngô bội minh, một mặt vì Thục Hán đã thành đối thủ giả định trong tương lai, mặt khác vì đánh úp Kinh Châu lúc ấy có lợi lớn.

Tư Mã Ý phía Tào Ngụy cũng nhìn thấu căn nguyên liên minh Ngô–Thục, đã đề xuất liên kết Ngô kiềm chế Thục khi Quan Vũ Bắc phạt. «Tấn thư – Cao Tổ Tuyên Đế bản kỷ» chép:

“Khi ấy Hán đế đóng đô ở Hứa Xương, Ngụy Vũ Đế cho rằng quá gần quân địch, định dời đô lên phía bắc Hoàng Hà. Tuyên Đế can: ‘Vu Cấm và những người khác bị nước dìm, không phải thất bại do đánh trận hay phòng giữ, chưa tổn hại đến đại kế quốc gia. Nếu lập tức dời đô, vừa tỏ cho địch biết mình yếu, vừa khiến nhân dân vùng Hoài– Miện rất bất an. Tôn Quyền và Lưu Bị ngoài mặt thân thiết, trong lòng xa cách; Quan Vũ đắc thế là điều Quyền không muốn. Có thể thông báo để Quyền đánh vào sau lưng Vũ, thì vòng vây Phàn Thành tự giải’. Ngụy Vũ Đế theo lời. Quả nhiên Quyền sai tướng Lã Mông về phía tây tập kích Công An, chiếm lấy, Vũ bị Mông bắt.” [25]

Câu “Tôn Quyền và Lưu Bị ngoài mặt thân thiết, trong lòng xa cách; Quan Vũ đắc thế là điều Quyền không muốn” chính là mấu chốt việc Tôn Quyền bội minh.

Sau khi Tôn Quyền tập kích giết Quan Vũ, để cầu kết minh với Tào Ngụy, ông thậm chí chịu hạ mình, xưng thần nhận phong, còn khuyên Tào Tháo xưng đế. «Tư trị thông giám», quyển 68 chép:

“Ngụy vương Tào Tháo dâng biểu xin phong Tôn Quyền làm Phiêu kỵ tướng quân, trao phù tiết, kiêm Kinh Châu mục, phong Nam Xương hầu. Quyền sai Hiệu úy Lương Ngụ vào triều cống, lại sai Chu Quang và những người khác trở về, dâng thư xưng thần với Tháo, nói đến thiên mệnh. Tháo đem thư của Quyền cho mọi người xem, nói: ‘Thằng bé này muốn đặt ta lên lò lửa hay sao!’ Thị trung Trần Quần và mọi người đều nói: ‘Vận nhà Hán đã hết, chẳng phải mới hôm nay. Công đức điện hạ cao ngất, mọi người ngóng đợi, nên Tôn Quyền ở xa xưng thần. Đây là điều trời và người cùng ứng, tuy khác nơi mà đồng thanh, điện hạ nên chính vị chí tôn, còn nghi gì nữa!’ Tháo nói: ‘Nếu thiên mệnh ở ta, ta sẽ làm Chu Văn Vương’.” [26]

Phương châm ngoại giao của Tôn Ngô nhìn ngoài có vẻ trước sau trái ngược, nhưng gốc rễ đều hướng theo lợi ích. Trước Xích Bích, Tào Tháo đang tiến tới thôn tính Giang Đông. Tuy Tháo gửi thư cho Tôn Ngô rằng: “Gần đây ta phụng mệnh thảo phạt có tội, cờ xí chỉ xuống phương nam, Lưu Tông đã bó tay đầu hàng. Nay sửa soạn tám mươi vạn thủy quân, sắp cùng tướng quân đi săn ở nước Ngô”, [27] nhưng ý đồ thôn tính Tôn Ngô đã lộ rõ. Lỗ Túc lúc ấy phân tích với Tôn Quyền: “Vừa rồi xem lời bàn của mọi người, họ chỉ muốn làm lỡ đại sự của tướng quân, không đủ để cùng bàn việc lớn. Nay riêng Túc có thể hàng Tào Tháo, còn tướng quân thì không. Vì sao? Túc hàng Tháo, Tháo sẽ trả ta về quê, phân định phẩm hàm, ít ra vẫn là viên tòng sự cấp thấp, ngồi xe bò, theo cùng quan lại, giao du giới sĩ, dần dần thăng chức cũng không mất chức tại châu quận. Tướng quân hàng Tháo rồi biết đi đâu? Mong sớm định đại kế, chớ theo lời nhiều người.” [28] Bởi thế Tôn Ngô khi ấy không có khả năng khuất thân đầu hàng. Nhưng sau khi lấy Kinh Châu, bắt giết Quan Vũ, Thục Hán chắc sẽ tiến đánh, trong khi Tào Ngụy chưa kịp chuẩn bị đại cuộc xâm lược phương nam để thống nhất thiên hạ. Bởi vậy lúc ấy Tôn Quyền chỉ phải trả một danh nghĩa xưng thần để tránh nguy cơ đánh trên hai mặt trận, thực chất không tổn hại tính độc lập của Giang Đông.

Tôn Quyền kiên trì phương châm ấy, giành những điều kiện có lợi nhất cho nước mình. Vì thế trước trận Di Lăng, ông một mặt sai sứ cầu hòa với Lưu Bị, mặt khác sai sứ xưng thần, nhận sắc phong của Tào Phi:

“Tháng tám, Tôn Quyền sai sứ đến xưng thần, dâng tờ biểu với lời lẽ nhún nhường, đồng thời đưa Vu Cấm và những người khác trở về. Các triều thần đều chúc mừng, riêng Lưu Diệp nói: ‘Quyền vô cớ xin hàng, bên trong ắt có tình thế nguy cấp. Trước đây Quyền tập kích giết Quan Vũ, Lưu Bị nhất định sẽ động đại quân đánh Quyền. Ngoài có cường địch, lòng người bất an, lại sợ Trung Quốc nhân khe hở mà tiến đánh, nên dâng đất xin hàng: một là đẩy lui quân Trung Quốc; hai là mượn viện trợ của Trung Quốc để mạnh thanh thế của mình, khiến địch nghi ngờ. Thiên hạ chia ba, Trung Quốc chiếm tám phần mười; Ngô, Thục mỗi bên giữ một châu, dựa núi sông hiểm trở, gặp nguy cùng cứu nhau, đó là lợi thế của hai nước nhỏ. Nay họ trở lại đánh nhau, ấy là trời muốn diệt họ! Nên khởi đại quân vượt Trường Giang tập kích Ngô. Thục đánh bên ngoài, ta đánh bên trong, nước Ngô sẽ mất chưa đầy mươi ngày, một tháng. Ngô mất thì Thục cô lập. Dù chia nửa nước Ngô cho Thục thì Thục cũng không thể tồn tại lâu, huống chi Thục lấy phần ngoài mà ta được phần trong!’ Hoàng đế nói: ‘Người ta xưng thần đầu hàng mà lại đi đánh, khiến những người trong thiên hạ muốn quy phục phải nghi ngại. Chi bằng tạm nhận Ngô đầu hàng, rồi đánh sau lưng Thục’. Lưu Diệp đáp: ‘Thục ở xa, Ngô ở gần; Thục nghe Trung Quốc đánh Ngô liền có thể quay quân về, ta không thể chặn. Nay Bị đã nổi giận, phát binh đánh Ngô, nghe ta đánh Ngô, biết Ngô tất mất, ắt mừng mà tiến lên tranh chia đất Ngô với ta, nhất quyết không đổi kế, nén giận để cứu Ngô’. Hoàng đế không nghe, bèn nhận Ngô hàng. ... Ngày Đinh Tỵ, sai Thái thường Hình Trinh đem sách phong trực tiếp phong Tôn Quyền làm Ngô vương, gia cửu tích.” [29]

Trong các điều kiện liên minh Ngụy–Ngô, Tào Phi đòi những vật như “hương tước đầu, vỏ sò lớn, minh châu, ngà voi, sừng tê giác, đồi mồi, công, phỉ thúy, vịt chọi, gà gáy dài”; Tôn Quyền đều giao đủ. [30] Nhưng khi Ngụy lấy cớ phong con Quyền là Tôn Đăng tước Vạn hộ hầu, muốn đưa vào Ngụy làm con tin, Tôn Quyền liền từ chối. [31] Tất cả cho thấy trong việc kết minh với họ Tào, Tôn Ngô chỉ trả bằng hư danh và tài vật, không đánh mất tính độc lập. Minh ước ấy chỉ là kế hoãn binh nhất thời để tránh thế khó giao chiến hai mặt trận, không có hiệu lực thực chất.

Vì vậy, sau trận Di Lăng, khi mối đe dọa từ Thục Hán đã được giải trừ, Tôn Ngô chủ động nối lại liên lạc. «Tam Quốc chí – Ngô thư – Ngô chủ truyện» chép: “Tháng mười hai, Quyền sai Thái trung đại phu Trịnh Tuyền đến Bạch Đế thăm Lưu Bị, bắt đầu nối lại quan hệ. Nhưng Quyền vẫn tiếp tục qua lại với Ngụy Văn Đế, đến năm sau nữa mới cắt đứt.” [32] Trong khoảng một năm, Tôn Ngô đồng thời đi lại với Tào Ngụy và Thục Hán, cho thấy toàn bộ ngoại giao đều lấy lợi ích làm chỗ quy tụ, hoàn toàn không nói đến tín nghĩa. «Tư trị thông giám», quyển 70 chép:

“Thượng thư nước Hán là Đặng Chi người Nghĩa Dương nói với Gia Cát Lượng: ‘Nay chúa thượng còn nhỏ, mới lên ngôi cao, nên sai đại sứ sang khơi lại tình giao hảo với Ngô’. Lượng đáp: ‘Ta đã nghĩ việc ấy lâu rồi, nhưng chưa tìm được người. Hôm nay mới có’. Chi hỏi: ‘Người ấy là ai?’ Lượng đáp: ‘Chính là sứ quân’. Bèn sai Đặng Chi lấy chức Trung lang tướng sang Ngô tu sửa quan hệ. Mùa đông, tháng mười, Chi đến Ngô. Bấy giờ Ngô vương chưa đoạn tuyệt với Ngụy, còn do dự, không lập tức tiếp kiến. Chi bèn tự dâng biểu xin gặp, rằng: ‘Thần lần này đến cũng vì nước Ngô, chứ không chỉ vì Thục’. Ngô vương gặp, nói: ‘Ta thực lòng muốn hòa thân với Thục, nhưng sợ vua Thục nhỏ yếu, nước nhỏ thế bức bách, bị Ngụy thừa cơ, không tự bảo toàn được’. Chi đáp: ‘Hai nước Ngô–Thục có đất bốn châu. Đại vương là anh hùng một đời, Gia Cát Lượng cũng là nhân kiệt một thời; Thục có hiểm trở vững chắc, Ngô có ba sông ngăn giữ. Kết hai điểm mạnh ấy, cùng làm môi răng, tiến có thể thôn tính thiên hạ, lui có thể đứng thế chân vạc, đó là lẽ tự nhiên. Nếu nay đại vương đem thân gửi vào Ngụy, trên thì Ngụy ắt trông mong đại vương vào chầu, dưới lại đòi thái tử vào hầu. Nếu không vâng lệnh, họ sẽ nhân danh thảo phạt phản thần; Thục cũng xuôi dòng mà tiến lúc thấy có cơ hội. Thế thì đất Giang Nam không còn thuộc đại vương’. Ngô vương lặng hồi lâu rồi nói: ‘Lời ông phải lắm’. Bèn tuyệt giao với Ngụy, chuyên liên hòa với Hán.” [33]

Từ năm Hoàng Sơ thứ tư (223), sau khi Đặng Chi đi sứ Ngô, quan hệ Ngô–Thục mới ổn định. Nhưng đôi bên có thể giữ minh ước là vì lúc này Thục Hán đã không có thực lực để bội ước, còn Tôn Ngô đã lấy được Kinh Châu, không cần bội ước nữa. Ngược lại, Tào Ngụy trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với cả hai, nên liên minh mới ổn định.

Nhìn từ đây, chính sách ngoại giao của Tôn Ngô rất linh hoạt, hành động không theo nghĩa lý đạo đức, tiêu chuẩn duy nhất là lợi ích quốc gia. Kết hôn, xưng thần đều chỉ là thủ đoạn, không thể bảo đảm hiệu lực của minh ước. Ngược lại, việc thành lập Thục Hán lấy chống Tào Tháo và khôi phục Hán thất làm khẩu hiệu, vì vậy không có không gian để liên Ngụy chế Ngô; lựa chọn ngoại giao và các phương tiện đe dọa, kiềm chế Tôn Ngô bội minh của Thục Hán đều nghèo nàn hơn Tôn Ngô rất nhiều.

Theo phương châm mà «Long Trung đối» vạch ra, kết minh với Tôn Ngô là trọng điểm trong các trọng điểm, để Lưu Bị không phải lo phía sau mà chuyên tâm hai đường cùng tiến đánh Quan Trung và Uyển–Lạc. Nhưng Gia Cát Lượng không có biện pháp đáng tin cậy hơn để bảo đảm minh ước hai nhà. Hơn nữa, Tôn Quyền có phương lược ngoại giao tùy cơ ứng biến, có thể chịu nhục mà xưng thần nhận phong, thiếu tín nghĩa, cùng lúc qua lại với cả Thục Hán và Tào Ngụy, lại nuôi chí hướng lấy thiên hạ chứ không chỉ cát cứ yên phận. Do đó, hễ thấy món lợi lớn, Tôn Ngô sớm muộn cũng bội minh. Đây là một trong những vấn đề «Long Trung đối» không thể giải quyết.

Chú thích

  • [18] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện», tr. 1269.
  • [19] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngụy thư – Trình Dục truyện», tr. 428.
  • [20] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện», tr. 1268.
  • [21] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện», tr. 1269.
  • [22] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện», tr. 1270.
  • [23] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lã Mông truyện», tr. 1277–1278.
  • [24] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lã Mông truyện», tr. 1278.
  • [25] Phòng Huyền Linh và cộng sự đời Đường, «Tấn thư – Đế kỷ – Cao Tổ Tuyên Đế» (Đài Bắc: Đỉnh Văn thư cục, in lần đầu tháng 10/1976), tr. 3.
  • [26] Tư Mã Quang đời Tống, «Tư trị thông giám», quyển 68 (Đài Bắc: Thiên Công thư cục, 1988), tr. 2172. Đoạn «Tư trị thông giám» này tổng hợp từ «Tam Quốc chí – Ngụy thư – Vũ Đế kỷ», chú của Bùi Tùng Chi dẫn «Ngụy lược», «Ngụy thị xuân thu» cùng «Tam Quốc chí – Ngô thư – Ngô chủ truyện». Tuy tư liệu gốc từ «Tam Quốc chí», các câu chữ phân tán nhiều chỗ, còn «Tư trị thông giám» đầy đủ và cô đọng hơn nên bài viết căn cứ vào sách này; những trường hợp sau tương tự. Xem Trần Thọ, «Tam Quốc chí», tr. 52–53 và tr. 1121.
  • [27] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Ngô chủ truyện», chú Bùi Tùng Chi dẫn «Giang Biểu truyện», tr. 1118.
  • [28] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Lỗ Túc truyện», tr. 1270.
  • [29] Tư Mã Quang, «Tư trị thông giám», quyển 69, tr. 2193. Đoạn này xuất phát từ «Tam Quốc chí – Ngụy thư – Văn Đế kỷ», «Ngụy thư – Lưu Diệp truyện», chú Bùi Tùng Chi dẫn «Phó tử» và «Ngô thư – Ngô chủ truyện». Sử liệu «Tam Quốc chí» phân tán, khó tra, trong khi «Tư trị thông giám» đầy đủ cô đọng hơn, nên bài viết dùng «Tư trị thông giám» làm căn cứ. Xem Trần Thọ, «Tam Quốc chí», tr. 78, 446–447 và 1121–1122.
  • [30] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Ngô chủ truyện», chú Bùi Tùng Chi dẫn «Giang Biểu truyện», tr. 1124.
  • [31] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Ngô chủ truyện», tr. 1123. «Tư trị thông giám» nhiều hơn «Tam Quốc chí» bốn chữ “為萬戶侯” (làm Vạn hộ hầu); xem Tư Mã Quang, «Tư trị thông giám», quyển 69, tr. 2198.
  • [32] Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Ngô thư – Ngô chủ truyện», tr. 1126.
  • [33] Tư Mã Quang, «Tư trị thông giám», quyển 70, tr. 2217. Sử liệu bắt nguồn từ Trần Thọ, «Tam Quốc chí – Thục thư – Đặng Chi truyện», nhưng «Đặng Chi truyện» không ghi thời điểm đi sứ, còn «Tư trị thông giám» viết theo thể biên niên nên thuận lợi tính khoảng thời gian Tôn Ngô đồng thời giao hảo với Tào Ngụy và Thục Hán. Vì vậy bài viết dùng «Tư trị thông giám» làm căn cứ. Xem «Tam Quốc chí – Thục thư – Đặng Chi truyện», tr. 1071–1072.

Loạt bài: Bình nghị những khiếm khuyết của Long Trung đối

Nguồn: Phan Bá Niên (潘柏年), Lâm Hiểu Quân (林曉筠), «〈隆中對〉缺失評議», Trung Quốc học thuật niên san (中國學術年刊) số 34, kỳ mùa Thu, 9/2012, tr. 83–112 — Khoa Quốc văn, Đại học Sư phạm Quốc lập Đài Loan

Sơn Chu
Về tác giả

Sơn Chu

Nhà sáng lập & Chủ tịch Học quán Sơn Chu

Nhà sáng lập Học quán Sơn Chu — nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng tinh hoa Cổ học phương Đông.

Hỏi người biết việc

Chuyên gia của Học quán

Đọc xong còn điều muốn hỏi cho rõ? Đặt lịch trực tiếp với chuyên gia của Học quán, hoặc mở hồ sơ để biết họ nhận những môn nào.

Nguyễn Đức Hoàng

Nguyễn Đức Hoàng

Chuyên gia tư vấn
5.0(2)
Tử Vi Đẩu Số (Nam phái)
Chang Đất

Chang Đất

Giảng viên - Chuyên gia Nghiên cứu và Tư vấn Tử Vi
5.0(1)
Tử ViTarotThần số Pitago
Hoàng Đình Kì

Hoàng Đình Kì

Phó ban CLB Tử Vi Miền Bắc · Ban Nghiên cứu & Tư vấn Học quán Sơn Chu
Chưa có đánh giá
Tử Vi Đẩu SốKinh DịchĐào tạo Huyền học
Trần Ánh

Trần Ánh

Chuyên gia tư vấn Tử Vi , Phong Thuỷ,
Chưa có đánh giá
Tử ViBát tựPhong Thuỷ
Muốn học bài bản hoặc cần người xem giúp? Để lại tên và số điện thoại — không cần chọn khoá, không cần chọn thầy. Học quán sẽ liên hệ lại.