Công cụ

Long Trung đối (2): Người xưa và học giới hai bờ đã bàn những gì

🏷 Nghiên cứu - Tổng hợp ✍ Sơn Chu 🕒 24/10/2026
Long Trung đối (2): Người xưa và học giới hai bờ đã bàn những gì

Lời bàn của Vương Phu Chi trong «Độc Thông giám luận» và các ý kiến của giới nghiên cứu Đài Loan, đại lục về việc chiếm giữ cả Kinh lẫn Ích.

Kỳ trước đặt câu hỏi: thất bại của Thục Hán có thể quy hết cho việc Quan Vũ mất Kinh Châu hay không. Kỳ này điểm lại những gì người xưa và giới nghiên cứu hai bờ eo biển Đài Loan đã bàn về thành bại của «Long Trung đối».

Khái thuật bình luận của tiền nhân về «Long Trung đối»

Trong những lời bàn của người xưa về thành bại của «Long Trung đối», tiêu biểu là phần bàn trong «Độc Thông giám luận» của Vương Phu Chi:

“Khi ban đầu Gia Cát công thưa với Tiên chủ, ông nói: ‘Thiên hạ có biến, sai một thượng tướng dẫn quân Kinh Châu tiến tới Uyển, Lạc, còn tướng quân đích thân thống lĩnh quân Ích Châu tiến ra Tần Xuyên’. Về sau, Tiên chủ sai Quan Vũ tiến ra Tương Dương, Phàn Thành, còn mình vào Thục; sau khi Tiên chủ mất, Gia Cát công tự ra Kỳ Sơn mưu lấy Quan Trung. Đại lược đã định từ đó. Ấy là mưu tính của ông đều dựa vào thế đất để lập phương lược giành thắng lợi. Thục Hán có thể giữ được tông miếu xã tắc mấy chục năm là nhờ đó; nhưng rốt cuộc không thể cùng họ Tào tranh Trung Nguyên cũng là do đó. Xét về địa thế, cánh quân ra Uyển, Lạc là chính binh; cánh quân ra Tần Xuyên là kỳ binh. Muốn Chiêu Liệt tự cầm đại quân ra Tần Xuyên, lại sai tướng tiến tới Uyển, Lạc, như vậy là đặt sai nặng nhẹ. Quan Vũ bị Lã Mông đánh bại vốn là biến cố bất ngờ; nhưng giả sử không có Lã Mông đánh thọc ngang, Vũ cứ tiến lên đối địch với Tào Tháo, liệu Vũ có thể nắm được mạng sống của Tháo chăng? Đối phó Tào Nhân thì có thừa, chống Tào Tháo vốn không đủ sức. Quân Uyển, Lạc bị đánh bại thì khí thế quân Tần Xuyên cũng trống rỗng; còn làm sao ứng phó biến động của thiên hạ? Nếu ý Gia Cát công là dùng quân Uyển, Lạc làm nghi binh, khiến địch giữ ta ở Uyển, Lạc, rồi nhân khoảng hở chiếm Quan Trung, thì đây chỉ là một kế sách tình cờ giành thắng lợi trong phép dụng binh: phô trương ở phía đông mà đánh phía tây, dùng nghi hoặc để kiềm chế, thừa lúc đối phương ứng phó gấp gáp mà đánh một trận thành công. Không thể cứ giữ mãi đó làm kế sách lâu dài, hoạch định từ nhiều năm trước rồi trông cậy thực hiện vào nhiều năm sau. Địch chỉ cần đoán ra là hỏng việc. Mưu việc lớn lấy thiên hạ mà chỉ dựa vào một kế lạ để mong chắc thắng, sao có thể được? Người giỏi đoạt thiên hạ thì định quy mô theo “thiên toàn” (天全), còn cách dùng kỳ binh và chính binh phải tùy theo thời thế. Bởi vậy Tào Tháo nói: ‘Sử dụng trí lực của thiên hạ, lấy đạo mà điều khiển thì việc gì cũng làm được’. Đó là chỗ Tháo tự cho mình là anh hùng, còn Gia Cát công cố chấp vào một kế có thể thi hành rồi muốn cho rằng nhất định khả thi, nên không phải đối thủ của Tháo. Hơn nữa địa thế là thứ không thể cậy mãi. Quân Kinh Châu giỏi thủy chiến, nhưng vừa vượt cửa ải vùng Sở, ra Uyển, Lạc thì nhuệ khí giảm trên đồng bằng; quân Ích Châu giỏi đánh ở núi, nhưng vừa qua Kiếm Các ra Tần Xuyên thì lòng quân dao động giữa đồng rộng. Chỉ dựa địa thế, ngoài địa thế không có gì để dựa, thắng thì chỉ có thể giữ cương vực, thua thì rốt cuộc bị vây khốn tại chỗ. Mang cái có chỗ dựa để đối ứng với sự biến hóa không cùng, việc Khương Duy thất bại là điều tất nhiên. Khi Tiên chủ phiêu bạt, nhiều lần vấp ngã, không có nơi nương chân, lấy Ích Châu làm cơ sở thì được; từ đó mà định luôn hai kế đánh Uyển, Lạc và Tần Xuyên thì không được. Trần Thọ nói: ‘Mưu lược cầm quân không phải sở trường của ông’, há phải hoàn toàn là lời vu cáo?” [2]

Lời Vương Phu Chi trên đây đã phần nào chạm đến khó khăn của chiến lược chia quân hai đường trong «Long Trung đối». Tuy nhiên, chủ đích cốt lõi vẫn là làm sáng tỏ quan niệm “không thể cậy vào địa thế”, chứ chưa phải kiểm điểm toàn diện thành bại của «Long Trung đối».

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về «Long Trung đối» tại Đài Loan khá ít và phiến diện; đại để đều tán dương hoạch định của Gia Cát Lượng, quy nguyên nhân thất bại cho việc Quan Vũ mất Kinh Châu và Lưu Bị chính thức giao chiến với Tôn Ngô, khiến kế hoạch liên Ngô chống Tào và hai cánh quân Kinh–Ích tiến lên phía bắc bị phá sản. [3] Trong khi đó, giới nghiên cứu đại lục thảo luận phong phú và đa dạng hơn: có người chủ trương Kinh Châu không nhất thiết phải mất [4], Quan Vũ và Lưu Bị thực hiện không tốt nên phải chịu trách nhiệm lớn nhất [5], bản hoạch định của Gia Cát Lượng không có sai lầm [6]; cũng có người cho rằng Gia Cát Lượng câu nệ «Long Trung đối», không biết tùy cơ thay đổi, chẳng hạn lúc Lưu Biểu mới mất, ông không nắm thời cơ sớm liên kết Lưu Kỳ và Tôn Ngô để chống Tào Tháo ở phía bắc Trường Giang [7], hoặc sau khi mất Kinh Châu không kịp điều chỉnh chiến lược [8]; có người cho rằng Gia Cát Lượng không hiểu cách tận dụng ưu thế Hán Trung làm bình phong bảo vệ phương Nam. [9] Đáng chú ý nhất là nhiều học giả bàn về việc Lưu Bị có thật sự đủ thực lực cùng chiếm giữ cả Kinh và Ích hay không. Luận điểm này trực tiếp chỉ ra khuyết điểm bẩm sinh của «Long Trung đối»: nếu về căn bản Lưu Bị không thể có cả hai châu Kinh–Ích, thì «Long Trung đối» ắt không có khả năng thành công.

Xét theo địa thế, mối liên hệ giữa Kinh Châu và Ích Châu kém mật thiết hơn nhiều so với mối liên hệ giữa Kinh Châu và Dương Châu. Lương Mãn Thương nhận định:

“Thoạt nhìn, Trường Giang như dải đai ngọc nối liền ba viên minh châu Ích, Kinh và Dương. Nhưng trên thực tế, Ích Châu nằm ở bậc địa hình thứ hai của Trung Quốc, còn Kinh Châu, Dương Châu đều thuộc bậc thứ ba. Ích Châu bốn phía có cửa ải hiểm trở, núi non chắn giữ: phía tây là núi Cung Lai, Đại Tuyết; phía nam là núi Đại Lâu, Ô Mông; phía bắc có Tần Lĩnh, Đại Ba chắn ngang; phía đông có Vu Sơn dựng đứng. Bốn phía núi non như tường cao vút tới mây, ôm trọn bồn địa Tứ Xuyên, trong điều kiện giao thông bất tiện thời cổ đã ngăn cách với bên ngoài. Còn Kinh Châu và Dương Châu cùng nằm trên đồng bằng trung và hạ lưu Trường Giang, giữa hai nơi không có vật chắn thiên nhiên; một dòng Trường Giang tự nhiên nối liền hai châu.” [10]

Đinh Phúc Hổ cũng nói: “Hai châu Kinh và Ích, một nơi dễ đánh khó giữ, một nơi dễ giữ khó đánh, giữa có thiên hiểm Tam Hiệp, khó nối kết thành một thể. ... Vì vậy, sau khi chiếm cả Kinh, Ích thì tình trạng lo chỗ này mất chỗ khác là khó tránh.” [11] Đó là xét theo địa thế vốn có.

Xét về quốc lực:

“Khi Tam Quốc đứng thế chân vạc, Tào Ngụy có mười hai châu phía bắc, dân số 4,43 triệu người, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa thời Hán. Đông Ngô chiếm Giang Đông, ven biển Đông Nam và phần lớn Hồ Nam, tổng dân số 2,5 triệu. Thục Hán có Ích Châu và một phần Kinh Châu, dân số 1,08 triệu. Tỷ lệ dân số Ngụy–Ngô–Thục vào khoảng 4:2:1. Đến lúc Tây Tấn thống nhất cả nước (năm 280), tỷ lệ dân số của ba khu vực là 10:2:1. Khi diễn ra trận Xích Bích, Tào Tháo có 160.000 quân, lại thu được 70.000 quân của Lưu Biểu, tổng quân chiến đấu từ 220.000 đến 250.000; Đông Ngô chỉ có 30.000 tinh binh; Lưu Bị cộng với quân Lưu Kỳ chỉ được 20.000. Cho tới khi Thục Hán mất nước, cả nước Thục Hán có ‘102.000 quân mặc giáp, 40.000 quan lại, bình quân chín người dân nuôi một chiến sĩ, bảy hộ dân nuôi một viên lại’... Xét như vậy, sau khi quân đội tăng lên 100.000 người, sức mạnh tổng hợp của Thục đã khó kham nổi.” [12]

Việc nuôi binh cậy vào dân; không có dân thì không thể nuôi binh. Hiện chỉ Đinh Phúc Hổ tính toán tương đối tỉ mỉ dân số và số binh sĩ ba nước; còn trong các nghiên cứu Tam Quốc ở cả hai bờ eo biển, chưa thấy ghi chép số mẫu ruộng thực tế có thể canh tác ở từng vùng, thực đáng tiếc.

Xét về vị trí chiến lược, Mai Tranh Tranh nói: “Sau khi Lưu Bị giành được Nam Quận, địa bàn Kinh Châu xưa của Lưu Biểu trên thực tế đã bị ba nhà Tào, Lưu, Tôn phân chia. Thế đất giữa ba nhà đan xen răng lược, mâu thuẫn giữa họ cũng rất phức tạp, hơi bất cẩn sẽ có thể bùng nổ chiến tranh.” [13] Lương Mãn Thương nhắc: “Xét theo địa thế, Kinh Châu ở thượng lưu Hàng Châu (杭州), liên quan đến sự sống còn của Ngô, có thể nói không có Kinh Châu thì không có nước Ngô, nên Tôn Ngô thế tất phải tranh.” [14] Đinh Phúc Hổ cũng bàn về Kinh Châu: “Đây là vùng đất bốn phía đều có chiến sự, bị địch uy hiếp ở hai mặt, không thể tồn tại lâu dài.” [15] Cả ba đều cho rằng dù Lưu Bị chiếm được Kinh Châu, nơi này vẫn liên tiếp có khói lửa, khó có ngày yên ổn; chỉ sơ sẩy một chút là có thể thất thủ.

Xét từ hành động thực tế của Lưu Bị: “Gia Cát Lượng cho rằng Kinh Châu và Ích Châu có vị thế ngang nhau, nhưng Lưu Bị lại đặt chủ lực ở Ích Châu chứ không đặt tại Kinh Châu.” [16] “Thực tế, sau khi chiếm Ích Châu, trọng tâm phát triển thế lực của Lưu Bị từng bước dịch sang phía tây. Tuy Kinh Châu là vị trí quân sự trọng yếu, nhưng vì giao thông địa lý không thuận tiện nên quả thật khó bảo đảm cả hai phía. Nói như vậy, bản thân ý tưởng chiếm giữ đồng thời Kinh và Ích đã chứa đựng mâu thuẫn sâu sắc. Ít nhất xét theo thực lực Lưu Bị, không thể có được cả hai.” [17]

Đại thể, học giả Đài Loan coi «Long Trung đối» là phương án rất tốt, việc Thục Hán thất bại chính là hậu quả không thi hành đúng phương án ấy. Ý kiến giới học giả đại lục đa dạng hơn: có người vẫn cho rằng bản thân «Long Trung đối» không sai, cũng có không ít người phân tích những khiếm khuyết cố hữu, đặc biệt là khó khăn trong việc “chiếm giữ cả Kinh và Ích”; vấn đề ấy rất đáng suy nghĩ sâu hơn.

Chú thích

  • [2] Vương Phu Chi, «Độc Thông giám luận», quyển 9, “Hiến Đế”, mục 25 (Đài Bắc: Lý Nhân thư cục, in lần đầu tháng 2/1985), tr. 291–292.
  • [3] Chẳng hạn bài của Đinh Trung Giang (giảng), Đinh Yến Thạch (biên tập), “Tam phân cát cứ hu trù sách, vạn cổ vân tiêu nhất vũ mao — Bình «Long Trung đối sách» và «Tam phân»”, cùng bài của Đinh Triệu Cường, “Từ quan điểm chiến lược luận «Long Trung đối» của Gia Cát Lượng”, đều chủ trương không nên để Quan Vũ làm thống soái Kinh Châu. Xem bài của Đinh Trung Giang – Đinh Yến Thạch, «Ấn Khắc văn học sinh hoạt chí», số 24 (Đài Bắc: Công ty xuất bản Tạp chí Ấn Khắc văn học sinh hoạt, 8/2005), tr. 176; Đinh Triệu Cường, «Không quân học thuật nguyệt san», số 393 (Đài Bắc: Không quân học thuật nguyệt san xã, 8/1989), tr. 26.
  • [4] Dương Đức Bỉnh, “Bình luận lại thành bại của «Long Trung đối» về ‘chiếm giữ cả Kinh và Ích’”, «Vũ Hán đại học học báo (Triết học – Khoa học xã hội)», 1996, số 2 (Vũ Hán: Đại học Vũ Hán, 2/1996), tr. 86–92.
  • [5] Phương Thi Minh, “Vì sao kế hoạch ‘chiếm giữ cả Kinh và Ích’ của «Long Trung đối» bị phá sản — Bàn về trách nhiệm của Lưu Bị và Quan Vũ đối với việc mất Kinh Châu”, «Học thuật nguyệt san», số 2/1997 (Thượng Hải: Liên hiệp các giới Khoa học xã hội Thượng Hải, 2/1997), tr. 53–60.
  • [6] Ngụy Bình Trụ, “Phân tích tình thế Kinh Châu trong «Long Trung đối»”, «Tương Phàn học viện học báo», quyển 28, số 7 (Hồ Bắc: Học viện Tương Phàn, 7/2007), tr. 77–79.
  • [7] Hoàng Hiểu Dương, “Quan Vũ Bắc phạt và khảo luận lại «Long Trung đối»”, «Thành Đô đại học học báo (KHXH)», số 2/2001 (Thành Đô: Đại học Thành Đô, 2/2001), tr. 74–76.
  • [8] Từ Nhật Huy, “Bàn về một nước cờ sai trong chiến lược «Long Trung đối»”, «Chiết Giang xã hội khoa học», số 1/2005 (Hàng Châu: Liên hiệp các giới KHXH tỉnh Chiết Giang, 1/2005), tr. 155–159.
  • [9] Đoàn Hiểu Xuyên, “Phân tích, bình luận khuyết điểm chiến lược «Long Trung đối»”, «Thường Thục lý công học viện học báo (Triết học – KHXH)», số 9 (Thường Thục: Học viện Lý công Thường Thục, 9/2010), tr. 87.
  • [10] Lương Mãn Thương, “Thành công và sai lầm của «Long Trung đối»”, «Tương Phàn học viện học báo», quyển 28, số 6 (Hồ Bắc: Học viện Tương Phàn, 6/2007), tr. 60.
  • [11] Đinh Phúc Hổ, “Bàn về được mất trong định vị chiến lược «Long Trung đối»”, «Quyết sách thám sách», số 11/1997 (Trịnh Châu: Trung tâm Nghiên cứu phát triển Chính phủ tỉnh Hà Nam, 11/1997), tr. 37.
  • [12] Đinh Phúc Hổ, bài đã dẫn, tr. 37.
  • [13] Mai Tranh Tranh, “Bàn về mâu thuẫn giữa ý tưởng «Long Trung đối» và thực tế khách quan”, «Trung Hoa văn hóa luận đàn», số 2/1999 (Thành Đô: Viện Khoa học xã hội Tứ Xuyên, 2/1999), tr. 50.
  • [14] Lương Mãn Thương, “Điều chỉnh sách lược của «Long Trung đối» và phương châm Bắc phạt của Gia Cát Lượng”, «Tương Phàn học viện học báo», quyển 29, số 10 (Hồ Bắc: Học viện Tương Phàn, 10/2008), tr. 12.
  • [15] Đinh Phúc Hổ, bài đã dẫn, tr. 37.
  • [16] Phó Khai Kính, “Tính bí mật và biến đổi trong việc thực hiện «Long Trung đối»”, «Tương Phàn học viện học báo», quyển 31, số 7 (Hồ Bắc: Học viện Tương Phàn, 7/2010), tr. 11.
  • [17] Mai Tranh Tranh, bài đã dẫn, tr. 51–52.

Loạt bài: Bình nghị những khiếm khuyết của Long Trung đối

Nguồn: Phan Bá Niên (潘柏年), Lâm Hiểu Quân (林曉筠), «〈隆中對〉缺失評議», Trung Quốc học thuật niên san (中國學術年刊) số 34, kỳ mùa Thu, 9/2012, tr. 83–112 — Khoa Quốc văn, Đại học Sư phạm Quốc lập Đài Loan

Sơn Chu
Về tác giả

Sơn Chu

Nhà sáng lập & Chủ tịch Học quán Sơn Chu

Nhà sáng lập Học quán Sơn Chu — nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng tinh hoa Cổ học phương Đông.

Hỏi người biết việc

Chuyên gia của Học quán

Đọc xong còn điều muốn hỏi cho rõ? Đặt lịch trực tiếp với chuyên gia của Học quán, hoặc mở hồ sơ để biết họ nhận những môn nào.

Chang Đất

Chang Đất

Giảng viên - Chuyên gia Nghiên cứu và Tư vấn Tử Vi
5.0(1)
Tử ViTarotThần số Pitago
Hoàng Đình Kì

Hoàng Đình Kì

Phó ban CLB Tử Vi Miền Bắc · Ban Nghiên cứu & Tư vấn Học quán Sơn Chu
Chưa có đánh giá
Tử Vi Đẩu SốKinh DịchĐào tạo Huyền học
Dương Hoàng Hân

Dương Hoàng Hân

Phó chủ nhiệm CLB Tử Vi Miền Bắc, Ban Nghiên cứu & Tư vấn Học quán Sơn Chu
Chưa có đánh giá
Tử Vi Đẩu SốTướng PhápKinh dịch
Mộc Tâm

Mộc Tâm

Chuyên gia nghiên cứu - Tư vấn mệnh lý
5.0(2)
Tửi vi - Tarot
Muốn học bài bản hoặc cần người xem giúp? Để lại tên và số điện thoại — không cần chọn khoá, không cần chọn thầy. Học quán sẽ liên hệ lại.