兼聽則明,偏信則暗 · Kiêm thính tắc minh, thiên tín tắc ám
Trong lời đối đáp giữa Đường Thái Tông và Ngụy Trưng có một câu rất đáng suy ngẫm:
「兼聽則明,偏信則暗。」
Kiêm thính tắc minh, thiên tín tắc ám.
Nghe được nhiều phía thì sáng, chỉ tin một phía thì tối.
Ở một chỗ khác còn nói:
「人欲自見其形,必資明鏡;君欲自知其過,必待忠臣。」
Nhân dục tự kiến kỳ hình, tất tư minh kính; quân dục tự tri kỳ quá, tất đãi trung thần.
Người muốn nhìn thấy hình dáng của mình phải nhờ một tấm gương sáng; người muốn biết lỗi của mình phải có người dám nói thật bên cạnh.
Hai câu vốn nói về việc trị sự, nhưng đem đặt vào việc học và nghiên cứu cũng rất hợp.
Chúng ta thường được dạy rằng khi có chuyện không ổn thì phải quay lại xét mình. Làm sai thì kiểm điểm. Học chưa thông thì xem bản thân còn thiếu ở đâu. Gặp việc không thành thì trước hết tìm nguyên nhân ở chính mình. Tinh thần ấy rất quý, bởi một người lúc nào cũng đổ lỗi cho hoàn cảnh thì rất khó tiến bộ.
Nhưng chỉ quay vào trong vẫn chưa đủ.
Bởi người đang xét và người được đem ra xét vẫn là một người. Mình dùng chính cách nhìn hiện tại để kiểm tra cách nhìn hiện tại; dùng những kinh nghiệm đã có để giải thích những kinh nghiệm đã có. Nếu trong cách nhìn ấy vốn tồn tại một điểm mù, ngồi một mình nghĩ thêm chưa chắc đã nhìn thấy. Có khi càng nghĩ lâu lại càng tìm được nhiều lý do để chứng minh rằng mình vốn đúng.
Đây là điều người học và nghiên cứu Huyền học rất dễ gặp.
Một phương pháp đã dùng nhiều năm, khi gặp trường hợp không ứng, phản ứng đầu tiên thường không phải nghi ngờ phương pháp. Ta có thể nghĩ giờ sinh chưa chính xác, đương số nhớ sai sự kiện, hoàn cảnh đặc biệt, cách cục có biến hóa, điều kiện chưa hội đủ hoặc còn một tầng lý luận nào đó mà mình chưa biết.
Tất cả những khả năng ấy đều có thể đúng.
Nhưng vẫn phải giữ lại một khả năng khác:
Có thể chính cách mình đang hiểu phương pháp ấy chưa đúng.
Nếu khả năng này ngay từ đầu đã bị loại bỏ thì việc tự xét rất dễ biến thành quá trình tìm thêm lý do để bảo vệ điều mình đã tin.
Nguyên văn lần này nói khá đúng vào chỗ ấy. Nhiều khi cái ta tưởng là một cuộc phản tỉnh rất sâu thực ra chỉ là dùng quan điểm cũ để xét quan điểm cũ, dùng câu chuyện cũ để giải thích câu chuyện cũ. Cuối cùng mình tưởng đã hiểu rõ hơn, nhưng có khi chỉ làm cho lời giải thích cũ trở nên chặt chẽ hơn.
Con người vốn rất giỏi giải thích cho chính mình.
Rõ ràng sợ mất một mối quan hệ nhưng lại bảo rằng mình chỉ là người trọng tình.
Muốn kiểm soát mọi việc nhưng cho rằng đó là trách nhiệm.
Không dám bước sang cách làm mới nhưng gọi đó là kiên trì với nguyên tắc.
Chưa đủ năng lực đối diện với một vấn đề nhưng lại tự giải thích rằng mình không thích tranh giành.
Những lời giải thích ấy chưa chắc sai. Vấn đề nằm ở chỗ nếu chỉ có mình kiểm tra chính mình thì rất khó biết câu nào là sự thật, câu nào chỉ là một cách nói khiến bản thân dễ chịu hơn.
Trong việc học cũng vậy.
Có người nói: “Môn này không hợp với tôi.”
Có người nói: “Thầy ấy không hợp cách học của tôi.”
Có người cho rằng mình thiên về trực giác nên không cần ghi chép nhiều.
Có người cho rằng Huyền học vốn biến hóa nên không thể thống kê.
Có người nói cổ thư quá sâu, không thể dùng cách đọc văn bản thông thường để hiểu.
Có người cho rằng điều quan trọng nhất đều nằm trong khẩu truyền nên đọc sách cũng chỉ đến một mức nào đó.
Trong từng hoàn cảnh, những câu ấy có thể có phần đúng. Nhưng một lời giải thích nghe hợp lý chưa đủ để chứng minh nó đúng.
Phải đem nó ra ngoài và hỏi thêm:
Thực tế có xác nhận điều đó hay không?
Đây là chỗ tôi thấy nên phân biệt giữa 反省 – phản tỉnh và 反思 – phản tư theo tinh thần của nguyên văn.
Phản tỉnh thường quay vào mình: tôi đã sai ở đâu, tôi có chưa đủ cố gắng không, có thiếu cẩn thận không, tại sao mình lại làm như vậy?
Những câu hỏi ấy cần thiết.
Nhưng phản tư cần đi thêm một bước: dự đoán của tôi sai ở đâu, giả định nào đã được sử dụng, dữ liệu mới cho thấy điều gì, trường hợp nào không phù hợp với kết luận cũ, lần sau phải thay đổi bước nào?
Một bên xét con người.
Một bên xét cả cách con người ấy đang vận hành.
Ví dụ một người luận mười trường hợp và có ba trường hợp sai rõ ràng. Nếu chỉ tự kiểm điểm, rất dễ kết luận: “Mình còn yếu, phải học thêm.”
Điều đó đúng nhưng quá rộng.
Học thêm cái gì?
Ba trường hợp sai có cùng một nguyên nhân hay không?
Sai vì dữ liệu đầu vào?
Sai vì tính toán?
Sai vì hiểu nhầm một câu cổ thư?
Sai vì đem một quy tắc vốn chỉ đúng trong điều kiện nhất định áp dụng cho tất cả?
Hay đơn giản vì người luận đã nhớ quá kỹ những lần mình đúng mà không ghi lại đầy đủ những lần mình sai?
Nếu không phân tách được các khả năng ấy thì thêm một năm đọc sách chưa chắc đã chữa đúng bệnh.
Bởi vậy, phản tư không thể chỉ diễn ra trong đầu.
Nó cần dấu vết bên ngoài.
Cần hồ sơ.
Cần ghi chép.
Cần dữ liệu.
Cần những trường hợp không ứng.
Cần người khác đọc lại.
Cần đôi khi ghi kết luận trước khi biết kết quả, để đến lúc kết quả xuất hiện mình không vô thức sửa lại cách giải thích cho khớp.
Cũng cần những người không hoàn toàn đồng ý với mình.
Đây chính là ý nghĩa của:
「兼聽則明,偏信則暗。」
“Thiên tín” không nhất thiết chỉ là tin một người. Đôi khi thứ mình thiên tín nhất chính là cách nghĩ của bản thân.
Tin một trường phái quá lâu.
Tin một cuốn sách quá lâu.
Tin kinh nghiệm cá nhân quá lâu.
Tin những trường hợp mình đã gặp quá lâu.
Lâu dần, cái quen dễ bị nhầm thành cái đúng.
Một người viết sách thường khó nhìn thấy những đoạn mình giải thích thiếu, bởi trong đầu họ phần thiếu ấy vốn đã có sẵn.
Người dạy lâu năm đôi khi tưởng một vấn đề rất dễ vì chính mình đã dùng nó hai mươi năm.
Người nghiên cứu một hệ thống quá lâu dễ dùng thuật ngữ của hệ thống ấy để giải thích mọi thứ.
Người đã tin một nguyên tắc lâu năm thường nhận ra bằng chứng thuận với nó nhanh hơn bằng chứng chống lại nó.
Những điều ấy không nhất thiết xuất phát từ thiếu trung thực.
Chỉ là người đứng bên trong một căn phòng thường khó nhìn thấy toàn bộ hình dáng của căn phòng ấy.
Cho nên người xưa mới nói:
「人欲自見其形,必資明鏡。」
Muốn nhìn thấy mình cần có gương.
Trong việc học, tấm gương ấy có nhiều loại.
Có khi là Thầy.
Có khi là bạn học.
Có khi là học viên.
Có khi là một bản cổ thư khác.
Có khi là một trường hợp thực tế không chịu đi theo lý thuyết mình đang tin.
Có khi là dữ liệu thống kê.
Có khi chỉ là một câu hỏi rất đơn giản từ người mới học mà người nghiên cứu lâu năm lại không trả lời được cho rõ.
Tôi từng thấy một hiện tượng khá phổ biến trong nghiên cứu Huyền học: trường hợp ứng thì nhớ rất lâu, trường hợp không ứng lại dễ cho qua.
Giả sử một người tin rằng một tổ hợp sao thường dẫn đến một loại nghề nghiệp. Gặp năm người đúng thì ghi nhớ rất kỹ. Nhưng mười người khác có cùng tổ hợp mà làm những nghề hoàn toàn khác lại ít được chú ý.
Năm năm sau, ký ức còn lại có thể chỉ là năm trường hợp ứng.
Khi ấy người nghiên cứu thực lòng tin rằng kinh nghiệm nhiều năm đã xác nhận nguyên tắc của mình.
Vấn đề không nằm ở sự gian dối.
Vấn đề nằm ở cách trí nhớ chọn dữ liệu.
Muốn tránh việc ấy, phải đưa một phần trí nhớ ra khỏi đầu.
Ghi lại.
Đếm lại.
Giữ cả trường hợp thuận lẫn nghịch.
Đó là lý do nghiên cứu cần hồ sơ.
Và cũng là lý do một người làm nghề càng lâu càng nên ghi chép thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm.
Kinh nghiệm rất quý.
Nhưng kinh nghiệm không được ghi lại rất dễ bị trí nhớ chỉnh sửa theo thời gian.
Trong 《Luận Ngữ · Vi Chính – 論語·為政》, Khổng Tử cũng nói:
「學而不思則罔,思而不學則殆。」
Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi.
Học mà không suy nghĩ thì mờ mịt; chỉ suy nghĩ mà không tiếp tục học thì dễ rơi vào chỗ nguy.
Câu này cũng rất hợp với vấn đề đang bàn.
Chỉ thu nhận mà không nghĩ thì kiến thức không thành của mình. Nhưng chỉ ngồi trong đầu mình suy nghĩ mãi mà thiếu sách mới, dữ liệu mới, thực tế mới và góc nhìn khác thì tư duy cũng có thể tự quay vòng.
Hai phía phải bổ sung cho nhau.
Đối với Phong Thủy, có những điều buộc phải ra thực địa. Đọc rất nhiều về long, huyệt, sa, thủy mà không nhìn địa hình thật thì mắt rất khó mở.
Đối với Tử Vi, đọc phú rất nhiều mà ít đối chiếu với đời người thật thì dễ thuộc lời cổ nhân nhưng chưa chắc hiểu giới hạn của từng câu.
Đối với Kinh Dịch, nếu chỉ bàn tượng lý mà không lưu quẻ, không ghi câu hỏi ban đầu và không đối chiếu kết quả về sau thì rất khó biết cách hiểu của mình có thực sự vận hành hay không.
Một phương pháp dự đoán nếu chỉ lưu những lần đúng mà không giữ những lần sai thì càng khó biết biên giới của nó nằm ở đâu.
Thực tế vì vậy không phải kẻ thù của lý thuyết.
Nó là nơi lý thuyết được thử.
Nguyên văn dùng một cách nói hiện đại là “pressure test”, có thể hiểu là đem một cấu trúc ra chịu tải để xem nó thực sự chịu được đến đâu.
Người ta tưởng mình rất bình tĩnh cho đến khi chính lợi ích của mình bị động tới.
Tưởng mình đã hết thành kiến cho đến khi một người thuộc trường phái mình vốn không thích đưa ra một chứng cứ rất mạnh.
Tưởng mình sẵn sàng sửa sai cho đến khi sửa đồng nghĩa với việc phải thừa nhận một đoạn sách mình đã viết nhiều năm trước chưa chính xác.
Tưởng mình khách quan cho đến khi dữ liệu đi ngược điều mình đã dạy cho hàng nghìn học viên.
Những tình huống ấy mới thực sự thử người nghiên cứu.
Không phải để phủ định hết những gì đã làm.
Một kết luận sai không làm toàn bộ phương pháp vô giá trị.
Một câu viết chưa chính xác không xóa sạch nhiều năm nghiên cứu.
Một quan niệm phải sửa cũng không có nghĩa người từng tin nó là người kém.
Tri thức vốn phát triển bằng việc sửa dần những chỗ chưa đủ chính xác.
Có thể ban đầu ta nói:
“A thường dẫn tới B.”
Sau một thời gian phải sửa:
“A dễ dẫn tới B khi đồng thời có điều kiện C.”
Thêm dữ liệu nữa lại thấy:
“A chưa chắc trực tiếp tạo ra B; nó chỉ là một dấu hiệu xuất hiện trong một cấu trúc lớn hơn.”
Đó không phải là đi lùi.
Đó là kết luận trở nên tinh hơn.
Cái đáng lo không phải một hệ thống từng có kết luận sai.
Cái đáng lo là hệ thống ấy không còn cách nào để phát hiện rằng mình sai.
Một lý thuyết nếu kết quả nào xảy ra cũng có thể giải thích được sau khi sự việc đã xảy ra thì nghe có vẻ rất mạnh, nhưng về phương pháp lại có một vấn đề lớn: không còn kết quả nào đủ sức buộc nó phải sửa.
Bởi vậy, người nghiên cứu nên thỉnh thoảng tự hỏi:
Nếu điều gì xảy ra thì tôi sẽ thừa nhận giả thuyết này cần điều chỉnh?
Câu hỏi ấy rất quan trọng.
Nếu câu trả lời là “không có trường hợp nào cả”, tức là bất kể thực tế thế nào ta vẫn có cách chứng minh mình đúng, thì việc kiểm chứng hầu như không còn ý nghĩa.
Trong việc dạy học cũng vậy.
Người Thầy không nên chỉ dạy học viên tìm những trường hợp chứng minh một câu phú đúng.
Nên hỏi thêm:
Nó không ứng trong trường hợp nào?
Tại sao không ứng?
Có điều kiện nào bị bỏ sót?
Có một cách giải thích khác hay không?
Nếu đổi giả thuyết thì dữ liệu có được giải thích tốt hơn không?
Một học viên chỉ được huấn luyện để chứng minh lời Thầy đúng thì có thể trở thành người thuộc bài rất tốt, nhưng khó trở thành người nghiên cứu độc lập.
Đôi khi người học viên lại chính là tấm gương của Thầy.
Một câu hỏi của người mới học có thể cho thấy phần giáo trình còn thiếu.
Một chỗ học viên liên tục hiểu nhầm có thể không chỉ vì học viên yếu, mà còn vì cách trình bày chưa rõ.
Một phương pháp mình thấy rất dễ nhưng cả lớp đều khó dùng có thể cần được dạy lại theo cách khác.
Nếu mọi vấn đề đều được giải thích bằng câu “học viên chưa đủ trình độ”, người dạy cũng mất đi một nguồn phản hồi rất quý.
Điều này càng rõ khi sử dụng AI và công nghệ.
Một hệ thống có thể được thiết kế rất công phu, prompt rất dài, tài liệu rất nhiều, cơ chế luận giải nghe rất hợp lý. Nhưng nếu kết quả trả về mất hai giờ, nội dung lặp, dẫn sai dữ liệu, hoặc người đọc vẫn không hiểu thì hệ thống ấy vẫn có vấn đề.
Không thể trả lời rằng về lý thuyết nó rất hoàn chỉnh.
Kết quả thực tế đang là một phần của bằng chứng.
Một cách dạy cũng vậy.
Nếu học viên nghe rất thích nhưng học xong vẫn không tự luận được, phải xem lại.
Một phương pháp tư vấn nếu người đến hỏi càng ngày càng lệ thuộc vào người tư vấn thì cũng cần xem lại.
Một cuốn sách rất uyên bác nhưng người học không biết sử dụng những gì đã đọc thì phải hỏi lại nó đang phục vụ mục đích nào.
Kết quả không phải thước đo duy nhất.
Nhưng không thể hoàn toàn bỏ kết quả ra khỏi việc tự đánh giá.
Vì vậy tôi rất thích tinh thần của câu:
「兼聽則明,偏信則暗。」
“Kiêm thính” không có nghĩa nghe ai cũng tin.
Càng không có nghĩa thấy quan điểm mới là chạy theo.
Nó chỉ nhắc mình đừng để một tiếng nói trở thành tiếng nói duy nhất.
Ngay cả khi tiếng nói ấy là của chính mình.
Người khác cũng có thiên kiến.
Dữ liệu cũng có thể bẩn.
Thống kê cũng có thể làm sai.
Cổ thư cũng có dị bản.
Thầy cũng có thể nhớ nhầm.
AI càng có thể trả lời sai.
Cho nên mở ra bên ngoài không phải để tìm một thẩm quyền mới thay mình quyết định.
Mà để có nhiều tấm gương cùng soi một vấn đề.
Sách soi kinh nghiệm.
Kinh nghiệm soi sách.
Thầy soi trò.
Trò cũng soi lại cách Thầy dạy.
Lý thuyết soi thực tế.
Thực tế buộc lý thuyết phải sửa.
Dữ liệu kiểm tra cảm giác.
Kinh nghiệm lại giúp ta biết dữ liệu đang thiếu điều gì.
Các phía giữ nhau thì cái học khó bị đóng kín.
Đây cũng là điểm khác nhau giữa tự trách và tự sửa.
Tự trách thường hỏi: “Tại sao mình lại tệ như vậy?”
Tự sửa hỏi: “Sai lệch xuất hiện ở bước nào?”
Một bên rất dễ làm con người mệt.
Một bên có thể biến sai lầm thành dữ liệu.
Đi một nước cờ sai, điều cần biết không phải mình có phải người chơi kém hay không, mà là vì sao lúc ấy mình chọn nước đó.
Luận một trường hợp sai cũng vậy.
Đọc một câu cổ thư sai cũng vậy.
Điều đáng giữ lại không chỉ là cảm giác hối tiếc.
Phải giữ lại cơ chế tạo ra sai lầm.
Nếu biết cơ chế, lần sau có thể tránh.
Nếu chỉ nhớ cảm giác, lần sau rất có thể sai theo cách cũ.
Người học càng lâu càng cần khả năng này.
Bởi sửa một điều khi mới học tương đối dễ.
Sửa một điều đã tin mười năm khó hơn.
Điều ấy đã được đưa vào giáo trình thì khó thêm một bậc.
Đã viết thành sách lại khó hơn nữa.
Đã trở thành một quan điểm mà nhiều người biết đến mình qua đó thì việc sửa không còn chỉ động tới kiến thức; nó còn động tới danh tiếng và hình ảnh của chính mình.
Đến lúc ấy mới thực sự biết người nghiên cứu coi trọng điều gì hơn:
điều mình đã nói,
hay điều mình vừa phát hiện là đúng hơn.
Không cần vì thế mà chạy theo mọi cái mới.
Cái cũ không sai vì nó cũ.
Cái mới cũng không đúng chỉ vì nó mới.
Cổ thư lại càng không nên bị bỏ đi chỉ vì phương pháp hiện đại xuất hiện.
Điều cần thay đổi là cách chúng ta kiểm tra cách hiểu của mình về cổ thư.
Mình đọc đúng chữ chưa?
Đoạn ấy thuộc văn bản nào?
Có dị bản không?
Văn cảnh trước sau nói gì?
Một cách giải thích là nghĩa của nguyên văn hay của chú gia đời sau?
Đem vào thực tế thì ứng đến mức nào?
Có trường hợp nào chống lại cách hiểu hiện tại không?
Đó mới là thái độ vừa tôn trọng cổ nhân vừa tôn trọng sự thật.
Sau cùng, quay lại xét mình vẫn là việc rất cần.
Nhưng đừng khóa cửa rồi tưởng rằng chỉ cần nghĩ thật lâu sẽ nhìn thấy mọi điểm mù của mình.
Người muốn thấy mặt mình cần gương.
Người nghiên cứu muốn thấy giới hạn của mình cũng cần gương.
Gương ấy có thể là một người bạn dám nói thật, một học viên hỏi khó, một trường hợp không ứng, một bản sách khác, một bảng dữ liệu, một kết quả thực tế hoặc một lần mình buộc phải thừa nhận: chỗ này trước đây tôi hiểu chưa đúng.
Đó không phải điều đáng xấu hổ.
Đó chính là lúc cái học còn sống.
「兼聽則明,偏信則暗。」
Nghe thêm để nhìn rõ hơn.
Nhưng cuối cùng vẫn phải tự mình phân biệt.
Tự xét để không đổ lỗi cho người khác.
Kiểm chứng để không tự lừa mình.
Hai việc ấy đi cùng nhau thì phản tỉnh mới thực sự trở thành một phương pháp học.
CÓ NHỮNG VIỆC KHÔNG GẤP, NHƯNG KHÔNG THỂ ĐỂ MUỘN
盛年不重來,一日難再晨;及時當勉勵,歲月不待人Thịnh niên bất trùng lai, nhất nhật nan tái thần; cập thời đương miễn lệ, tuế nguyệt bất đãi nhân.
Đào Uyên Minh trong 《Tạp thi – 雜詩》 có mấy câu:
「盛年不重來,一日難再晨。及時當勉勵,歲月不待人。」
Tuổi đang thịnh không trở lại lần nữa, một ngày cũng không có hai buổi sớm. Việc đáng làm thì nên làm đúng lúc, bởi năm tháng không đợi người.
Khi còn trẻ, người ta thường nghĩ thứ mình thiếu nhất là cơ hội. Đi thêm một đoạn mới thấy thứ dễ bị tiêu phí nhất lại là thời gian.
Không phải vì chúng ta không biết thời gian quý.
Ai cũng biết.
Chỉ là rất nhiều việc quan trọng trong đời không bắt mình phải làm ngay hôm nay.
Không tập thể dục một ngày, cơ thể chưa lập tức đổ bệnh. Không đọc thêm một cuốn sách, ngày mai kiến thức cũng chưa kém đi thấy rõ. Không gọi điện cho cha mẹ một tuần, gia đình vẫn ở đó. Không gặp một người bạn vài tháng, quan hệ chưa lập tức biến mất. Một khoản tiền tiêu quá tay cũng chưa khiến tài chính khó khăn ngay. Một phương pháp học không tốt vẫn có thể kéo dài thêm vài năm mà mình chưa nhận thấy hậu quả.
Bởi không có tiếng chuông báo động nên ta rất dễ nói:
“Để sau.”
Chính hai chữ ấy tích lại thành rất nhiều tiếc nuối.
Daniel H. Pink từng thực hiện một khảo sát quy mô lớn về sự tiếc nuối của con người, thu thập hàng vạn câu chuyện từ hơn một trăm quốc gia. Những câu chuyện rất khác nhau cuối cùng lại thường tụ về bốn nhóm: tiếc vì không xây được một nền tảng đủ vững; tiếc vì đã không dám nắm lấy cơ hội; tiếc vì từng làm điều trái với nguyên tắc của mình; và tiếc vì để những mối quan hệ quan trọng dần mất đi.
Điều đáng chú ý không nằm ở chữ “tiếc”.
Nó nằm ở chỗ: con người thường tiếc nhất chính những gì họ coi trọng nhất.
Người tiếc vì đã không giữ sức khỏe là vì đến cuối cùng mới hiểu thân thể quan trọng đến đâu.
Người tiếc vì chưa từng thử một việc mình rất muốn làm là vì trong lòng vốn mong được trưởng thành và bước sang một con đường khác.
Người nhiều năm vẫn day dứt vì đã làm trái lương tâm là bởi ở tầng sâu hơn, họ vẫn muốn mình là một người tử tế.
Người già rồi vẫn nhớ một cuộc điện thoại chưa gọi, một lần gặp đã hẹn mà không đi, là bởi tình cảm ấy chưa bao giờ thật sự nhẹ.
Nhìn theo cách ấy, tiếc nuối cũng có giá trị của nó.
Nó giống một bản báo cáo được gửi ngược từ tương lai về hiện tại, cho mình biết những thứ hôm nay đang coi là “chưa gấp” có thể một ngày trở thành “đã muộn”.
Trong đời sống của người học và làm nghề Huyền học cũng có rất nhiều việc như thế.
Ngày hôm nay không đọc cổ thư cũng chẳng sao.
Tuần này không ghi chép trường hợp đã luận cũng chưa thấy mất mát.
Một lần dùng tài liệu thứ cấp thay cho việc tìm bản gốc có vẻ tiết kiệm được khá nhiều thời gian.
Một câu mình chưa chắc nhưng vẫn tạm ghi nhớ theo lời người khác cũng chưa gây hậu quả gì.
Một năm không hệ thống lại những gì đã học vẫn có thể tiếp tục làm nghề.
Nhưng những khoản nợ nhỏ ấy tích rất lâu sẽ thành một khoảng trống lớn.
Đến khi muốn viết sách mới phát hiện mình không biết nhiều nhận định đã dùng suốt mười năm bắt đầu từ đâu.
Đến khi muốn kiểm chứng một phương pháp mới nhận ra những trường hợp trước kia không được lưu lại.
Đến khi muốn dạy học viên thật căn bản mới thấy có những khái niệm bản thân đã dùng thành thạo nhưng chưa bao giờ truy đến gốc.
Đến khi sức khỏe không còn như trước mới tiếc rằng nhiều năm đã coi việc ngồi đọc sách đến hai, ba giờ sáng là biểu hiện của chăm chỉ.
Những điều quyết định chất lượng của một đời học thường không phải những việc rất lớn.
Chúng nằm trong những việc bình thường được lặp lại lâu ngày.
Một ngày đọc mười trang.
Một trường hợp làm xong thì ghi lại.
Một câu cổ thư chưa rõ thì đánh dấu, không vội biến thành kết luận.
Một lỗi đã phát hiện thì sửa trong giáo trình.
Một phương pháp chưa kiểm chứng thì không nói như điều chắc chắn.
Mỗi năm dành thời gian quay lại xem những điều mình từng tin có còn đứng vững hay không.
Nhìn riêng từng việc đều rất nhỏ.
Nhìn hai mươi năm thì khác.
水滴石穿,繩鋸木斷。
Thủy tích thạch xuyên, thằng cứ mộc đoạn.
Nước nhỏ lâu ngày có thể xuyên đá; dây kéo mãi cũng có thể cắt được gỗ.
Cái học ít khi lớn lên bằng vài lần bừng ngộ.
Phần lớn nó lớn lên bằng những việc chẳng mấy ai nhìn thấy.
Sức khỏe cũng vậy.
Một người làm nghề trí óc rất dễ xem nhẹ cơ thể vì hậu quả thường đến chậm. Một đêm ngủ thiếu vẫn làm việc được. Một tháng không vận động cũng chưa thấy gì rõ. Ngồi quá lâu, ăn thất thường, làm liên tục nhiều năm, cơ thể vẫn cố gắng thích nghi.
Đến một thời điểm nào đó, những thứ tưởng như có thể “bù sau” lại không còn dễ bù.
Lúc ấy người ta mới nhận ra sức khỏe cũng là một dạng tích lũy.
Không phải hôm nay khỏe thì ngày mai chắc chắn khỏe.
Cũng không phải hôm nay chưa bệnh nghĩa là cách sống hiện tại không có vấn đề.
Trong nghề tư vấn, sức khỏe còn liên quan trực tiếp đến chất lượng công việc. Một người quá mệt khó giữ được sự tập trung. Mất ngủ dài ngày làm khả năng nhận định kém đi. Một lịch làm việc quá dày khiến người tư vấn dễ nói theo thói quen hơn là nghe kỹ trường hợp trước mặt.
Giữ thân vì thế không chỉ là chăm sóc cá nhân.
Đó còn là một phần trách nhiệm nghề nghiệp.
Nhưng có một loại tiếc nuối khác khó hơn: cơ hội đã đến mà mình không dám bước.
Có người đã từng muốn học chữ Hán nhưng nghĩ mình nhiều tuổi rồi.
Muốn nghiên cứu thêm một môn mới nhưng ngại trở thành người mới học một lần nữa.
Muốn viết sách nhưng cứ đợi đến khi “biết đủ”.
Muốn công bố một giả thuyết nhưng sợ bị phản biện.
Muốn bỏ một phương pháp đã nhận ra có nhiều vấn đề nhưng ngại rằng mình đã dùng nó quá lâu.
Muốn học công nghệ, dữ liệu, AI nhưng nghĩ những thứ ấy thuộc về thế hệ sau.
Nhiều năm trôi qua, thứ khiến người ta tiếc chưa chắc là đã từng thử rồi thất bại.
Có khi lại là chưa từng cho mình cơ hội biết liệu con đường ấy có đi được hay không.
Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa cứ có ý tưởng là phải làm ngay.
Can đảm không phải liều lĩnh.
Một người có gia đình, công việc và trách nhiệm không thể quyết định mọi thứ chỉ bằng cảm hứng.
Nhưng giữa “chưa đủ điều kiện” và “sợ nên cứ trì hoãn” có một khoảng cách rất lớn.
Điều đáng hỏi là:
Nếu ba năm nữa vẫn không làm, mình có tiếc không?
Nếu câu trả lời là có, ít nhất hôm nay nên bắt đầu chuẩn bị.
Muốn học chữ Hán thì học một ít.
Muốn viết sách thì bắt đầu lưu tài liệu.
Muốn nghiên cứu dữ liệu thì học cách tổ chức dữ liệu.
Muốn mở một hướng học mới thì dành một khoảng thời gian thử nghiêm túc.
Không nhất thiết phá bỏ cuộc sống hiện tại.
Chỉ cần đừng dùng chữ “sau này” để trì hoãn vô hạn một điều mình thực sự coi trọng.
Có một loại tiếc nuối khác lại không nằm ở việc đã làm được bao nhiêu, mà nằm ở việc mình đã trở thành người như thế nào trong lúc làm những việc ấy.
Một người có thể kiếm lại tiền.
Một dự án thất bại có thể làm lại.
Một hướng nghiên cứu chưa thành có thể bỏ rồi chọn hướng khác.
Nhưng có những quyết định làm người ta khó chịu với chính mình rất lâu.
Biết một điều chưa chắc mà vẫn khẳng định vì muốn giữ uy tín.
Biết một phương pháp có vấn đề nhưng không sửa vì đã bán khóa học dựa trên nó.
Dùng chuyện riêng của khách hàng làm ví dụ mà không nghĩ đến quyền riêng tư của họ.
Đẩy trách nhiệm cho học viên khi chính cách dạy của mình có chỗ chưa rõ.
Lợi dụng sự tin tưởng của người khác để bán thêm nỗi sợ.
Đôi lúc lợi ích nhận được rất nhỏ, nhưng cảm giác đã bước qua một giới hạn của chính mình lại ở lại rất lâu.
Con người sống được với người khác còn phải sống được với chính mình.
Cái khó của nghề không phải chỉ là làm đúng kỹ thuật.
Còn là nhiều năm sau nhìn lại, mình có chấp nhận được cách mình đã làm nghề hay không.
Đi càng lâu, câu hỏi ấy càng quan trọng.
Bởi một người có thể sửa một kiến thức sai.
Khó hơn nhiều là sửa một thói quen đã trở thành cách sống.
Vì vậy, có những giới hạn nếu đã biết là quan trọng thì nên giữ từ lúc việc còn nhỏ.
Không đợi đến khi có nhiều tiền mới học cách minh bạch.
Không đợi có nhiều học viên mới nghĩ đến trách nhiệm của người dạy.
Không đợi có danh tiếng mới học cách chịu phản biện.
Không đợi một vụ việc lớn xảy ra mới bàn đến quyền riêng tư.
Những nguyên tắc cũng giống sức khỏe: thường phải tích từ lúc chưa ai thấy nó cần thiết.
Nhưng có lẽ loại tiếc nuối khiến người ta day dứt nhất vẫn liên quan đến con người.
Một người làm nghề càng bận càng dễ mắc vào một ảo tưởng: việc hôm nay phải giải quyết ngay, còn người thân thì lúc nào gặp cũng được.
Khách đã hẹn thì phải đúng giờ.
Lớp đã mở thì phải chuẩn bị.
Bản thảo có hạn thì phải xong.
Tin nhắn công việc phải trả lời.
Nhưng cuộc gọi cho cha mẹ có thể để tối.
Bữa cơm với gia đình có thể sang tuần.
Người bạn cũ có thể “hôm nào rảnh gặp”.
“Hôm nào” là một ngày rất lạ.
Nó có rất nhiều trong lời nói nhưng không hề tồn tại trên lịch.
Rất nhiều mối quan hệ không mất đi vì một cuộc cãi vã lớn.
Chúng mỏng dần trong những lần “để hôm khác”.
Một cuộc gọi ít đi.
Một bữa cơm không có mặt.
Một người thôi kể chuyện vì nhiều lần mình đang bận.
Đến lúc nhận ra khoảng cách đã xa, đôi khi không còn biết bắt đầu lại từ đâu.
Đặc biệt với cha mẹ, thời gian không đi cùng một tốc độ với mình.
Người bốn mươi tuổi có thể nghĩ năm năm không quá dài.
Nhưng năm năm trong đời một người cha tám mươi tuổi là một tỷ lệ hoàn toàn khác.
Bởi vậy chữ “歲月不待人 – tuế nguyệt bất đãi nhân” có lúc không nên hiểu như một lời thúc ép phải làm được nhiều hơn.
Nó còn có thể hiểu theo hướng ngược lại:
Có những thứ đừng vì bận làm mà bỏ qua.
Người học thường sợ mình chưa đọc đủ sách.
Người làm nghề sợ mình chưa có đủ khách.
Người nghiên cứu sợ chưa tạo được công trình gì đáng kể.
Những lo lắng ấy đều có lý.
Nhưng một đời người không chỉ được tính bằng số sách đã đọc, số lớp đã dạy, số người đã xem hay số công trình đã để lại.
Nếu vì chúng mà sức khỏe kiệt đi, gia đình trở thành người xa lạ, bạn bè cũ lần lượt mất liên lạc, thì đến cuối cùng rất khó nói đó là một cuộc đời học hành trọn vẹn.
Điều này không có nghĩa tiền bạc, nghề nghiệp hay thành tựu không quan trọng.
Một người không có nền tảng tài chính tối thiểu cũng rất khó nghiên cứu lâu dài.
Một người không chịu làm việc mà chỉ nói đến gia đình và bình an cũng chưa chắc đã sống có trách nhiệm.
Vấn đề nằm ở thứ tự của sự ưu tiên.
Cái gấp luôn biết cách giành lấy thời gian.
Cái quan trọng thì thường im lặng.
Một email chưa trả lời sẽ hiện thông báo.
Một buổi họp sắp tới có lịch nhắc.
Khách đang chờ sẽ gọi.
Nhưng cơ thể đang yếu dần không gửi thông báo rõ ràng mỗi sáng.
Một mối quan hệ đang nhạt đi cũng không hiện cảnh báo trên màn hình.
Một năng lực đáng lẽ phải học trong mười năm tới không nhắc mình phải bắt đầu vào thứ Hai.
Một cuốn sách muốn viết khi còn đủ sức nhớ cũng không tự đặt hạn.
Chính vì vậy, những việc quan trọng nhưng không gấp cần được chủ động dành chỗ.
Không thể đợi có thời gian thừa.
Thời gian thừa rất hiếm.
Muốn đọc thì phải để thời gian đọc.
Muốn vận động thì phải có giờ vận động.
Muốn giữ một người bạn thì phải chủ động gọi.
Muốn ở gần cha mẹ thì phải đưa điều đó vào đời sống thật chứ không chỉ giữ trong ý nghĩ.
Muốn để lại một công trình thì phải viết từ khi chưa ai thúc.
Muốn giữ nguyên tắc nghề nghiệp thì phải thiết lập nó trước khi lợi ích xuất hiện.
Rất nhiều thứ tốt đẹp không mất đi vì chúng ta cố tình phá bỏ.
Chúng mất vì mãi được xếp sau những việc khác.
Tiếc nuối vì vậy không chỉ là cảm xúc hướng về quá khứ.
Nếu biết đọc nó, nó còn chỉ đường cho hiện tại.
Điều người khác tiếc có thể giúp mình hỏi trước:
Hai mươi năm nữa, điều gì hôm nay tôi sẽ ước mình đã làm?
Có thể là chăm sức khỏe sớm hơn.
Có thể là học một nền tảng cho thật chắc.
Có thể là dám thử một hướng nghiên cứu.
Có thể là giữ một nguyên tắc khi lợi ích trước mắt rất hấp dẫn.
Có thể chỉ là ăn thêm vài bữa cơm với cha mẹ.
Không ai biết chính xác mình sẽ tiếc điều gì.
Nhưng có một cách tương đối đơn giản để giảm bớt những tiếc nuối không cần thiết: đừng để mọi thứ mình thực sự coi trọng đều phải chờ đến khi nó trở thành việc khẩn cấp.
Sức khỏe đừng đợi đến bệnh mới chăm.
Cái học đừng đợi đến lúc phải dạy mới học.
Tình thân đừng đợi đến khi xa mới giữ.
Nguyên tắc đừng đợi đến lúc bị thử thách mới nghĩ xem mình có nguyên tắc nào.
Một điều thật sự muốn làm cũng đừng đợi đến khi hoàn toàn không còn sợ mới bắt đầu.
Đào Uyên Minh viết:
「盛年不重來,一日難再晨。」
Một ngày không có hai buổi sớm.
Có những cơ hội còn có thể tìm lại.
Có những sai lầm còn sửa được.
Tiền mất có thể kiếm.
Một cuốn sách đọc muộn vài năm vẫn còn đó.
Nhưng cũng có những thứ qua một lần là khác.
Sức khỏe ở một giai đoạn.
Tuổi của cha mẹ.
Thời thơ ấu của con.
Một người bạn còn muốn gọi cho mình.
Sức lực để bắt đầu một việc khó.
Và chính mình của ngày hôm nay.
Bởi vậy, 「及時當勉勵」 không nhất thiết là cố làm thật nhiều trước khi quá muộn.
Có khi chỉ là đủ tỉnh táo để nhận ra việc nào đáng được đặt vào hôm nay.
Rồi làm nó.
Một chút cũng được.
Bởi năm tháng quả thực không chờ người.
Bài cùng tuyển tập
Đây là bài 47/51 trong tuyển tập Học và làm nghề tư vấn Huyền học.
- Bài trước: Có tâm chưa đủ, còn phải có cách làm để người khác có thể tin
- Bài sau: An cư cũng là một phần của đường học