Luận giải các sao chính tinh – Tử vi đại toàn

1. Tử Vi

Thuộc Thổ, là sao chí tôn trên bầu trời, Nam Bắc đẩu, hóa Đế, chủ Quan Lộc.

Tử Vi nhập cung mệnh, mặt dài vuông vắn hay tròn trịa, sắc tím hay trắng xanh, vùng eo có nhiều thịt, béo vừa phải. Vẻ ngoài trung hậu, ổn trọng dày dạn, khiêm cung chính trực, có khí chất tôn quý, có năng lực lãnh đạo tốt, quan hệ giao tiếp rộng rãi nhưng sau khi thành công lại có sự bảo thủ nhất định. Người có Tử Vi nhập mệnh đều học rộng, lời lẽ nghiêm nghị, có lễ tiết, cho người khác cảm giác có thể tin tưởng. Rất coi trọng danh lợi, khi mưu cầu theo đuổi thì thái độ tích cực nhiệt tình, nhưng một khi đạt được mục đích rồi thì bỏ qua không để ý nữa. Cao ngạo tự đại, hay làm ra vẻ, một mặt tình cách cố chấp, một mặt khác lại dễ bị lay động bởi lời nói của người khác, đây cũng là một trong số những đặc trưng vốn có của Tử Vi. Nữ mệnh Tử Vi, da trắng mịn, hơi béo, vẻ ngoài đoan trang, nhìn vào là tướng quý phu nhân.

  1. Sao Tử Vi có năng lực chế hóa, có thể làm tăng tốt giảm xấu, hung tinh đồng cung hay gia hội Tử Vi thì có thể làm giảm thiểu tính hung.
  2. Sao Tử Vi là sao đại cát, tượng là bậc quân vương, hoàng đế. Sở dĩ là bậc quân vương nên cần có văn thần võ tướng ở bên hầu cận. Nếu Tử Vi được Thiên Phủ, Thiên Tướng, Lộc Tồn, Thiên Mã, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tam Thai, Bát Tọa, Long Trì, Phượng Các, Ân Quang, Thiên Quý, Thai Phụ, Phong Cáo… đồng cung hoặc gia hội thì rất phú quý. Bởi sách xưa có viết: “TửVi ngộ Thiên Phủ, TảHữu, Xương Khúc, Lộc Mã tam hợp cực cát, thực lộc thiên chung, cự phú đại quý”. Tử Vi đặc biệtthích Hóa Quyền, hội Tả Hữu hoặc Xương Khúc, chủ quyền quý, nếu không có cát tinh tương trợ thì gọi là “cô quân”, chỉ là một nhân viên làm công ăn lương.
  3. Đếngộ hung đồ, tuy hoạch cát nhi vô đạo”, chủ người gian trá nhưng giả vờ thiện lành, cuộc sống tất làm việc xấu. Ở đây nói đến Tử Vi dữ Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Kiếp, Địa Không các hung sát tinh đồng cung hoặc gia hội, trở thành “vô đạo chư quân”. Dù cao thấp quý tiện, đều là người tâm thuật bất chính, hay giả dối, gian trá, ngạo mạn, nhất là Tử Vi dữ Kình Đà Hỏa Linh đồng cung càng mạnh, dữ Không Kiếp đồng cung tương đối nhẹ..
  4. Tôn tinh lạc tiện vị, chủ nhân đa lao”, như Tử Vi lạc bốn cung tật ách, huynh đệ, nô bộc, phụ mẫu, chủ người này vất vả, làm việc khó thành, tuy có sự trợ giúp cũng không phải là phúc, nhưng nếu tam phương tứ chính mệnh cung có cát tinh thì không được luận như trên, tuy nhiên vẫn chủ vất vả.
  5. Tử Vi cư sửu mùi, đồng cung với Phá Quân, cư thìn tuất, Phá Quân đối cung, nếu không có cát tinh đồng cung hay hội chiếu, chủ là thần bất trung, là con cái bất hiếu, tuy rằng không nhất định đều như vậy, nhưng người này tình cảm mãnh liệt, có tâm lý phản kháng tiềm tàng, cuộc sống thiếu sự thuận lợi. Gia cát tinh không luận như trên.
  6. Tử Vi dữ Lộc Tồn đồng cung, trời sinh tài vận thịnh vượng, phú quý song toàn, người
  7. này có năng lực quản lý kinh doanh tốt, nếu lại hội thêm cát tinh, tất đại phú đại quý, tuyệt đối không sống cuộc đời bình thường, nếu không phải quan cao chức trọng nhiều tiền lộc, thì tất là bậc đại phú ông. Sách viết: “TửVi Lộc Tồn đồng cung, quý bất khả ngôn”.
  8. Tử Vi dữ Địa Kiếp, Địa Không đồng cung hay bị Địa Không, Địa Kiếp giáp chế, lại gặp Tuần Không, Triệt Không hay Hoa Cái thì tinh thần hư không hay nội tâm cô đơn, có khuynh hướng triết học, tôn giáo, thần bí học, chiêm tinh học, người này hay chú ý đến những hư danh bên ngoài. Tử Vi đồng cung cùng không vong, lục thân thường duyên bạc, hôn nhân không tốt, không nhờ cậy được con cái.
  9. Tử Vi dữ Văn Khúc, Văn Xương đồng cung chủ quý, trong xã hội có danh tiếng, là người có tài năng văn nghệ, đa tài đa nghệ, phú quý, danh tiếng cũng lớn, nếu lại hội Tả Hữu, Lộc Tồn hay cát Hóa (Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa) thì chủ đại phú đại quý.
  10. Tử Vi dữ Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, chủ người hành sự có kế hoạch, hào hiệp trượng nghĩa, có tài lãnh đạo người khác, hợp trở thành ông chủ ông ty, hay quan chức nhà nước, bậc danh tiếng xã hội, hội càng nhiều cát tinh thì càng phú quý. Sách viết: “TửVi PhụBậtđồng cung, nhất hô bách nặc, cư thượng phẩm”.
  11. Tử Vi dữ Tham Lang đồng cung cư mão dậu là “Đào hoa phạm chủ”. Là người dễ gần tửu sắc, tính dục lớn, nếu lại gặp thêm các đào hoa tinh (Đào Hoa, Thiên Diêu, Mộc Dục, Văn Khúc), nam thì là kẻ háo sắc, nữ thì dâm bôn. Dữ Kình Đà Hỏa Linh đồng cung hoặc gia hội, dù có phú quý cũng là kẻ tà dâm, bất trung bất nghĩa, nữ mệnh lẳng lơ, lạc phong trần.
  12. Tử Vi hóa Quyền hoặc hóa Khoa càng thêm quang huy, cực kỳ cát lợi. Hóa Quyền nhập mệnh, tất nắm quyền lớn, nhập vào cung quan lộc cũng vậy; Hóa Khoa, tất có danh tiếng, tuy có lúc chỉ là hư danh bên ngoài, hoặc hữu danh vô thực; cả hai đều chủ phú quý. Hoặc Tử Vi hóa Quyền hay Tử Vi hóa Khoa cư tam phương chiếu Mệnh cung, cũng là điều cực kì tốt, hội Tả Hữu Xương Khúc Lộc Tồn, chủ đại phú quý.
  13. Tử Vi dữ Kình Đà đồng cung, khư khư cố chấp, tính tình ngoan cố, thích mạo hiểm, cuộc sống nhiều thị phi trắc trở.
  1. Tử Vi không gặp cát tinh thì khó có ngày phú quý, nếu đồng thời cũng không gặp sát tinh, thì chỉ có hư danh.
  1. Nữ mệnh Tử Vi nhập mệnh, hội cát tinh thì thanh tú, vượng phu ích tử, là quý phu nhân. Nếu như tam phương tứ chính và cung phu thê, cung tử tức, cung phúc đức gia các sát tinh Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hình Diêu thì ngược lại chủ dâm tiện hình khắc, vẻ ngoài đoan chính cao quý, thật ra dâm đãng vô sỉ, hôn nhân không tốt, tái giá. Cuộc sống tình cảm cuộc sống không thuận lợi, có nhiều ngang trái.

Tử Vi cư tý ngọ

Tử Vi cư tý ngọ độc tọa. “TửVicư tý ngọ, Khoa Quyền Lộc chiếu tối vi kì”. Ngọ cung tốt hơn Tý cung nhiều, vì Tử Vi ở Ngọ cung nhập miếu, ở Tý cung là bình hòa, nhàn cung. Bất luận Tý Ngọ, đều chủ cá tính độc lập, tư tưởng nhạy bén cao siêu, tài cán ưu tú.

Tử Vi cư đây thích dữ các cát tinh Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt đồng cung hay hội chiếu, tất là bậc nhân sĩ nổi danh. Nếu không có cát tinh phụ tá tất là bậc cô vương, có xu hướng mơ tưởng viễn cảnh xa xôi, ăn nói khoa trương to lớn nhưng hành động thì không được bao nhiêu, không có khả năng thực hiện, thường gặp trắc trở đả kích, bất mãn với hiện thực. Không có thêm cát tinh, lại hội không vong, thường là thuật sĩ bôn ba khắp nơi.

Nữ mệnh gia sát tinh, dục vọng thống trị mạnh mẽ, nhưng vì Thất Sát trấn thủ cung Phu thê, vì khắc phu mà tái giá.

Tử Vi cư Ngọ, người gặp cách này phần nhiều là phú quý, có danh vọng cao trong xã hội. Là người có lý tưởng cao lớn, thích ban phát mệnh lệnh. Người sinh năm Giáp Ất Đinh Kỷ Nhâm, tam hợp có cát tinh, là bậc công khanh. Người sinh năm Giáp đắc cách “Song lộc triều viên”, cung tài bạch Vũ Khúc hóa Khoa, Lộc Tồn đồng cung, cung quan lộc Liêm

Trinh hóa Lộc, đại cát, cả đời tất phú quý song toàn, địa vị hiển hách. Người sinh năm Kỷ Lộc Tồn ở Mệnh cung, cung tài bạch Vũ Khúc hóa Lộc cũng được “Song lộc triều viên”, cũng là bậc phú quý. Người sinh năm Canh Lộc Tồn ở cung phúc đức, cung tài bạch Vũ Khúc hóa Quyền, xuất thế vinh hoa. Người sinh năm Đinh Tử Vi và Lộc Tồn đồng cung cư mệnh cung, cũng có phú quý. Người tuổi Ất mệnh Tử Vi hóa Khoa, danh tiếng lớn, Đà La cư cung tài bạch, thích hợp kinh doanh mà giàu có, nhưng hay gặp rắc rối về tiền bạc. Người sinh năm Bính Mậu có Kình Dương cư cung mệnh, thành bại bất nhất, lại mang tật. Người sinh năm Quý Lộc Tồn cư Tý tương đối, là cự phú.

Tử Vi cư Tý, kém xa cư Ngọ, người sinh năm Giáp Ất Đinh Kỷ Canh Quý giàu có, là cách tài quan.

Tử Vi cư sửu mùi, Phá Quân đồng cung

Tử Vi cư sửu mùi, Phá Quân đồng cung, cá tính cương trực độc đoán quả quyết, có ý thức sáng tạo, duyên với người khác giới tốt, hai sao này đồng cung đa phần là người tình cảm mãnh liệt.

Tử Phá Sửu Mùi cung, Quyền Lộc vịtam, tiền hữu cát diệu lai hô, tất đương đại quyền chưchức”. Ở Mùi tốt hơn ởSửu, nếu cóTảHữu,Xương Khúc đồng cung hay giápcung mệnh,hoặc đắc cát hóa, cát tinh gia hội, tất nắm quyền lớn, thường làm trụ cột trong các lĩnh vực như công thương, hành chính, kiến trúc phòng ốc… hay nổi danh với đời bằng năng lực kĩ thuật chuyên môn. Người sinh năm Giáp Ất Mậu Kỷ Canh Nhâm phú quý. Người tuổi Quý Phá Quân Hóa Lộc giàu có.

Gặp Lộc Mã, thích hợp kinh doanh sẽ phát tài. Gặp Kình Dương, Đà La đồng cung hay hội chiếu, chỉ hợp kinh doanh.

Không hội cát tinh mà hội sát tinh, bất trung bất hiếu, thường là quan lại cấp nhỏ cư địa phương, hung ác vô lại, tư lợi gian lận, ở ngoài hay dính vào các việc phi nghĩa, thường để lại tiếng xấu trong xã hội. Sách viết: “Tử Vi Phá Quân, vôTảHữu,vô cát diệu, hung ác tư laichư đồ”. Không ít viên cảnh sát có cách cục này.

Tử Vi cư dần thân, Thiên Phủ đồng cung

Tử Vi cư dần thân, Thiên Phủ đồng cung, cả đời phúc dày, nếu các phương đều cát thì luận như trên. “Tử Vi Thiên Phủ, toàn y Phụ Bật chi công”, Tử Vi ở Dần Thân nếu có Tả Phụ hoặc Hữu Bật đồng cung hay hội chiếu, tốt đẹp, cát lợi gia tăng.

Tử Phủ Dần Thân, cuộc sống có tài sản địa vị và danh tiếng, tuy nhiên tinh thần lại có lúc cảm thấy trống rỗng hư hao, cô đơn, duyên với lục thân mỏng. Hội Kình Đà Hỏa Linh, gian trá, giả dối. Lạc không vong, cô lập, duyên với lục thân bạc. Hội Phụ Bật, có địa vị cao. Hội Xương Khúc, danh tiếng lớn, tài sản nhiều. Phụ Bật Xương Khúc đồng cung hội chiếu, hưởng ân vinh lớn, tất là bậc nhân sĩ quyền quý, người quan trọng giới chính trị, danh tiếng trong xã hội

Người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ, cả đời hưởng phúc. Người sinh năm Giáp có Lộc Tồn đồng cung, cung tài bạch Liêm Trinh hóa Lộc, cung quan lộc Vũ Khúc hóa Khoa, cả đời phú quý, hội Tả Hữu Xương Khúc, quý đến cực phẩm. Nữ mệnh, gặp ác sát, tái giá, người sinh năm Nhâm Giáp thì phú quý.

Tử Vi cư mão dậu, Tham Lang đồng cung

Tử Vi cư mão dậu, Tham Lang đồng cung, là người khá hào sảng thẳng thắn, phản ứng nhanh nhẹn, tiêu tiền hào phóng, giỏi xã giao, đầu óc linh hoạt, có năng lực ngoại giao và năng lực làm việc tốt.

Tham Lang là đại đào hoa tinh, đồng cung với Tử Vi ở Mão Dậu, là cách cục “Đào hoa phạm chủ”, háo tửu sắc, là người phong lưu, tươi đẹp, ngộ Đào Hoa, Mộc Dục, Thiên Hỉ, Đại Hao tinh tất dâm không thể nói hết được.

Dữ một trong các sao Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật, Xương Khúc, Văn Xương, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì có thể luận là tốt, cát tinh càng nhiều thì phú quý càng nhiều. Nếu không có Phụ Bật Xương Khúc giáp chế, tất đào hoa phạm chủ thì là người vô dụng, bất trung bất nghĩa, tâm thuật bất chính, gian trá, thường giao thiệp qua lại với những người không ra sao. Đồng cung với Xương Khúc, có phú quý nắm quyền, quan vận thanh danh, nhưng là người đa hư thiểu thực, nói không giữ tín.

Thấy Hỏa Tinh hay Linh Tinh đồng cung, là quý cách, có Hỏa Linh hội cũng là quý cách, nếu Hỏa Linh ở Mệnh cung thì càng đẹp. Người sinh năm Ất Mậu Kỷ Tân Nhâm thì tốt,

thuận lợi. Người sinh năm Giáp Canh dù quý nhưng không được dài lâu. Hội Không Kiếp Tứ sát, tôn giáo tin ngưỡng hoặc là tăng ni đạo sĩ, hoặc là thuật sĩ giang hồ.

Không Kiếp đồng cung cư Mệnh cung, giỏi thuật thần tiên, có nhiều nghiên cứu và sở thích với tôn giáp, chiêm bốc, đông y, thần học, khí công… nếu theo đuổi tu luyện khí công hay pháp thuật có thể đạt trình độ tương đối cao.

Vũ Khúc Phá Quân thủ Tài Bạch cung, hội sát tinh đồng cung, bản tính lãng phí, không tụ tài, tiền tài đến tay thì hóa hư không.

Nữ giới, đa phần gợi cảm, dung mạo xinh đẹp, được nhiều người theo đuổi, cuộc sống tình cảm cuộc sống không bình ổn, tình yêu không thuận, tất phải trải qua nhiều lần yêu đương. Hội Kình Đà Xương Khúc Thiên Diêu, nhu cầu đời sống tình dục lớn, dâm dục, cả đời có nhiều quan hệ với nam giới, hay lạc vào chốn phong trần, làm thân ca kĩ, cung Phu Thê, cung Tử Tức, cung Phúc Đức nếu gặp hung tinh thì càng nguy hiểm.

Cung mệnh cư mão dậu vô chính diệu, đối cung là Tử Vi Tham Lang bản cung vô chínhdiệu, nên luận đối cung. Thiên Phủ, Thiên Tướng cùng hội Mệnh cung, không có Tứ sát Không Kiếp, chủ đời sống vật chất đầy đủ, cuộc đời vui vẻ. Người này có tôn giáo tín ngưỡng hay ưa thích văn hóa thần bí, tư tưởng đơn thuần, ôn hòa hướng nội, hiểu tâm ý người khác, thích tĩnh không thích động, ổn trọng từ tốn, hiệu quả làm việc không nhanh.

Đây là “Phủ Tướng triều viên cách”, cả đời sự nghiệp tương đối ổn định, hợp đảm nhiệm công việc trong cơ cấu nhà nước, không thích hợp tự làm chủ. Người sinh năm Ất Bính Mậu Tân Nhâm hội Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, cũng chủ phú quý, có quyền thế. Đối cung Tử Vi Tham Lang, dữ Hỏa Linh đồng cung chủ cát lợi.

Tử Vi cư tỵ hợi, Thất Sát đồng cung

Tử Vi cư tỵ hợi, Thất Sát đồng cung, cá tính kiên cường, cố chấp, có năng lực kinh doanh, quản lý ưu tú, khả năng nhẫn nại tốt, trí sự nghiệp lớn mạnh, luôn muốn phát triển lên, hay được sự giúp đỡ của quý nhân trên con đường thăng tiến.

Tử Vi Thất Sát được Lộc Tồn đồng cung tức hóa thành Quyền, lại là điều tốt, gặp Xương Khúc Lộc Tồn, luận là cự phú, đại quý. Cung tài bạch có Vũ Khúc Tham Lang được Nhật Nguyệt giáp, thích hợp làm chủ, gia thêm Hỏa Linh ở cung tài bạch thì có cơ hội hoạnh phát tiền tài.

Hội không vong, dựa bóng hư danh, sau khi chết có chút danh tiếng. Hội Tứ sát, không quý, cô độc, hình thương. Hỏa Linh cư cung mệnh, tuy phú quý nhưng gian trá. Đà La cư cung mệnh, khó tránh khỏi cảnh tù lao.

Người sinh năm Bính Mậu Nhâm, Tử Vi Thất Sát hóa là Quyền, phúc dày, có thể tay trắng làm nên cơ nghiệp, kinh doanh đại phát, phú quý. Xương Khúc hội, quý hiển. Người sinh năm còn lại phú quý đều ít.

Nữ mệnh Tử Vi Thất Sát là người chú tâm đến sự nghiệp, thường lấy chồng giàu sang.

Tử Vi cư thìn tuất, Thiên Tướng đồng cung

Tử Vi cư thìn tuất, Thiên Tướng đồng cung, Thìn là thiên la, Tuất là địa võng, chủ cuộc sống nhiều trắc trở, không hội cát tinh mà hội sát tinh thì là thần bất trung, là con bất hiếu, tình nghĩa sơ bạc. Hai sao trên đồng cung hội cát tinh chủ người dũng cảm kiên cường, có trí lớn sự nghiệp, thường phú chứ không quý, có hư danh. Hội Tả Hữu Xương Khúc, nắm quyền uy. Hội Kình Đà, chỉ hợp kinh doanh. Hỏa Linh xung phá có thương tật.

Người sinh năm Giáp Ất Canh Kỷ Quý, tài quan song mỹ. Người tuổi Giáp, Liêm Trinh hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, Vũ Khúc hóa Khoa, cự phú, cư cung Tuất càng đẹp, vì hội chiếu Lộc Tồn từ cung Dần. Người tuổi Ất, Tử Vi hóa Khoa, được Thiên Cơ hóa Lộc bên cạnh, Thiên Lương hóa Quyền giáp, phú quý. Người tuổi Kỷ Vũ Khúc hóa Lộc, lập mệnh cư Tuất “Song lộc triều viên”, lập mệnh cư Thìn gia hội Khôi Việt, phú quý khả kì. Người tuổi Canh Vũ Khúc hóa Quyền, lập mệnh cư Thìn, có Lộc Tồn ở cung Thân và Vũ Khúc hóa Quyền ở cung Tý chiếu, phú quý. Người sinh năm Quý, đối cung Phá Quân hóa Quyền, lập mệnh cư Thìn, đồng thời hội Lộc Tồn từ cung Tý, song lộc triều viên, phú quý.

Nữ mệnh tướng mạo đẹp đẽ có khí chất, nhưng Tham Lang trấn thủ cung phu thê, gia sát tinh tất phải tái giá.

2. Thiên Cơ

Thuộc Mộc, Nam đẩu đệ tam tinh, hóa khí là Thiện, chủ Huynh Đệ.

Thiên Cơ nhập mệnh, thân hình vừa phải, trung bình, nhập miếu thì béo, lạc hãm thì tương đối gầy, thông thường ở trạng thái béo vừa phải. Hội cát tinh, tâm tính hiền lành, hiếu nghĩa với lục thân, vẻ ngoài đoan chính ổn trọng, hành sự có phương pháp.

Tính cách của Thiên Cơ tương đối gấp, có ý chí ứng biến cơ động linh hoạt, phản ứng đàu óc mẫn thiệp, tốc độ nói nhanh, cuộc sống lao tâm. Ham học hỏi tìm kiếm tri thức, đa học đa năng, nhưng chỉ chuyên tâm vào một thứ thì tốt.

Có hứng thú và sự yêu thích với triết học, tôn giáo, các sự vật thần bí.

Thiên Cơ cư mệnh, chỉ cần không hội các hung tinh đồng cung, thì trọng tình cảm, vui vẻ giúp đỡ người khác, tâm tính thẳng thắn bộc trực.

Người có Thiên Cơ tọa mệnh tướng đối giỏi xã giao, lên kế hoạch, phân tích, túc trí đa mưu, hành sự có lí lẽ, có năng lực thiết kế sáng sạo.

Thiên Cơ là một sao động, thường hay suy nghĩ nhiều, đứng núi này trông núi khác, vì vậy có xu hướng không bám sát thực tế. Hội sao xấu thì thích cờ bạc.

Nữ giới có Thiên Cơ nhập mệnh, tính tình cương cường, nắm quyền trong nhà. Tính tình hiền lành, chăm chỉ hiếu thuận, cơ trí linh hoạt, hay suy nghĩ, đối với người khác nhiệt tình hào phóng, nếu được cát tinh củng chiếu thì vượng phu ích tử, có Quyền Lộc thì là bậc quý phu nhân.

  1. Thiên Cơ và Thiên Lương đồng cung, hoặc Thiên Cơ ở cung mệnh, Thiên Lương ở cung Thân, người này tất có tài nghệ cao.
  2. Thiên Cơ và Thiên Lương, Tả Phụ Hữu Bật, Văn Xương Văn Khúc hội, văn học tinh thông, võ học trung lương, lại hội Khôi Việt Khoa Quyền Lộc, có vị trí chức quyền cao, hội Lộc Mã, tài sản giàu có.
  3. Thiên Cơ nếu cư hãm địa, Kình Đà Hỏa Linh xung phá, là hạ cách, dù có cung tài bạch giàu có cũng không được dài lâu. Thích hợp buôn bán nhỏ, vẫn sẽ đổi ngành, nếu không sống đời xảo kĩ nghệ thuật, dựa vào kĩ thuật mà sỗng qua ngày.
  4. Thiên Cơ đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh, dễ gặp nạn chảy máu, cuộc sống thường gặp chuyện kinh sợ, xử sự xung động, dễ mù quáng mà đưa ra quyết định, bình thường luôn có vẻ bận rộn. Thiên Cơ cư cung hãm địa đồng cung với Kình Đà, cuộc sống nhiều thị phi, sống đời đầu trộm đuôi cướp, có ý thức phạm tội và họa tù tội. Nếu Thiên Cơ cư tỵ hợi đồng cung với Đà La, dễ dính lao tù.
  5. Thiên Cơ đồng cung với Không Kiếp, cuộc sống thường gặp khó khăn thất bại, từ đó thất vọng với xã hội, sản sinh khuynh hướng trốn tránh hiện thực, tư tưởng siêu thoát, chuyển hướng nghiên cứu triết học, tôn giáo, huyền học.
  6. Thiên Cơ đồng cung với Xương Khúc, chăm chỉ phấn đấu ham học hỏi, khả năng thiên phú cao, văn vẻ tốt, thông minh hơn người, trí nhớ tốt, giàu tinh thần nghiên cứu, dễ thành danh ở phương diện kĩ thuật, học thuật.
  7. Thiên Cơ hóa Lộc, thông minh tài trí, giao thiệp rộng, quan hệ xã giao tốt, một đời tài vận tốt, nhiều biến động.
  8. Thiên Cơ hóa Quyền, là người cố chấp, tình tính cổ quái, có thể thao túng quyền binh, giàu mưu trí kế lạ, cuộc sống cũng có nhiều chuyện thay đổi.
  9. Thiên Cơ hóa Khoa, là người thanh bạch, thông minh cơ trí, danh tiếng khắp nơi.
  10. Thiên Cơ hóa Kỵ, không hợp kinh doanh, chỉ hợp nghiên cứu học vấn, theo đuổi phát minh sáng tạo. Tính tình hay thay đổi, cuộc sống không thuận, nhiều trắc trở, hay nghĩ vào ngõ cụt, hay hoang tưởng, bi quan, tuyệt vọng, có hứng thú với tôn giáo, triết học, bói toán… Đồng cung hay hội với hung tinh thường đoản thọ, thậm chí phạm tội bị bắn giết hay tự sát.
  1. Thiên Cơ, Thiên Lương, Kình Dương hội, sớm có hình mà về muộn mới thấy cô đơn, nữ mệnh nên làm vợ hai hoặc kết hôn muộn.

Thiên Cơ cư tý ngọ

Nhập miếu độc thủ. Là người trọng đạo, có lúc cũng rất tự phụ, vì vậy khiến người khác không thoải mái.

Thân hình thường béo, đầy đặn, thường có năng lực kĩ thuật chuyên môn, dễ theo đuổi các công việc kĩ thuật, thương đảm nhiệm chức vụ cư cơ cấu nhà nước, là bác sĩ, kĩ sư, kiến trúc sư, luật sư, nhân viên kế hoạch, nhà thiết kế, biên tập…

Người sinh năm Ất Bính Đinh Kỷ Canh Nhâm Quý, tài quan song mỹ. Người sinh năm Ất, Thiên Cơ hóa Lộc, Thiên Lương hóa Quyền; người sinh năm Đinh, Lộc Tồn cư cung Ngọ, cung quan lộc Thái Âm hóa Lộc, cung tài bạch có Thiên Đồng hóa Quyền, mệnh cung Thiên Cơ Hóa Khoa, lại hội Tả Hữu Xương Khúc, là cách lãnh tụ, là quan chức cấp

bộ trưởng trở lên; người sinh năm Kỷ cung Ngọ có Lộc Tồn, cung tài bạch Thiên Lương hóa Khoa, Thiên Khôi đồng cung hoặc xung chiếu; người tuổi Canh Thiên Đồng hóa Khoa, Lộc Tồn cư Thân, lập mệnh cư Tý tốt đẹp thuận lợi; người tuổi Nhâm Thiên Lương hóa Lộc, nhưng hội Kình Dương, phúc không đẹp hoàn toàn; người tuổi Quý Lộc Tồn cư Tý, Thái Âm hóa Khoa, cung thiên di Cự Môn hóa Quyền, phú quý.

Nữ mệnh, có đạo duy trì gia đình, hội cát tinh, phúc thọ song toàn. Riêng Thiên Cơ cư Tý, không lợi cho hôn nhân.

Thiên Cơ cư sửu mùi

Lạc hãm độc thủ. Tứ sát xung phá, hạ cách, thích hợp kinh doanh hoặc xảo nghệ mưu sinh, hội nhiều sao xấu thì sống đời đầu trộm đuôi cướp.

Lương thiện trung hậu hướng nội, trọng tình cảm, không thích so đo với người khác, thường địa vị không cao.

Người sinh năm Bính Đinh Nhâm, tài quan song mỹ. Người sinh năm Bính, Lộc Tồn cư Tỵ, cung tài bạch Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền, lập mệnh cư Sửu, Khoa Lộc củng chiếu, hợp cách Lộc, có thể phú quý, riêng nữ mệnh tình cảm không lợi; người sinh năm Đinh cung tài bạch Thiên Đồng hóa Quyền, Thiên Cơ hóa Khoa; người tuổi Nhâm đối cung Thiên Lương hóa Lộc, Lộc Tồn cư Hợi, nếu lập mệnh cư Mùi thì tốt, hội Phụ Bật Xương Khúc, theo văn thì là người thanh hiển, theo võ thì là bậc trung lương; người sinh năm Ất thì hội Lộc tốt đẹp thuận lợi.

Thiên Cơ cư dần thân, Thái Âm đồng cung

Một đời hay đi lại, khó tránh việc tha hương, nam nữ đều dễ gặp cảnh đào hoa ngoại tình, dễ hợp với người khác. Là người tính tình ôn hòa, tiến thoái không dứt khoát. Như Thiên Mã cư mệnh cung hay cư thiên di cung, cuộc sống tất hay ở ngoài, đi xa, rời xa nơi sinh ra mà đến phương xa sinh sống, thậm chí di cư sang nước ngoài. Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương hội, là cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, không hợp tự mình làm chủ, thường phục vụ trong cơ cấu nhà nước, theo đuổi việc thiết kế, kế hoạch hay những công việc xử lý; thường đi công tác bên ngoài.

Tử Vi Thiên Phủ giáp mệnh, hội cát tinh tính tình lạc quan, hài hước, cuộc sống vui vẻ, có thể trở thành quý cách.

Người sinh năm Giáp Bính Kỷ Quý, tài quan song mỹ. Người sinh năm Bính có cát diệu hội, chủ đại quý. Tứ sát đồng cung, nam thì làm nô bộc, nữ thì thành thân người ca xướng. Xương Khúc đồng cung, nam nữ tình cảm đều phức tạp, chủ thông cơ cơ xảo, nếu lại không gặp cát tinh, nam dễ là người phục tùng kẻ dưới, thường làm nhân viên, nữ mệnh thì thường làm những công việc có tính chất phục vụ, dễ hồng hạnh vượt rào, thậm chí trở thành ca kĩ.

Thiên Cơ Thái Âm cư dần thân, nữ mệnh xinh đẹp đa tình, tuy phú quý nhưng khó tránh dâm dật, phúc không đẹp hoàn toàn, thích hợp làm các việc làm đẹp, hộ lý, tiếp thị mỹ phẩm, hướng dẫn viên du lịch… Tứ sát xung phá, chủ dâm tiện, hoặc là người tình, ca kĩ, chủ hình khắc, xem thêm cung phu thê, cung phúc đức để gia giảm.

Cung mệnh cư dần thân vô chính diệu, cung xung chiếu là Thiên Cơ Thái Âm bản cungvô chính diệu, thì luận đối cung. Cự Môn Thái Dương củng chiếu, cũng là kì cách, mệnh cung cư Dần tốt hơn cư Thân.

Là người hảo sảng, nhiệt tình, hướng ngoại, ngôn từ phong phú hay nói, thích pha trò, giao du rộng, cuộc sống thường gây hiểu nhầm cho người khác.

Xương Khúc cư cung mệnh, giàu khả năng văn nghệ, cũng có tài học hơn người, nhưng là người hư nhiều thực ít. Đà La Hỏa Linh cư Mệnh cung, chủ tàn tật li hương, một đời hình khắc tù lao. Địa Không Địa Kiếp cư mệnh cung và di cung, chủ người khác không có sự ràng buộc với bản Thân, hư danh hư lợi, hội Thiên Mã thì chủ phiêu bạt.

Cung mệnh cư Dần, Thái Dương cư Ngọ thủ cung quan lộc, người sinh năm Giáp Đinh Kỷ Tân hội cát tinh chủ đại phú quý.

Mệnh cung cư Thân, Cự Nhật đều hãm địa, chủ cả đời vất vả, người tuổi Canh Quý thuận lợi.

Thiên Cơ cư mão dậu, Cự Môn đồng cung

Thân hình trung bình, tư tưởng mẫn duệ, giỏi phân tích, ăn nói lưu loát, tài hoa khác lạ. Nam nữ đều không được hưởng tổ nghiệp, tay trắng lập nghiệp, xây dựng hưng vượng lại tổ nghiệp đã sa sút. Hội Kình Đà, nam nữ dâm dật, hay gây thị phị, tam hợp sát tinh tất gặp hỏa ách.

Nữ mệnh Cự Môn Thiên Cơ đồng cung, là cách cục phá đãng, tuy phú quý nhưng khó tránh dâm dật, Tứ sát xung hợp, dâm tiện hình khắc, hội Xương Khúc, Thủy tính dương hoa, hôn nhân đa phần không tốt.

Cự Cơ đồng cung, công khanh chi vị”, là cách lấy Thiên Cơ Cự Môn cư cung Mão, phải người sinh năm Ất Tân Bính có cát tinh mới được tính, là thượng cách với người sinh năm Ất Tân. Người sinh năm Ất có Lộc Tồn cư Mão, Thiên Cơ hóa Lộc, Khôi Việt hội, tam hợp hội Tả Hữu Xương Khúc tất là quan lớn trong triều, quý đến cực phẩm.

Cung Dậu kém hơn cung Mão, vì “Cự Cơ Dậu thượng hóa cát giả, túng ngộ tài quan dã bấtvinh”, tuy hội cát tinh phú quý cũng có hạn, người sinh năm Ất, Tân, Quý tài quan songmỹ, người sinh năm Đinh Mậu, thành bại tiến lui, tuy phú quý nhưng không dài lâu. Phụ Bật Xương Khúc hóa cát hội hợp, người sinh năm Ất Bính Đinh Tân cũng chủ tài lộc phong túc, hội Tứ sát thì không tốt.

Cung mệnh cư mão dậu vô chính diệu, đối cung là Cự Môn Thiên Cơ cònMệnh cung vôchính diệu, luận cung xung chiếu, cát thì giảm một nửa, hung thì càng hung. Hội Tứ sát củng chiếu, cuộc sống hay gặp chuyện xấu. Thiên Cơ Cự Môn cư đối cung, có sát tinh, chủ người gian trá hiểm độc, giàu có mà âm mưu.

Người sinh năm Ất Bính Đinh Mậu Tân Nhâm, hội cát tinh, cũng chủ phú quý.

Thiên Cơ cư thìn tuất, Thiên Lương đồng cung

Là người trí tuệ, có kĩ nghệ cao, tức có tài năng đặc biệt hay sở trưởng chuyên môn, là người “Công hàmmặc, thiện đàm binh, tất hữu cao nghệ tùy thân”. Dễ thành danh trong giới y học, pháp luật hoặc học thuật nào đó. Là người hiếu khách, đối xử với mọi người ôn hòa từ bi, nhiệt tình.

Hay tính toán, suy nghĩ rất nhanh, thích biện luận, giỏi ăn nói, ngôn ngữ không thô tục, chủ đề bàn luận phong phú, thích phát biểu ý kiến về chính trị, bàn luận về việc đại sự trong thiên hạ, có lúc đắm chìm trong cái hào hoa mà không thực tế. Nếu như hội Tả Hữu Xương Khúc, theo văn thì là người thanh bạch quý hiển, theo võ thì là bậc trung lương, phú quý, đối đãi với người từ bi. Nếu đồng cung hay hội Kình Dương, khi trẻ hình khắc với lục thân, về già cô độc, cốt nhục vô tình, hoặc phân ly. Hội Kình Đà và không vong thủ chiếu, lục thân duyên bạc, thích hợp xuất gia, hoặc làm việc nghiên cứu học thuật như triết học, tôn giáo, chiêm bậc…

Hội Hỏa Linh, gian trá, là người tính tình cuồng ngạo, hội Tứ sát thì tâm thuật bất chính, hội thêm cát tinh thì là vương, nếu không có cát diệu thì là cướp. Người sinh năm Ất gian trá, lại hình khắc. Người sinh năm Mậu Thiên Cơ hóa Kỵ, hội Kình Đà, đặc biệt nhiều phiền não, tâm thần bất an, mơ hồ, cả đời không thuận. Người sinh năm Nhâm đa hư thiểu thực.

Nữ mệnh thường hay tính toán, đối xử với người khác quá khách khí, có lúc nhiều lời và xử sự không cương quyết.

Cung mệnh cư thìn tuất, vô chính diệu, đối cung là Thiên Cơ Thiên Lương Mệnh cung vôchính diệu, luận cung xung chiếu. Đối cung Thiên Lương hội cát tinh, có thể trở thành thương gia giỏi, cũng chủ sống thọ. Cát tinh ít thì có thể trở thành người giảng dạy, công tác trong bộ giáo dục hoặc làm các công việc có liên quan đến khẩu tài.

Nam mệnh chiều cao trung bình hoặc hơi thấp, lưng hơi cong, nữ mệnh giàu khí chất, có nét đẹp cổ điển. Chủ có tài nghệ cao, văn chương hội họa tinh tế, giỏi bàn về chuyện binh tướng, cuộc sống thường gặp hung hóa cát. Người này tính tình tự đại, quá coi trọng bản Thân mình, nói nhiều, nhất là có khả năng ngụy biện. Kình Đà Hỏa Linh hội, chủ người gian trá, hay thành hay bại, cuộc sống gian xảo, cũng chủ nạn tù ngục. Hội Kình Đà, thiếu niên hình khắc, khi già cô độc, không hòa thuận với lục thân. Bất luận phú quý nghèo hèn, đều có số ly hôn.

Đa phần thông mình cơ trí, thủ đoạn hơn người , có thể tay trắng lập nghiệp, nhưng cuối cùng danh tiếng lớn hơn lợi nhuận. Có hứng thú với tôn giáo, chiêm bậc, văn hóa thần bí, hội Tứ sát, là thuật sĩ giang hồ bôn ba thiên hạ.

Có Văn Xương, Văn Khúc đồng cung hoặc hội chiếu, là “Đào hoa cổn lãng cách”, nam nữ gặp cách này đều dâm loạn. Hội Tả Hữu Xương Khúc cát hóa, theo văn thì là người thanh bạch, theo võ thì là bậc trung lương.

Cung mệnh cư Tuất, Dần Cung Cự Nhật nhập miếu vượng, người sinh năm Giáp Binh Đinh Kỷ Canh, phú quý. Cung mệnh cư Thìn, Thân cung Thái Dương lạc hãm, người sinh năm Canh Quý hội cát tinh, cũng chủ cát, thích hợp học vấn và kinh doanh.

Thiên Cơ cư tỵ hợi

Độc thủ, ở Tỵ đẹp hơn ở Hợi, vì đối cung Thái Âm nhập miếu.

Trí tưởng tượng phong phú, chỉ số thông minh cao, đặc biệt thông minh, có thiên phú trong kinh doanh kiếm tiền. Nếu không gặp cát tinh mà hội sát tinh thì là người giảo hoạt, rất biết tính toán, thích uống rượu, sớm rời xa nhà, cuộc sống bôn ba.

Người sinh năm Bính Mậu Nhâm hợp cách, nhưng phúc không được dài lâu. Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt hội chiếu, người sinh năm Ất, Bính Đinh cũng chủ phú quý.

Đà La Hỏa Tinh đồng cung, hình ngục. Hội Dương Hỏa Kỵ, hạ cách nghèo khổ, chỉ thích hợp làm buôn bán nhỏ hay dựa vào xảo kĩ mưu sinh, cả đời không thể phát đạt được.

3. Thái Dương

Thuộc Hỏa, Nam Bắc đẩu tinh, tượng là mặt trời, chủ Quan Lộc.

Thái Dương chủ quý, sau mới đến chủ phú. Người nam chỉ cha, con trai; người nữ chỉ cha, chồng, con trai. Do ánh sáng của mặt trời thay đổi theo 12 canh giờ, cho nên Thái Dương ở cung Dần cũng tựa như mặt trời vào giờ Dần, Thái Dương ở cung Mão tựa là mặt trời vào giờ Mão, lần lượt theo thứ tự như vậy.

Thái Dương nhập mệnh, chủ người sắc mặc đỏ hồng hay tím hồng, khuôn mặt vuông vắn tròn trịa, thân hình khôi ngô, tướng mạo đường hoàng, trung thành chính trực, không tính toán chuyện thị phi, tấm lòng nhân từ, thích giúp đỡ, từ thiện, hào phóng, chí khí cao ngạo, thường bị người khác hiểu nhầm. Thái Dương được cát tinh thủ chiếu, nếu được Thái Âm chiếu thì phú quý song toàn.

Nếu hội nhiều cát diệu thì có thể làm khách hay lui đến những nơi quyền quý, không có cát tinh thủ chiếu, thì thuộc tầng lớp nhân viên nhà nước bình thường.

Thái Dương lạc hãm, lao tâm phí lực, tuy hóa Quyền hóa Lộc cũng chủ vất vả khác thường, Thái Dương lạc hãm nếu như vào cung quan lộc, địa vị không hiển đạt, là người trước chăm chỉ sau biếng nhác.

Nữ mệnh Thái Dương, có chí hướng trượng phu, có cương có nhu, rất giỏi giang. Cá tính háo thắng, duyên với người khác phái tốt, nhiệt tình hướng ngoại, giao tiếp rộng, thường hay giao du với nam giới. Miếu vượng, vượng phu ích tử, hội Quyền Lộc được phong tặng (đất đai, chức hiệu), cung phúc đức có cát tinh chủ lấy được người chồng thông minh sáng suốt.

  1. Thái Dương nhập miếu vượng là tốt, lãm hãm là xấu, người sinh ban ngày vượng, người sinh ban đêm hãm, người sinh ban đêm không nên có Thái Dương lạc hãm thủ mệnh. Nếu như sinh ban ngày (giờ Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân), Thái Dương tuy ở lạc cung tọa mệnh nhưng không luận là hung, nếu như sinh ban đêm (giờ Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần), Thái Dương ở cung miếu vượng thủ mệnh cũng không hoàn toàn đẹp.
  2. Thái Dương cư miếu vượng, hóa Quyền hóa Lộc, thu được danh lợi, nắm quyền, có thể luận là quý. Nếu được Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt tam hợp củng chiếu tài bạch, quan lộc thì phú quý cực phẩm, gia Tứ sát, cũng chủ đủ ăn.
  3. Thái Dương cư Dần là lúc mặt trời mới lên, cư Thìn Tỵ là lúc lên cao, cư Ngọ là ngôi cao chính giữa; cư Mùi Thân là mặt trời đi xuống, làm việc trước chăm chỉ sau biếng nhác; cư Dậu là có mà như không, quý mà không hiển, đẹp mà không thực; cư Tuất Hợi Tý là mất đi hào quang, gặp Cự Môn là ám tinh thì một đời vất vả bận rộn, càng chủ mắt có tổn thương, một đời hay gặp thị phi.
  4. Thái Dương thủ mệnh, bất luận miếu hãm, duyên với cha bạc, đồng cung cùng Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ thì không tránh được khắc cha.
  5. Thái Dương hóa Kỵ, thị phi, lạc hãm, mắt bị thương hay có tật, như cận thị, loạn thị… Hội hung sát tinh, có bệnh mãn tính hoặc cơ thể bị thương.
  6. Thái Dương đồng cung hay hội chiếu với Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý thì có danh tiếng, được khen thường đặc biệt.
  7. Thái Dương được Lộc Tồn đồng cung hay hội chiếu, luận là phúc, có tài năng xuất sắc, kinh doanh cũng có thể trở nên giàu có.
  8. Thái Dương đồng cung với Xương Khúc, tài hoa sớm thể hiện, thiếu niên thành danh, phú quý.
  9. Thái Dương đồng cung với Tả Phụ, Hữu Bật, cuộc sống thường được quý nhân giúp đỡ, sự nghiệp phát triển thuận lợi.
  1. Nữ mệnh Thái Dương đoan chính, sớm lấy được chồng hiền lành đáng tin cậy. Cư Mão Thìn Tị Ngọ, không sát tinh thì vượng phu ích tử. Lạc hãm thì bình thường.
  1. Nữ mệnh Thái Dương cư vượng địa, đoạt quyền chồng, chồng sợ vợ.
  1. Thái Dương hóa Lộc, thu được danh lợi, tài quan song mỹ, cư miếu vượng đặc biệt tốt, tất là quan to.
  1. Thái Dương hóa Quyền, có quyền lộc, là người cố chấp, tình tình ngang ngược, người sinh bên ngày cư miếu vượng tất chủ quyền quý.
  2. Thái Dương hóa Kỵ, mắt có tật hay có bệnh tim, dễ gặp thị phi. Hoặc Thái Dương ở vượng địa, thì chưa đáng lo, sự nghiệp vẫn có thể phát triển, nếu như lạc hãm, lãng phí tiền bạc, nghèo khổ, nữ mệnh trước khắc chồng, sau khắc con. Thái Dương cư Tuất Hợi Tý hóa Kỵ, một đời gian khổ nghèo khó.
  3. Thái Dương miếu vượng hội Khoa Quyền Lộc, công danh cái thế, nữ mệnh tất là bậc quý phu nhân. Hãm địa không dài lâu.
  4. Thái Dương đồng cung với Tứ sát, bất luận miếu hãm, là người tính tình cương cường bạo liệt, dễ cực đoan, hay tranh chấp với người khác, thường gặp họa máu me, thân thể bị thương. Nếu như Thái Dương cư đất bình hòa lạc hãm, kiến Kình Đà Hỏa Linh đồng cung, tất tàn phế.
  5. Thái Dương đồng cung với Thiên Hình cư mệnh, hay cư cung quan lộc, tài bạch, là người theo quân đội hay làm cảnh sát, tư pháp, miếu vượng hội cát tinh có thể nắm quyền lớn. Tam phương tứ chính mệnh cung có Thái Dương, Thiên Hình (không nhất thiết hai sao này phải đồng cung), cũng có thể luận như trên.
  6. Thái Dương lạc hãm thủ mệnh cung, là người ban ngày thường mất tinh thần, ban đêm lại trần đầy sức sống, là điển hình của mẫu người “cú đêm”. Hễ thấy trong thiên bàn có Thái Dương ở cung lạc hãm thì luận như trên, không nhất thiết chỉ có cung mệnh.
  7. Thái Dương nhập mệnh, thường là quân nhân, cảnh sát, thương nhân kiến trúc, nhân viên ngoại giao, cán bộ hành chính, vận động viên, nhân viên ngân hàng, nhà báo, nhà giáo dục, lạc hãm không có cát tinh thì là người lao động thể lực bình thường.

Thái Dương cư Tý

Lạc hãm cư. Trọng tình cảm, một đời vất vả, không hòa thuận với mọi người, không có lợi cho mắt, không hội cát tinh thường bị cận thị hay loạn thị, tuổi trẻ thường hay bị trắc trở, nữ mệnh nên kết hôn trễ.

Thích hợp làm công chức, nhà giáo hoặc các công việc cơ cấu bình thường. Người sinh năm Đinh Kỷ hội lục cát cũng thuận lợi, tài quan song mỹ. Đối cung Thiên Lương, hội cát diệu đồng cung tọa Di cung, thương gia tài ba. Thái Dương cư Tý, khuyết hãm nhiều, một đời phúc không toàn vẹn, nếu hội Không Kiếp Tứ sát và Thái Dương Hóa Kỵ, vất vả, bôn ba, có tật, cả đời không có thành tựu gì.

Thái Dương cư Sửu

Thái Dương ở Sửu, Thái Âm đồng cung, tính cách tương đối thận trọng, tình cảm không ổn định, cũng có lúc hào sảng. Nhật Nguyệt là các sao động, chủ một đời thường nhiều biến động, hội cát tinh xuất ngoại thì tốt.

Người sinh năm Bính, Lộc Tồn cư cung Tỵ; người sinh năm Mậu, Lộc Tồn cư Tỵ cung, Mệnh cung Thái Âm hóa Quyền; người sinh năm Đinh, Mệnh cung Thái Âm hóa Lộc; người sinh năm Tân, Lộc Tồn ở Dậu cung, Mệnh cung Thái Dương hóa Quyền, đều phú quý. Gia cát tinh, tài quan song mỹ.

Người sinh năm Quý mệnh cung có Thái Âm hóa Khoa, Kình Dương nhập miếu, hội cát tinh hoạnh phát tiền tài, tuy vẫn có nhiều điều không thuận lợi.

Tỵ Dậu hai cung có Xương Khúc hội, quan cao tiền lộc nhiều. Kiến nhiều cát tinh, phú mà quý, Xương Khúc giáp mệnh, quý mà hiển.

Tam phương không có cát tinh, ngược lại là hung; hội cát tinh thì một đời vui vẻ.

Mệnh cung cư Mùi, vô chính diệu, đối cung là Thái Dương Thái Âm, Tứ sát hội, chủ có hình thương. Hội cát tinh hóa cát, chủ phú quý. Người sinh năm Bính Mậu Tân phú quý song toàn, sau đó đến người sinh năm Canh, có thành có bại. Văn Xương Văn Khúc đồng cung hay hội chiếu, xuất thế vinh hoa, cả đời phú quý, tiếp đến là Phụ Bật.

Thái Dương cư Dần, Cự Môn đồng cung

Thái Dương cư Dần, Cự Môn đồng cung, là người rất có tu dưỡng, thận trọng, hành sự cẩn thận, có tham vọng lí tưởng cao xa. Nếu không hội Lộc Tồn, kinh doanh không thuận lợi, một đời nhiều cạnh tranh. Thích hợp làm về văn nghệ hay nghiên cứu học vấn và sự nghiệp giáo dục, các công việc quản lý hành chính… có thể thu được danh tiếng và địa vị.

CựNhật đồng cung, quan phong tam đại”, “Cự Nhật Dần cung thủ mệnh, vô Không Kiếp Tứ sát, thực lộc trì danh”, người sinh năm Canh Tân Quý hội lục cát thì phú quý. Cự Nhật cư Dần, thường làm các công việc trong giới chính trị, tư pháp, truyền thông, văn nghệ, giáo dục hoặc phiên dịch, bác sĩ, luật sư hay những nghề có liên quan đến miệng.

Mệnh cung cư Thân, vô chính diệu, đối cung là CựNhật Mệnh vô chính diệu, chủ ngườikhông giữ tổ nghiệp, rời xa quê hương. Cự Nhật xung chiếu, không gặp Không Kiếp Tứ sát, thực lộc trì danh, thường có liên quan đến văn nghệ giảng dạy nghệ thuật. Người sinh năm Bính Đinh Canh Quý tốt đẹp.

Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương hội chiếu, là cách “Cơ nguyệt đồng lương”, đảm nhiệm công việc ở các cơ quan nhà nước hoặc nổi danh nhờ kĩ nghệ đặc biệt, hội Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt thì tài hoa hơn người, phú quý có danh tiếng. Thiên Cơ Thiên Lương hội chiếu với Cự Môn, có thể là nhà giáo, lãnh tụ trong xã hội, hội cát tinh thì danh vọng cao.

Thái Dương ở Mão, Thiên Lương đồng cung

Là cách “Nhật chiếu lôi môn”, “Nhật xuất phù tang”, chủ người quang minh lỗi lạc, chính trực hào sảng, tư tưởng chính thống, có lúc cứng nhắc, dám đấu tranh với thế lực hung ác, đối xử với mọi người chân thành, nhiệt tình. Người sinh ban ngày, phú quý vinh hoa, hội nhiều cát tinh thủ chiếu tất đại quý.

Người sinh năm Giáp Canh hội Kình Dương, chủ khó khăn, duyên với cha mẹ bạc, một đời không thuận lợi. Người sinh năm Ất Tân Nhâm, phú quý song toàn. Người sinh năm Ất, Lộc Tồn cư mệnh cung, Thiên Lương hóa Quyền tương phùng; người sinh năm Tân, đối cung có Lộc Tồn, cung mệnh Thái Dương hóa Quyền; người sinh năm Nhâm, Lộc Tồn ở Hợi, cung mệnh Thiên Lương hóa Quyền, đều là bậc tài năng trụ cột đất nước.

Nhiều cát tinh thủ chiếu chủ một đời phúc thọ. Nếu hội Xương Khúc Khôi Việt, sớm gặp cơ hội đắc chí. Hội Xương Lộc, cái thế văn chương, thi cử hơn người, vinh danh bảng vàng. Nữ mệnh không có sát tinh đồng cung thủ chiếu thì đoan chính, sớm lấy được chồng hiền lương.

Mệnh cung cư Dậu, vô chính diệu, đối cung là Thái Dương Thiên Lương, chủ sống thọ. Là người tính tình ôn hòa, ổn trọng, biết nhẫn nại, có thể trở thành thương gia tài ba hoặc nổi danh với đời nhờ kĩ nghệ, người tuổi Ất Bính Tân Nhâm phú quý.

Thái Dương cư Thìn

Độc thủ, đối cung Thái Âm, đều ở đất vượng. Là người nhiệt tình chính trực hướng ngoại, thông minh chăm học cơ trí, thường đắc trí tuổi thiếu niên. Nhật Thìn Nguyệt Tuất sáng sủa, hội nhiều cát tinh thủ chiếu, tất đại phú.

Người tuổi Canh, Lộc Tồn cư Thân, cung mệnh Thái Dương hóa Lộc, phú quý song toàn, phú quý không ít. Người tuổi Tân, Thái Dương hóa Lộc, Cự Môn cư Tý hóa Quyền, thành tựu không nhỏ. Người tuổi Quý, cung Di Thái Âm hóa Khoa, Lộc Tồn cư Tý hội chiếu, Thiên Khôi Thiên Việt giáp mệnh, phú quý. Nữ mệnh không có sát tinh đồng cung trấn thủ, đoan chính, sớm gặp chồng hiền lương.

Thái Dương cư Tỵ

Độc thủ, đối cung là Cự Môn. Là người chí khí cao ngạo, thiếu niên thành danh. Nhật Tỵ Nguyệt Dậu đều sáng, không gặp Tứ sát, tài quan song mỹ, sao này thủ thân cung, cũng chủ phúc dày lộc nhiều. Người tuổi Bính Mậu Thân phú quý, hội nhiều cát tinh củng chiếu thì đại quý. Cự Môn xung chiếu, thực lộc trì danh, hội Xương Khúc Khôi Việt sớm đắc trí bước lên mây xanh.

Nữ mệnh không có sát tinh đồng cung trấn thủ, đoan chính, sớm lấy được chồng hiền lương.

Thái Dương cư Ngọ

Độc thủ, đối cung là Thiên Lương. Ánh sáng của Thái Dương lúc này quá mạnh, dẫn đến cô khắc, mắt có tật, hoặc bệnh về tim hay cao huyết áp. “Thái Dương cư Ngọ, vịchi nhật lệtrung thiên, hữu chuyên quyền chi quý, địch quốc chi phú”.

Cự Nhật củng chiếu là kì cách, kiến các cát tinh Quyền Lộc thì cự phú đại quý.

Người tuổi Đinh Kỷ Canh Tân Quý, phú quý song toàn, người sinh năm Bính Mậu Nhâm thì mờ mịt. Không sát tinh xung, không quý tất phú. Đối cung Thiên Lương, hội cát tinh, thương gia tài ba. Nữ mệnh không có sát tinh đồng cung thủ chiếu, đoan chính, sớm lấy chồng hiền lành.

Thái Dương cư Mùi, Thái Âm đồng cung

Có thể tham khảo Nhật Nguyệt cư Sửu, nhưng không được tốt đẹp như ở cung Mùi, Thái Âm hãm Địa Không lợi cho mẹ. Khi nhỏ chăm chỉ, về già tiêu cực, là người trước chăm chỉ sau biếng nhác. Hợi Mão hai cung Xương Khúc củng chiếu, xuất thế vinh hoa. Tả Hữu Xương Khúc cư Thân Ngọ hai cung tương giáp, hoặc đồng cung cư Mệnh cung, Di cung, chủ quý hiển. Người tuổi Bính Mậu Tân gặp lục cát có thể có thành tựu, có thể đảm nhiệm quản lý, nổi bật tài ba hơn người.

Tam phương vô cát, lại hội Tứ sát thì xấu. Người tuổi Đinh, Kình Dương đồng cung, lại hội Hỏa Linh, tuy rằng phú quý nhưng tất có phá sản lớn, e nguy hiểm cả đời. Nhật Nguyệt cư Mùi không nên kinh doanh, làm nhân viên nhà nước tương đối tốt.

Cung mệnh cư Sửu, vô chính diệu, đối cung là Thái Âm Thái Dương, Tứ sát chầu, chủ hình thương. Hội cát tinh cát hóa thì chủ phú quý. Người tuổi Bính Mậu Tân, phú quý song toàn, sau đó là người tuổi Canh, có thành bại. Xương Khúc đồng cung hay hội chiếu, vinh hoa xuất thế, cả đời phú quý, tiếp đến là Phụ Bật.

Thái Dương cư Thân, Cự Môn đồng cung

Thái Dương cư T hân, Cự Môn đồng cung, có thể tham khảo Cự Nhật cư Dần. Thái Dương ở Thân là bị thiên lệch nên không đẹp bằng ở Dần, trước chăm chỉ sau lười biếng, hợp với các công việc văn hóa, giáo dục. Người tuổi Giáp Canh Kỷ Quý, tài quan song mỹ. Không có Không Kiếp Tứ sát thì thực lộc trì danh.

Hội Đà La, nam nữ dâm dật, tuy phú quý nhưng không dài bền. Tam hợp có sát tinh tất gặp hỏa tai. Nữ mệnh muộn hôn, không gặp cát tinh mà gặp hung tinh thì tình cảm tất có trắc trở, hay rơi vào cảnh phong trần.

Mệnh cung cư Dần, vô chính diệu, đối cung là Cự Nhật, không có Không Kiếp Tứ sát, thực lộc trì danh, hay có liên quan đến văn nghệ giáo dục nghệ thuật. Người sinh năm Bính Đinh Canh Quý Tân thuận lợi. Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương hội chiếu, là cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, làm việc ở các cơ quan nhà nước nổi danh nhờ các kĩ nghệ đặc biệt, hội Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, tài hoa hơn người, phú quý có danh tiếng. Thiên Cơ Thiên Lương và Cự Môn hội chiếu thì có thể trở thành nhà giáo, lãnh tụ, hội cát tinh thì danh vọng cao.

Thái Dương cư Dậu, Thiên Lương đồng cung.

Có thể tham khảo Dương Lương cư Mão, nhưng kém xa ở Mão. Người tuổi Ất, Mậu, Tân Nhâm Quan Tài đều tốt. Người tuổi Giáp Canh chủ khó khăn. Thái Dương Thiên Lương cư Dậu, quý mà không hiển, đẹp mà không thực, thường là khách phiêu bạt.

Mệnh cung cư Mão, vô chính diệu, đối cung là Thái Dương Thiên Lương, chủ sống thọ, tính tình ôn hòa, ổn trọng, có kiên nhẫn, có thể trở thành thương gia tài ba hay nổi danh với đời bằng kĩ nghệ. Người tuổi Ất Bính Tân Nhâm phú quý.

Thiên Lương Thiên Cơ và Cự Môn hội chiếu có thể trở thành nhà giáo, lãnh tụ đất nước.

Thái Dương cư Tuất.

Là cách cục “Nhật Nguyệt phản bối”, mắt bị cận thị hoặc các bệnh về mắt khác, là người tính tình gấp gáp, nhưng làm việc lại do dự không quyết đoán, một đời bất đắc chí. Nhất định sẽ rời xa quê hương, cả đời lao tâm tốn sức. Thích hợp làm các công việc công chức phục vụ, thành bại bất nhất. Hội Tả Hữu Xương Khúc thì cát hóa, có thể đại phú hoặc đại quý, thường nghiêng về phú.

Không hội cát tinh mà gặp hung tinh, cha bất lợi. Hung tinh đồng cung tọa thủ, là người tàn tật nghèo hèn.

Thái Dương cư Hợi.

Lạc hãm độc thủ. Vì Thái Dương ở đất hãm địa, nên hợp sinh ban ngày hơn sinh ban đêm. Nếu không hội cát tinh mà kiến hung tinh thì khác cha, thiếu thuận hòa, hay gây thị phi, vất vả khổ sở bôn ba. Hội Tứ sát, cô độc nghèo khó, thành bại bất nhất, li hương có thể tốt hơn. Là người trước chăm chỉ sau biếng nhác, hội cát tinh thì có tật, Hóa Kỵ mắt có tật.

Thái Dương cư Hợi, ánh sáng biến mất, tam hợp cát tinh không có sát tinh thì lại là người đại phú quý. Người tuổi Ất, Lộc Tồn cư cung Mão, cung Mùi Thiên Lương hóa Quyền, hội Thiên Mã Tả Hữu hay Xương Khúc, đại cát, không quý tức đại phú, sự nghiệp hanh thông. Người tuổi Nhâm, Lộc Tồn cư Hợi cung, Mùi cung Thiên Lương hóa Quyền, Khôi Việt hội chiếu, hội Tả Hữu Xương Khúc Thiên Mã, cũng chủ đại phú quý. Người tuổi Bính Mậu tốt, cát tinh chầu thì phú quý không ít.

4. Vũ Khúc

Thuộc Kim, Bắc Đẩu đệ lục tinh, hóa Tài, chủ Tài bạch.

Vũ Khúc thủ mệnh, đa phần cương cường quả quyết, tâm tính thẳng thắn không dụng tâm, dáng nhỏ giọng nói cao mà to, thích thể thao vận động. Trọng nghĩa khí, có ý chí kiên cường bất khuất, coi trọng chữ tín, lời lẽ hào sảng nhanh gọn, mặt hình vuông.

Nữ mệnh Vũ Khúc nhập mệnh, một đời vất vả nhiều, đoạt quyền chồng, thích ra lệnh trong nhà, thường coi thường chống. Sau hôn nhân khó mà ở yên trong nhà, hay ra ngoài làm việc. Vũ Khúc nhập Miếu chỉ quyền quý, là quý phu nhân, hội cát tinh thì quả quyết cương nghị, dễ trở nên người phụ nữ cứng rắn. Hãm địa có sát tinh thì cô đơn, hình phu khắc tử, thậm chí trở thành quả phụ. Nếu lại hội thêm Xương Khúc Thiên Diêu Đào Hoa hay Liêm Trinh thủ Thân, không những hình khắc mà còn đào hoa tính nặng.

Vũ Khúc và chư hung tinh hội tụ gây nên họa, cùng chư cát tinh thì thành cát. Đây là sao cương cường, chủ cô khắc, hợp với nam, không hợp với nữ. Nữ mệnh có sao này thì gọi là Quả túc tinh, hội Kình Đà Hỏa Linh, bất lợi cho hôn nhân, hình khắc.

  1. Vũ Khúc và chư hung tinh hội tụ gây nên họa, cùng chư cát tinh thì thành cát. Đây là sao cương cường, chủ cô khắc, hợp với nam, không hợp với nữ. Nữ mệnh có sao này thì gọi là Quả túc tinh, hội Kình Đà Hỏa Linh, bất lợi cho hôn nhân, hình khắc tương đối nặng.
  1. Vũ Khúc hội Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Mã, phát tài phương xa.
  1. Vũ Khúc đồng cung với Tham Lang, thiếu niên bất lợi, lại là người keo kiệt, hội sát kỵ thì làm nghề kỹ thuật.
  1. Vũ Khúc đồng cung với Phá Quân, khó quý hiển, không tụ tài, hội hung sát thì tiền tài đến tay hóa hư không.
  1. Vũ Khúc đồng cung với Thất Sát, Hỏa Linh, vì tiền mà bị cướp.
  1. Vũ Khúc hỉ người sinh phía Tây và phía Bắc, là phúc. Bình thường với người sinh phía Đông, Nam, giảm phúc.
  1. Vũ Khúc bị Kình Đà Hỏa Linh Tứ sát xung phá, cô đơn nghèo khó bất nhất, mặt mày hốc hác kéo dài.
  1. Vũ Khúc nhập miếu đồng hành với Xương Khúc, thông minh xảo kỹ, văn tài tốt, là người đa học đa năng, kinh doanh hay làm nhà nước đều tốt.
  1. Vũ Khúc đồng cung với Tả Phụ Hữu Bật, năng lực lãnh đạo mạnh, bản tính cẩn thận, dễ đạt được sự tín nhiệm của người khác.
  1. Vũ Khúc đồng cung hoặc hội chiếu với Thiên Phủ lại hội Lộc Tồn thì một đời tài vận hanh thông.
  1. Vũ Khúc đặc biệt mẫn cảm với Tứ Hóa, ảnh hưởng tốt xấu tăng lên nhiều lần. Vũ Khúc hóa Lộc, tất giàu có, kinh doanh phát đạt, tài vận đại phát, nữ mệnh là phú.
  2. Vũ Khúc hóa Quyền, tính tình độc đoán, cố chấp. Tất nắm đại quyền, theo võ chức thì quý hiển, theo con đường kinh doanh thì tài vận hanh thông.
  3. Vũ Khúc hóa Khoa, dễ thành danh, lợi cho văn chức, tài vận tốt đẹp.
  1. Vũ Khúc hóa Kỵ, hung, thời nhỏ khó nuôi hay bệnh tật. Người này có chút tính chất thần kinh, cuộc sống lắm thị phi, vì tiền mà tranh chấp, phương diện sự nghiệp, tiền bạc tất có phá sản lớn, lại hội hung sát thì là điềm đoản Mệnh
  1. Vũ Khúc đồng cung hay hội chiếu với Thiên Khôi, Thiên Việt, là quan về tài chính, hay làm việc ở bộ tài chính, hoặc làm các công việc tài vụ.
  1. Vũ Khúc đồng cung với Kình Dương, Đà La, chủ cô khắc, nam nữ giống nhau.
  1. Vũ Khúc nhập miếu, có uy danh, hội Quyền, Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc thì luận như trên. Người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, Mệnh an ở cung Thìn Tuất, hội cát tinh thì chủ phú quý, nếu không sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi thì kém hơn.
  1. Vũ Khúc ở nhàn cung hay làm thủ công mĩ nghệ, tức Vũ Khúc ở Tỵ Hợi, Dần Thân, Mão Dậu thủ mệnh, hội sát tinh thì làm nghề thủ công an thân.
  1. Vũ Khúc hội cát tinh tọa Di cung, là thương gia tài ba (nhiều cát tinh mới luận như trên)
  1. Vũ Khúc thủ mệnh, thường làm việc ở giới chính trị, công thương, tài chính kinh tế, bảo hiểm, quân đội, cục cảnh sát, bộ thể dục thể thao.

Vũ Khúc cư tý ngọ, Thiên Phủ đồng cung

Vũ Khúc và Thiên Phủ đều thuộc Tài tinh, hai sao này đồng cung, đương nhiên tốt đẹp thuận lợi, cũng chủ sống thọ.

Là người sở trưởng kinh doanh, có năng lực quản lý kế hoạch ưu tú, dễ thành đại nghiệp đại sự, về phương diện tiền bạc sẽ có phát triển, nhưng nếu Tứ sát đồng cung thì tiền bạc sẽ tổn thất.

Người sinh năm Đinh Kỷ Canh Quý, tài quan song mỹ. Phụ Bật đồng cung, địa vị cao được kính trọng. Nếu hội Tả Hữu Xương Khúc tất quan to tiền lộc nhiều, chắc chắn quý hiển, nếu không cũng là chủ quản về tài chính, là thương gia lớn. Hội Lộc Tồn, chủ phú, hội nhiều cát tinh thì có vô số tư sản. Hội Khôi Việt, là quan về tài chính.

Người sinh năm Canh, lập mệnh cư Tý, Lộc Tồn cư Thân, mệnh cung có Vũ Khúc hóa Lộc, tất thành bậc phú hào. Người sinh năm Kỷ, Lộc Tồn cư Ngọ, Vũ Khúc hóa Lộc, cự phú. Người sinh năm Giáp, Vũ Khúc hóa Khoa, cung tài bạch Liêm Trinh hóa Lộc, lập mệnh cư Tý Khoa Lộc trùng phùng, lập mệnh cư Ngọ song lộc triều viên, phú quý đều không ít.

Nữ mệnh giỏi giang, chí khí phi phàm, hội Lộc Tồn là bậc quý phu nhân. Không hội cát tinh mà gặp hung tinh thì hôn nhân không tốt, có hình khắc.

Vũ Khúc cư sửu mùi, Tham Lang đồng cung

Vũ Khúc cư sửu mùi, Tham Lang đồng cung là cách “Tham Vũ đồng hành”, Vũ Khúc là tài tinh, Thái Dương ở Dần Thân, Thái Âm ở Tý Sửu giáp, nên còn gọi là cách “Nhật Nguyệt giáp tài”. Sách viết: “Vũ Tham bất phát thiếu niên nhân”, “Tham Vũ mộ trung cư, tamthập dĩ phát phúc”, “Nhật Nguyệt giáp tài gia cát diệu, bất quyền tắc phú” , “Tiền bần hậu phú, Vũ Tham đồng Thân Mệnh chi cung”.

Cách cục này đa phần là tiền bần hậu phú, khi trẻ vất vả hay là người bình thường, sau 30 tuổi vận khí hanh thông, tài vận rất vượng. Tả Hữu Xương Khúc cư tam hợp hội chiếu hay ở cung giáp đến hỗ trợ mệnh, là cách tốt đẹp. Hội Hỏa Linh, thượng cách, tất hoạnh phát, đa phần là thương nhân, chủ quản, ông chủ.

Người sinh năm Mậu Kỷ Canh Tân, kiến Hỏa Linh đồng cung là quý cách. Người sinh năm Quý bạo phát, nhưng không bền. Người sinh năm Giáp tọa quý hướng quý, Đà La nhập miếu, Khoa Quyền Lộc củng chiếu, kinh doanh đại phú. Lập mệnh ở Mùi, người sinh năm Canh Vũ Khúc hóa Quyền, tọa quý hướng quý, cách tốt đẹp.

Vũ Tham Sửu Mùi, có đào hoa, là người keo kiệt gian xảo, bụng dạ nhỏ nhen, lòng tham vô đáy, miệng phật tâm xà, tự tư tự lợi, hội hung tinh càng xấu, luôn nhen nhóm làm giàu bất chính cho bản thân, không giúp đỡ cứu tế người khác.

Nữ mệnh có tính chất thần kinh, keo kiệt, ngôn từ giả dối gian trá, lòng tham vô đáy.

Mệnh cung cư sửu mùi, vô chính diệu, đối cung là Vũ Khúc Tham Lang, luậncung xungchiếu. Phủ Tướng hội chiếu Mệnh cung, chủ người đời sống vật chất no đủ. Mệnh cung cư Mùi, người sinh năm Giáp Mậu thì phú quý, Mệnh cung cư Sửu, người sinh năm Bính Mậu Canh phú quý. Vũ Khúc Tham Lang có Hỏa Linh đồng cung, chủ võ chức, hội cát tinh chủ nắm binh quyền.

Xương Khúc đồng cung hội chiếu, chủ là người tài nghệ vang danh, Tả Hữu đồng cung hội chiếu, chủ sự nghiệp yên ổn, lương bộng trọng hậu.

Đà La Hỏa Linh hội chiếu Mệnh cung, không làm việc chính đáng, chủ người hung ác cương gàn, hình thương, lấy vợ/chồng phương xa.

Vũ Khúc cư dần thân, Thiên Tướng đồng cung

Là người khá khiêm tốn thành khẩn, giàu tình cảm, thông minh ham học, đa tài nghệ, giao tiếp xã hội viên mãn.

Người sinh năm Giáp Kỷ Canh Quý, hội Tả Hữu Xương Khúc, không gặp sát tinh xung chiếu thì thích hợp theo chính trị, quyền cao tiền lộc nhiều, có thể đạt đến địa vị cấp tỉnh thành phố thậm chí cao hơn. Người sinh năm Giáp Hóa Lộc Hóa Quyền Hóa Khoa “Tam kỳ gia hội”, “Lộc Mã giao trì”, quý đến cực phẩm.

Người sinh năm Canh “Quyền Lộc trùng phùng”, “Lộc Mã giao trì”, phú quý không nhỏ.

Người sinh năm Kỷ Vũ Khúc hóa Lộc, tài vượng đại phát.

Vũ Tướng Dần Thân, nếu hội Lộc Mã, phát tài nơi đất khách, đa phần là thương nhân giàu có, một đời hay di chuyển. Hội cát diệu thì bôn ba xuất ngoại, làm ăn lớn.

Vũ Khúc hóa Kỵ, cuộc sống thiếu thuận lợi, hoặc là nhân viên kỹ thuật, Tứ sát đồng cung, về mặt tiền bạc hay tranh chấp và phá sản, hoặc bị kẻ gian lười, hoặc đầu tư xong không thu lại được. Hội Kình Đà, có hình phạt kiện cáo. Hỏa Linh xung phá, cơ thể bị thương.

Nữ mệnh được Vũ Khúc Thiên Tướng thủ mệnh, đa phần chủ chồng phú quý, là mệnh quý phu nhân. Hội cát tinh thủ chiếu, vượng phu ích tử. Hoặc có đầu óc kinh doanh, lương thiện thuần chính, kinh doanh cũng phát đạt. Có sát tinh đồng thủ, thần kinh có vấn đề, Đà La đồng thủ, chủ người gian trá giả dối.

Vũ Khúc cư mão dậu, Thất Sát đồng cung

Vũ Khúc cư mão dậu, Thất Sát đồng cung, thiếu niên không thuận lợi, thích hợp làm kinh doanh. Là người có dã tâm lớn, dục vọng không giới hạn. Làm việc rõ ràng, có mưu lược, hiệu quả cao, chỉ có điều độc đoán chuyên quyền, vì tiền bạc mà sẵn sàng thẳng tiến, sẵn sàng chiến đấu đến cùng. Tính tình thích phân tranh, tư tưởng may mắn cực mạnh, đa phần đều thích mạo hiểm đầu cơ. Cuộc sống cuối cùng thăng trầm bất ổn, cũng nhiều hình thương, hội cát tinh cũng tất phải trải qua gian khó.

Người sinh năm Ất Tân Lộc Tồn ở mệnh hoặc ở cung thiên di, phúc dày, tài quan song mỹ. Tả Hữu Xương Khúc củng chiếu, phú quý. Người sinh năm Giáp dù có lúc hoạnh phát nhưng vinh hoa không bền. Vì tài bạch có Liêm Tham, nên một đời cũng có lần phá sản.

Tứ sát đồng cung, tính tình hung bạo, tất có họa máu chảy, tàn tật bị thương hoặc có họa sát thân, có thể giảm thọ.

Kình Dương đồng cung, vì tiền mà động dao kiếm. Hỏa Tinh đồng cung, vì tiền mà bị cướp.

Vũ Sát Mão Dậu thích hợp làm quân cảnh, địa ốc, đầu cơ kinh doanh, mua bán chứng khoán, công việc kĩ thuật, kiến trúc hay các ngành có tính chất mạo hiểm khác.

Nữ mệnh tính cương, có chí khí nam nhi, trong nhà bắt nạt chồng, hôn nhân có nhiều trắc trở.

Vũ Khúc cư thìn tuất

Vũ Khúc cư thìn tuất nhập miếu độc thủ, đối cung Tham Lang, hội cát tinh có uy danh. Thiếu niên bất lợi, sau 30 tuổi vận khí tốt. Người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, sinh phía Tây, Bắc, Tả Hữu Khôi Việt hội chiếu thì phú quý. Xương Khúc đồng cung, văn võ kiêm tài, vinh danh khắp nơi. Hội Khôi Việt, là quan về tài chính, làm việc trong bộ tài chính hoặc làm công việc tài vụ.

Người sinh năm Giáp, Vũ Khúc hóa Khoa, Liêm Trinh hóa Lộc, lập mệnh cư Tuất, Dần cung có Lộc Tồn, đại phú quý. Lập mệnh cư Thìn, người sinh năm Canh Vũ Khúc hóa Quyền, cung Thân có Lộc Tồn, phú quý. Người sinh năm Kỷ Vũ Khúc hóa Lộc, lập mệnh cư Tuất song lộc triều viên, đại phú.

Đà La đồng cung, tàn tật, lại hội hung tinh thì nhất định có tai ách tù lao, lại hội Xương Khúc Linh tinh tất gặp thủy ách hoặc tử vong ngoài dự kiến.

Nữ mệnh, có hình khắc, Thất Sát độc thủ cung phu thê, vợ chồng bất hòa, thường độc thủ phòng không, hoặc phu thi sinh ly tử tiệt, sát tinh xung chiếu, nhiều trắc trở, dễ rơi vào chốn phong trần.

Vũ Khúc cư tỵ hợi, Phá Quân đồng cung

Vũ Khúc cư tỵ hợi, Phá Quân đồng cung, thích hợp kinh doanh, hoặc làm về kĩ thuật chuyên môn. Là người ngang bướng tự cho mình đúng, luôn tự làm theo ý mình, không nghe lời khuyên của người khác, dẫn đến bạn bè thân tín rời xa.

Làm việc xung động, thích mạo hiểm, lời lẽ khoa trương, bẩm sinh tính tình kì lạ, không lưu danh thiên cổ, mà còn để lại tiếng xấu muôn đời. Háo thắng, to gan lớn mật, lãng phí tiền bạc, tiêu hết tiền rồi mới kiếm lại.

Vũ Phá đồng cung, khó quý hiển, không thủ tổ nghiệp, rời bỏ quê hương tổ tiên, thành bại bất nhất, nhiều thị phi. Vũ Khúc hay Phá Quân hóa Lộc hội cát tinh, sinh vào thời loạn có thể đục nước béo cò, bè lũ nổi dậy hay dựa vào đầu cơ mà giàu có, đương nhiên đa phần đều có kết cục không tốt.

Vì Phá Quân không thích Xương Khúc nên nếu hội Xương Khúc đồng cung thì hình khắc lao lực, bản tính thanh cao, là kẻ bần sĩ, tuy có quý mà không phú, hợp với công việc kĩ thuật. Người sinh năm Mậu Nhâm thì phúc dày, tài quan đều tốt.

Hội sát tinh thì thủ công mĩ nghệ an thân. Phùng Lộc Mã, nam lãng tử, nữ đa dâm.

Vũ Khúc Phá Quân nếu thủ tài bạch cung thì dù thu vén đến đâu thì đến tay vẫn hóa hư không.

Đà La đồng cung, cơ thể bị thương, tất trèo cao té đau, có tai nạn tù ngục. Hỏa Linh đồng cung, bôn ba vất vả, tranh chấp kiện tụng quan trường.

Vũ Phá cư Hợi, người sinh năm Quý nếu kinh doanh thì cũng bạo phát, hoặc làm chính trị đầu cơ cũng có thể đạt được địa vị cao quý, nhưng một đời thường nhiều phen kinh hãi, khó tránh kiện tụng quan trường, đa phần không có kết cục tốt đẹp.

Nữ mệnh, giỏi giang, mẫu người của sự nghiệp, không quá coi trọng gia đình, tu rằng sự nghiệp có thành tựu, nhưng phúc không tốt hoàn toàn. Tính cương, cô khắc, hội hung sát tinh không là người hiền lành, tính tình thô bạo.

  1. Thiên Đồng

Thuộc Thủy, Nam Đẩu đệ tứ tinh, hóa Phúc, chủ Phúc Đức.

Thiên Đồng là một phúc tinh, cư 12 cung đều luận là phúc, có tác dụng chế hóa giải tai ách. Thiên Đồng ở mệnh, mặt hình vuông tròn, hai má đầy đặn, tính tình ôn hòa, khiêm tốn lễ độ, nhân từ cương trực, tinh thông văn họa, có chí lạ, không hung ác. Nhập miếu thì thân hình béo, lạc hãm thì thân hình trung bình hay lùn.

Cái phúc của Thiên Đồng, biểu hiện ở việc người đó có chút lười biếng, đặc biệt là biểu hiện trong cuộc sống thường ngày, chuyện gì cũng lười vận động, có thể kéo dài thì kéo dài, nên mới gọi những người lười là có cái phúc lười, có mang ý nghĩa ngồi hưởng thành quả ở sâu bên trong. Lí tưởng rất cao, suy nghĩ rất kĩ về chuyện tương lai, nhưng hành vi thực hiện thì lại rất ít, thậm chí trở thành kẻ nói suông. Vì vậy nên Thiên Đồng hỉ có sát tinh kích thích, như vậy sẽ khơi dậy được năng lượng của Thiên Đồng để làm nên chuyện.

Đặc điểm của sao Thiên Đồng là tính tình lạc quan, không câu nệ tiểu tiết, ở bên ngoài hay được mọi người yêu quý. Có hứng thú với nhiều thứ, biết cách bằng lòng mà sống vui vẻ, ít khi tức giận, không nhớ những chuyện hận thù, không gây thù chuốc oán, là người hài hước, tự mình cảm thấy vui vẻ. Khuyết điểm là thích tránh những công việc nặng nhọc, làm việc hay băn khoăn, nên khiến cơ hội nhiều khi đến sát bên mình rồi lại biến mất.

Nam mệnh Thiên Đồng đơn thủ mệnh cung thì có chút yếu đuối dễ bắt nạt. Thiên Đồng thủ mệnh dù ở cung nào, tính tình cũng đều ngây thơ, có lúc giống như một đứa trẻ con. Thiên Đồng nhập mệnh, bất luận nam hay nữ, đa phần đều trông béo tốt, mũm mĩm, khả năng tự hạn chế bản thân khá kém, dễ bị thế giới bên ngoài cám dỗ.

Nữ mệnh Thiên Đồng, khuôn mặt xinh xắn, hơi béo, da trắng, đối xử thân thiết với mọi người, sau trung niên thì béo.

  1. Thiên Đồng thủ mệnh hội cát tinh, sống thọ, nếu không có cát tinh mà hội nhiều sát tinh

thì tuổi thọ không dài.

  1. Nữ mênh Thiên Đồng, vẻ ngoài lạc quan, nội tâm đa sầu đa cảm, ý chí không kiên định, dễ bị dụ dỗ. Nếu hội sát tinh xung phá, hình phu khắc tử; Thiên Lương, Thái Âm hội, dễ là vợ hai.
  1. Nữ mệnh Thiên Đồng hội cát tinh, thường là vợ hiền. Mệnh lập ở Dần cung, người sinh năm Giáp hợp cách (Lộc Tồn ở Dần và Liêm Trinh ở Hợi cung Hóa Lộc nhị hợp), người

sinh năm Tý hiền lương; mệnh lập Mão cung, người sinh năm Ất hợp cách; mệnh lập ở Tỵ cung, người sinh năm Bính Mậu hợp cách; mệnh tọa Tuất cung, người sinh năm Đinh hợp cách; mệnh tọa Hợi cung, người sinh năm Bính Tân hợp cách. Duy Thiên Đồng ở Tỵ Hợi cung, vì xung chiếu với Thiên Lương lạc hãm, nên dù đẹp nhưng dâm, nên chú ý đến khuyết điểm này.

  1. Thiên Đồng là phúc tinh, hỉ hội sát tinh kích thích năng lượng của mình, để có thể thay đổi được bản tính lười nhác của Thiên Đồng, nhưng nếu sát tinh quá nhiều thì lại không tốt.
  1. Thiên Đồng đồng cung với Kình Dương, có nạn máu chảy, cơ thể bị thương.
  1. Thiên Đồng đồng cung với Đà La, thân thể đầy đặn hay béo, không đối xứng, thị lực bị tổn thương, mắt nhỏ mà dài, có thể bị cận thị, mắt bị lé, hoặc bị mù.
  1. Thiên Đồng đồng cung hoặc hội chiếu với Xương Khúc, sự tu dưỡng văn học nghệ thuật cao, rất coi trọng sự hưởng thụ về mặt tinh thần, hay thành danh nhờ vào nghệ thuật.
  1. Thiên Đồng đồng cung hoặc hội chiếu với Thiên Lương lại hội Địa Không Địa Kiếp, bất mãn với xã hội, trốn tránh hiện thực, dễ chuyển sang nghiên cứu về các lĩnh vực tôn giáo, thần học, chiêm bậc, thêm Triệt Không hoặc Tứ sát thì có khả năng xuất gia theo tăng đạo.
  1. Thiên Đồng hội Tả Hữu Xương Khúc Thiên Lương, quý hiển.
  1. Thiên Đồng không hợp với nhưng người sinh năm Canh, cư cung Dậu thì cả đời phá bại, có thể chết yểu.

Thiên Đồng cư tý ngọ, Thái Âm đồng cung

Đồng cung với Âm cư Tý, là cách cục “Thủy trừng quế ngạc”, người nam tướng mạo tuấn tú, phong thái nhẹ nhàng, nho nhã, là mỹ nam kiểu thư sinh; người nữ thanh tú dịu dàng, xinh đẹp, là mỹ nữ điển hình.

Nam nữ đều rất yêu thích văn nghệ, đời sống lạc quan biết hưởng thụ, ưa sạch sẽ, có duyên sâu sắc với người khác phái, ở ngoài thường được người khác phái giúp đỡ. Thẳng thắn, khéo nói, bụng dạ không sâu xa, có thể vì người khác mà hi sinh lợi ích của bản thân mình. Hội nhiều cát tinh thủ chiếu, phú mà quý. Tả Hữu Xương Khúc hội chiếu, chắc chắn quý hiển.

Người sinh năm Bính Đinh Kỷ Quý thượng cách. Người sinh đêm năm Bính Đinh thì phú quý trung lương, vì người sinh năm Bính mệnh cung Thiên Đồng hóa Lộc, cung Thìn Thiên Cơ hóa Quyền, không bị Kỵ Kình Đà xung chiếu; người sinh năm Đinh Lộc Tồn ở cung Ngọ xung chiếu, mệnh cung Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền, cung Thìn Thiên Cơ hóa Khoa, hai mệnh cách trên đều có thể giữ các công việc quan trọng, là người trung thành, mệnh đại quý. Người sinh năm Quý Lộc Tồn cư Tý, Thái Âm hóa Khoa, Phụ Bật tương phùng, phú quý, nổi danh thiên hạ.

Nữ mệnh tính tình dịu dàng, khí chất bên ngoài tốt, cuộc sống vinh hoa, nên kết hôn muộn. Có một hai sát tinh ở tam phương tứ chính, đa phần là vợ hai, hoặc lấy người đã từng ly hôn. Hỏa Linh ở mệnh hoặc thiên di lại là điều xấu.

Đồng cung với Thái Âm cư Ngọ, hai sao trên đều hãm địa, là nệnh phiêu bạt, nam nữ tình cảm đều phong phú, hay tưởng tượng, yếu đuối, nam nệnh không tốt cho vợ, nữ mệnh một đời tình cảm không thuận lợi, dễ là vợ hai. Người sinh năm Giáp Đinh Kỷ Quý hội cát tinh, tài quan song mỹ. Người sinh năm Bính Mậu Kình Dương ở Ngọ cung, chủ sự

nghiệp có thành tựu lớn, là quý cách “Mã đầu đới tiễn”, có thể trở thành tướng lĩnh trấn giữ biên ải, thường xa quê lập nghiệp, sự nghiệp gian nan nhưng sau có thành tựu, khổ tận cam lai, cuối cùng lên như diều gặp gió. Nếu như sát tinh quá nhiều thì phá cách, hội Hỏa Linh, chủ hình thường đoản thọ, có tai nạn tù ngục. Người không phải sinh năm Bính Mậu mà nhiều sát tinh nặng là người vất vả bôn ba, kĩ nghệ lập thân, thân thể gầy yếu hay bệnh.

Mệnh cung ở Tý Ngọ, vô chính diệu, đối cung là Thiên Đồng Thái Âm. Mệnh cung vô chính diệu, luận cung xung chiếu. Mệnh cung cư Ngọ xung chiếu Đồng Âm miếu vượng, là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh”, người sinh năm Giáp Đinh Kỷ Canh Quý Tân, hội Tả Hữu Xương Khúc, phú quý. Mệnh cung cư Tý xung chiếu Đồng Âm lạc hãm, người sinh năm Đinh Kỷ Quý Canh thuận lợi. Nữ mệnh, nên làm vợ hai.

Thiên Đồng cư sửu mùi, Cự Môn đồng cung

Thiên Đồng cư sửu mùi, Cự Môn đồng cung, Đồng Cự Sửu Mùi là hạ cách, khá thích hợp cho việc làm nghiên cứu hay làm về học vấn. Hai sao này vốn không đắc địa, Thiên Đồng lại là sao thị phi, hai sao này đồng cung không hợp là vì lẽ đó. Khuyết điểm của Cự Môn là dễ bộc lộ ra nhất. Là người mồm năm miệng mười, một đời thường rước chuyện khẩu thiệt thị phi. Kiến Kình Đà, nam nữ dâm dục, thân thể bị thương, mắt bị cận thị. Hỏa Linh đồng cung, tất có nốt ruồi lạ.

Nếu hội nhiều sát tinh, hung tinh thì chết ngoài đường.

Người sinh năm Giáp Canh tọa quý hướng quý, người sinh năm Ất cung quan lộc Thiên Cơ hóa Lộc, người sinh năm Quý Cự Môn hóa Quyền, người sinh năm Tân Cự Môn hóa Lộc, hội cát tinh tài quan song mỹ, nhưng khó tránh thị phi. Người sinh năm Bính Thiên Đồng hóa Lộc, cung quan lộc Thiên Cơ hóa Quyền, có thể phú quý. Người sinh năm Đinh Thiên Đồng hóa Quyền, Thiên Cơ hóa Khoa, Cự Môn hóa Kỵ, dù phát tài cũng tất không bền, thường xung đột với người khác.

Là người suy nghĩ tinh tế, xem xét kĩ lưỡng, ánh mắt độc đáo, nhưng tính tình tự tư, lời lẽ bất nhất, nhỏ mọn đa nghi. Hội ác sát tinh thì ăn nói dễ nghe mà nội tâm gian trá. Nữ mệnh ngang bướng, keo kiệt, thích trưng diện, lòng dạ hẹp hòi, hay nói suông, có chồng sợ vợ.

Thiên Đồng Cự Môn cư sửu mùi cư Mệnh, bất luận Nam Nữ, một đời vất vả, thiếu niên bất lợi, hay bất hòa với mọi người, quan hệ giao tiếp không viên mãn. Có Quyền Lộc ở Mệnh cung có thể giảm được những khuyết điểm nói trên.

Mệnh cung cư sửu mùi, vô chính diệu, đối cung là Thiên Đồng Cự Môn. Mệnh vô chính diệu, luận cung xung chiếu. Sách viết: “Nhật Mão Nguyệt Hợi, an mệnhMùi, thiềm cung chiếtquế chi vinh”. Mệnh cungcư Mùi, đối cung Thiên Đồng Cự Môn, người sinh năm TânNhâm thượng cách, tiếp đến là người sinh năm Ất, tam hợp Nhật Nguyệt miếu địa, là cách “Minh châu xuất hải”, Tả Hữu Xương Khúc hội chiếu hay giáp mệnh, chủ đại phú đại quý.

Mệnh cung cư Sửu, xung chiếu Đồng Cự, Xương Khúc cư Mệnh cung, chủ người vinh hoa xuất thế, người sinh năm Bính Mậu Tân là thượng cách.

Thiên Đồng cư dần thân, Thiên Lương đồng cung

Thiên Đồng cư dần thân, Thiên Lương đồng cung. Cung tài bạch, Quan Lộc hội Thái Âm, Thiên Cơ, là cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, có thể là quan lại, chủ nổi danh nhờ văn từ. Hai cung Dần Thân có Thiên Mã, tất thường chuyển nhà, rời xa quê hương, lập nghiệp nơi đất khách. Là người ổn trọng, nhiệt tình, trực tính, hào sảng, giao du rộng, rất biết cách làm việc, tinh thần dồi dào, tính tình hoạt bát, hiếu động.

Phúc ấm tụ, bất phạhung nguy”, hai sao trên đồng cung, một đời hay gặp hunghóa cát, gặp dữ hóa lành, chủ sống thọ. Người sinh năm Giáp Ất Đinh Kỷ Canh, phúc dày, cát tinh hội chiếu, cuộc sống phúc thọ song toàn. Hội Tả Hữu Xương Khúc, chủ quý hiển.

Đồng cung Lương ở Dần Thân, đa phần có sở trường kĩ nghệ, danh tiếng bên ngoài, làm việc ở nhưng cơ quan, tổ chức tương đối ổn định, thường kiêm vài nghề, hội cát tinh có quan vận, thu được danh lợi.

Không hội cát tinh mà hội sát tinh, phiêu bạt, một đời hư danh hư lợi, tính tình gian dối. Đà la đồng cung, béo, mắt không đẹp, tính tình cực đoan, là người làm bại hoại thuần phong mỹ tục.

Mệnh cung cư dần thân, vô chính diệu, xung chiếu là Đồng Lương. Mệnh cung vô chính diệu, luận cung xung chiếu, đối cung là Đồng Lương, cuộc sống không sợ hung hiểm, chủ

sống thọ. Có cát tinh tọa thủ Di cung, là thương gia tài ba. Kình Đà Hỏa Linh hội chiếu, cuộc sống bình thường.

Thiên Đồng cư mão dậu, độc tọa

Độc thủ, đối cung có Thái Âm. Người sinh năm Ất Binh Đinh Tân, tài quan song mỹ, Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt hội chiếu, là người có phẩm chất phi phàm, không quý tất đại phú, hoặc phú quý đều có cả. Thiên Đồng ở Mão Dậu là người bình thường coi trọng tình cảm, thái độ ôn hòa, cho người khác cảm giác an phận thủ thường, đáng được tin tưởng. Chịu ảnh hưởng của Thái Âm ở cung đối, thích văn học nghệ thuật, coi trọng hưởng thụ về mặt tinh thần, sự nỗ lực một đời không đủ, gặp khó khăn dễ mất lòng tin, thất vọng hoặc sau khi làm việc mất tinh thần. Hội sát tinh, cuộc sống không thể tự chủ, thường chịu sự thúc giục ra lệnh của người khác.

Nữ mệnh không quá coi trọng sự nghiệp, khát khao cuộc sống ổn định và những thứ khác về mặt tinh thần. Mệnh cung hay Phúc Đức cung hội sát tinh và đào hoa tinh thì dễ thông đồng (thông dâm) với người khác hay làm các nghề nghiệp liên quan đến sắc tình, người sinh năm Bính Đinh thì nhiều dâm dục.

Thiên Đồng cư thìn tuất

Thiên Đồng ở bình địa, đối cung có Cự Môn. Thích hợp làm công chức, có thể là giáo viên, học giả, ngoại giao hoặc nhân viên bình thường. Kình Đà đồng cung, thân thể bị thương, thị lực có tổn thương. Hội Hỏa Linh tất có nốt ruồi lạ.

Người sinh năm Bính Đinh thuận lợi thông suốt, người sinh năm Canh Quý phúc không bền. Thiên Đồng cư Tuất, là phản bối, người sinh năm Đinh cung Dần có Thái Âm hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Khoa, mệnh cung Thiên Đồng hóa Quyền, Thìn Cung có Cự Môn hóa Kỵ xung chiếu, là cách đại quý, nữ mệnh thì là hiền thê.

Thiên Đồng cư tỵ hợi

Là người quan hệ xã hội rộng, thích hưởng lạc, tính tình ôn hòa, làm việc lề mề, trong cuộc sống có nhiều lúc biếng nhác. Hội cát tinh thì sự nghiệp có thành tựu. Thiên Mã cư mệnh hay thiên di cung, một đời bôn ba.

Chịu ảnh hưởng của Thiên Lương lạc hãm cung xung chiếu, Tứ sát đồng cung hayhội chiếu, có tai nạn thương tích chảy máu, tàn tế cô khác, chủ vất vả. Đồng cung với Đà La, thị lực có trở ngại. Hội Hỏa Linh thì có nốt ruồi lạ.

Thiên Đồng Tỵ Hợi, hội Tả Hữu Xương Khúc, quý hiển. Cư Tỵ, người sinh năm Bính Mậu tài quan song mỹ; cư Hợi, người sinh năm Bính Mậu Nhâm tài quan song mỹ. Nữ mệnh, được mọi người yêu quý, nhưng thường bị cám dỗ, nên không được đánh giá cao, tuy xinh đẹp nhưng dâm, tình cảm có trắc trở, hội sát tinh thì chắc chắn thông dâm với người khác, thường làm nội trợ.

  1. Liêm Trinh

Liêm Trinh thuộc Mộc, Hỏa, Bắc Đẩu đệ ngũ tinh, hóa khí là Tù tinh, chủ Quan Lộc, hỉ nhập cung quan lộc, ở mệnh thân cung, là thứ đào hoa.

Người có Liêm Trinh nhập mệnh, thân hình trung bình, trí nhớ rất tốt, khỏe mạnh cường tráng, mắt lộ, gò má cao. Lông mày rậm mắt to, mồm lớn, mặt vuông hay chữ nhật. Tính cách cao ngạo sơ cuồng, tính tình cứng rắn thẳng thắn, là người cố chấp, đa phần tự cho mình là đúng, không nghe lời khuyên của người khác. Chăm chỉ chịu làm lụng, tình cảm mãnh liệt, thích tự do, thích nói đôi câu công bằng đạo lý ở chỗ công cộng. Tính tình thích phân tranh, khi bất đồng quan điểm với người khác thì sẽ ngay lập tức phản kháng. Quan hệ xã giao có lúc không tốt.

Trên đây chỉ là những đặc tính bình thường của Liêm Trinh, cần phải phối hợp thêm với các sao khác để có kết luận cuối cùng, vì Liêm Trinh có thể âm nhu cũng có thể dương cương. Đồng cung với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang hoặc đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh Tứ sát, hoặc đồng cung với Hóa Kỵ thì biểu hiện rất rõ các tính chất trên, tính tình ngang ngạnh, lòng báo thù lớn, gấp gáp nông nổi, dễ tranh chấp với người khác, thể hiện rất rõ sự dương cương.

Nếu như Liêm Trinh đồng cung với Thiên Tướng, Thiên Phủ, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt hay Liêm Trinh Hóa Lộc thì lại biểu hiện đặc tính âm nhu, là người chăm chỉ ổn trọng, dám làm dám chịu, tích cực cầu tiến, đối xử với mọi người ôn hòa thân thiết, tuy cũng có phần cao ngạo nhưng không nhất thiết thể hiện ra bên ngoài. Nếu như hung cát tinh hỗn tạp thì nửa âm nửa dương, vừa chính vừa tà, yêu ghét khó định.

Nữ mệnh Liêm Trinh tọa mệnh cung, khí chất tốt, cho người khác cảm thấy rất ẩn chứa và thu hút, cơ thể đẹp, ngũ quan đoan chính thanh tú, chính trực, làm việc già dặn, tính tình khá cương nghị.

  1. Liêm Trinh ở thân mệnh cung là thứ đào hoa, nếu hội sát tinh thì hay cờ bạc, háo sắc hoặc vì tiền mà tranh chấp dẫn đến kiện tụng.
  1. Liêm Trinh hội sát tinh, đa phần mặt nhám hay có tàn nhan, mặt vuông miệng rộng, tính tình thất thường, nữ mệnh tính tình sôi nổi, hướng ngoại, dễ đi quá giới hạn mà hồng hạnh vượt tường.
  1. Liêm Trinh thủ mệnh ở Mùi Thân cung, không có Tứ sát, phú quý, danh tiếng vang xa.
  1. Liêm Trinh đồng cung với Văn Xương hay Văn Khúc, thích lễ nhạc, biểu hiện ưa thích phương diện nghệ thuật, có thể giỏi hát múa, nho nhã lịch sự, lễ phép. Nữ mệnh có duyên kỳ ngộ bên ngoài.
  1. Liêm Trinh đồng cung hội chiếu với Tứ sát, Không Kiếp và Thiên Hình, chủ tàn tật, có tai hung ngoài dự kiến, như tai nạn xe, ngã bị thương, sát thương, bệnh nặng khó chữa, mổ xẻ nhập viện. Hoặc phạm tội bị phạt, bị phán vào tù ngục, nặng thì bị cực hình, không có kết cục tốt lành.
  1. Liêm Trinh Thiên Hình đồng cung, tất là người dũng võ, hoặc Liêm Trinh cư dần thân,

Nam mệnh sinh năm Đinh Quý, đồng cung với Tướng Quân, cũng là người uy mãnh.

  1. Nữ mệnh Liêm Trinh tọa mệnh, tam hợp tứ chính hội cát tinh, là số quý phu nhân. Nhập mệnh hội Lộc Tồn và Hóa Lộc, chủ là người phụ nữ trinh liệt, thông minh cơ xảo, giúp chồng giúp con.
  1. Liêm Trinh đồng cung với Hóa Kỵ, Văn Xương hoặc Văn Khúc, bất luận nam hay nữ đều hay tính toán so đo, là người giả dối, thường hay nói suông.
  1. Liêm Trinh nếu hội chiếu với Vũ Khúc Phá Quân, tổ nghiệp tất phá bại, hoặc Liêm Trinh cư Mệnh, Vũ Khúc Phá Quân cư Thân cung cung vậy
  2. Liêm Trinh nếu gặp Phá Quân, Hỏa Tinh cư hãm địa và lạc không vong thì hành sự tất có thất bại lớn, hoặc chủ nhảy sông tự vẫn.
  3. Liêm Trinh hãm địa hội Văn Xương Văn Khúc, là người chết yểu.
  1. Liêm Trinh hội Thất Sát, giữ võ chức, hoặc thích hợp kinh doanh.
  1. Liêm Trinh hội Lộc Tồn, chủ phú túc, Liêm Trinh Hóa Lộc, chủ thăng quan, phát tài, hai kiểu người trên đều chủ đại phú quý.
  1. Liêm Trinh dữ Kình Dương đồng cung, có thị phi quan trường; đồng cung với Đà La, thương tích chảy máu khó tránh được.
  1. Liêm Trinh cư mệnh hóa Lộc, sự nghiệp sớm hưng vượng, nắm quyền, tiền tài thịnh vượng.
  1. Liêm Trinh cư mệnh hóa Kỵ, một đời không thuận, cũng chủ chảy máu. Là người hung tật, có khuynh hướng phạm tội, tai tạn tửu sắc hay tranh đấu kiện tụng, hoặc có bệnh khó chữa.
  1. Liêm Trinh hội Bạch Hổ, khó tránh hình phạt (lấy các sao an theo niên chi, có Liêm Trinh Bạch Hổ đồng cung cư mệnh, chủ người có tai nạn tù ngục, sát tinh nhiều càng nguy hiểm, tuy không hội sát tinh cũng có kiện tụng, tranh chấp, bị giam giữ. Gặp lưu niên Bạch Hổ ở mệnh cung, đề phòng kiện tụng, nếu không cũng gặp tai nạn xe cộ, hoặc mổ xẻ nhập viện.)

Liêm Trinh cư tý ngọ, Thiên Tướng đồng cung

Thiên Tướng thuộc thủy, có thể khắc chế được hỏa của Liêm Trinh, khiến Liêm Trinh phải thu ngọn lửa hung hãn về. Hai sao này đồng cung nhập mệnh, chủ người khiêm tốn cẩn trọng, làm việc có trách nhiệm, giao du rộng, là người thật thà, trong quan hệ xã giao cho người khác cảm giác nhờ cậy được.

Kình Đà đồng cung, một đời thị phi không dứt. Hỏa Linh xung phá, tàn tật. Liêm Trinh Hóa Kỵ, chủ thương tật máu chảy, cư cung Tý Hóa Kỵ là Hỏa nhập đất Thủy, chủ mù mắt. Người sinh năm Giáp Ất Đinh Kỷ Canh Quý, tài quan song mỹ. Người sinh năm Giáp tam hợp sẽ có Hóa Lộc Hóa Quyền Hóa Khoa hội hợp, đại phú đại quý. Thiên Tướng là Ấn tinh, người sinh năm Đinh cung kế bên Hóa Kỵ và Thiên Lương giáp mệnh, là cách “Hình Kỵ giáp ấn”, phúc không đẹp hoàn toàn, dễ có chuyện kiện tụng hình tù. Người sinh năm Tân cung giáp Cự Môn hóa Lộc và Thiên Lương giáp mệnh, là cách “Tài Ấm giáp mệnh”, hội cát tinh thì chủ phú quý.

An mệnh cư Ngọ, người sinh năm Bính Mậu có Kình Dương đồng cung, Kình Dương hóa khí là Hình, Liêm Trinh hóa Kỵ là Tù, là cách “Hình Tù giáp Ấn”, là người hung hãn, tâm thuật bất chính, coi thường pháp luật, tất có tai họa tù ngục, gặp kiện tụng quan trường, chịu hình phạt, cả đời không thể phát đạt, người sinh năm Bính có thể đột tử.

Liêm Tướng đồng cung tọa mệnh, thích hợp làm công chức, hoặc các công việc có tính chất phục vụ, hoặc các ngành nghề trợ giúp phò tá người khác, có thể đạt được thành tựu khá lớn. Nếu theo thương nghiệp cũng theo phò tá người khác là đủ, không nên tự làm ông chủ hay người đứng đầu.

Liêm Trinh cư sửu mùi, Thất Sát đồng cung

Liêm Trinh Thất Sát, lưu đãng thiên nhai”, tất là số phải ra ngoài, thích hợp võ chức hay kinh doanh.

Hai sao trên đồng cung tọa mệnh, chủ người dũng cảm, dám mạo hiểm, làm việc dễ một mình một đường (khăng khăng làm theo ý mình), cả đời cũng có nhiều thăng trầm và khúc triết. Chịu gian khổ, vất vả, đặc biệt là khi còn trẻ.

Liêm Trinh Thất Sát, phản vi tích phú chi nhân”. Giỏi quản lý tiền bạc, người sinh năm Giáp “tọa quý hướng quý”, Mệnh cung Liêm Trinh hóa Lộc, hội Phá Quân hóa Quyền và Vũ Khúc hóa Khoa, lại hội Tả Hữu Xương Khúc, không quý tất đại phú, là cách “Liêm Trinh thanh bạch”; người sinh năm Canh tọa quý hướng quý, Vũ Khúc hóa Quyền, hội cát tinh cũng có thể phú quý.

Người sinh năm Bính Liêm Trinh hóa Kỵ, hội sát tinh, tất có tai họa thương tích chảy máu, có thể gặp tai họa bất ngờ, là cách “Lộ thượng mai thi”.

Liêm Sát Sửu Mùi, sẽ hoạnh phát, hung tinh đồng cung hay hội chiếu không có cát tinh thì chủ bần tiện, tuy hoạnh phát một thời nhưng tất đại bại.

Liêm Trinh cư dần thân

Nhập miếu độc thủ, chủ người tài hoa hơn người, tất có thành tựu. Nếu Thất Sát cư Thân đóng thân cung, không có sát tinh mà có cát tinh thì là thượng cách.

Hội Văn Xương, thích lễ nhạc. Hội Lộc Tồn, là cách “Liêm Trinh thanh bạch”, chủ phú quý.

Liêm Trinh cư Dần, tam phương Thiên Phủ Thiên Tướng, là cách “Phủ Tướng triều viên”, người sinh năm Giáp, Lộc Tồn cư Mệnh, Liêm Trinh hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Khoa, là quý cách “Song Lộc triều viên”, “Lộc Mã giao trì”, “Khoa Lộc tuần phùng”, chủ địa vị nhất phẩm, là cách cục đại phú quý hi hữu trong thế gian. Người sinh năm Kỷ Canh, tài quan song mỹ, cũng là quý cách, thứ đến người sinh năm Đinh.

Liêm Trinh cư Thân, là cách “Hùng túc triều viên”, đa phần là bậc giàu có, khi trẻ có thể hoạnh phát tiền bạc, người sinh năm Giáp Mậu canh là cách phú quý, thứ đến là người sinh năm Đinh Kỷ, người sinh năm Quý chủ dũng mãnh hiếu chiến, đều chủ phát tài.

Liêm Trinh cư mão dậu, Phá Quân đồng cung

Hai sao trên đều hãm địa, tổ nghiệp tất phá bại, tự mình xây dựng cơ nghiệp.

Chủ người dám mạo hiểm với khó khăn, tính phá hoại lớn, chỉ sợ thiên hạ không loạn. Tính tình quật cường, một mình một đường, tính nhẫn nại cao, đa phần sống đời kĩ thuật chuyên nghiệp, hoặc là quân nhân hoặc làm trong cơ cấu nhà nước. Có sát tinh, là viên chức thái độ ngang ngược, lạnh lùng.

Người sinh năm Ất Tân Quý tốt đẹp, được Tả Hữu hội chiếu, chủ phú quý. Xương Khúc Lộc Tồn đồng thủ, chủ người rời xa quê hương bản xứ, tài nghệ hơn người, phú quý. Hội Tứ sát, kiện tụng, tranh giành, bệnh tật kéo dài. Người sinh năm Giáp Bính Canh, hoạnh phát hoạnh phá, phúc không bền. Kình Dương đồng cung, tàn tật cháy máu, một đời hay rước thị phi. Hỏa tinh hay linh tinh đồng cung, lòng lang dạ sói, hung tàn gian xảo.

Phá Quân không hỉ Xương Khúc, vì Xương hay Khúc đồng cung, một đời bần sĩ, hình khắc lao lực, nếu như Văn Xuwong đồng cung mà hội Lộc Tồn thì có thể phú quý. Nếu Vũ Khúc Tham Lang cư sửu mùi thủ thân cung, đa phần là dựa vào kĩ thuật mưu sinh.

Người sinh năm Tỵ Thiên Hình đồng cung cư mệnh, thích hợp làm công việc tư pháp, nhưng có họa sét đánh, dễ bị tai nạn xe, phòng ốc sụp, bị đè thương, sét đánh, chó rắn cắn…

Liêm Trinh cư thìn tuất, Thiên Phủ đồng cung

Thích hợp theo chính trị hoặc làm về tài chính, phòng ốc hay văn nghệ…

Đa phần sinh trong gia đình khá giả hay giàu có, thân hình béo tốt, là người rộng rãi đôn hậu, ăn nói tốt, các mối quan hệ xã hội viên mãn, làm việc có trách nhiệm, có thể có được sự tín nhiệm của mọi người, dễ nắm quyền, một đời hay được sự giúp đỡ của bạn bè người thân mà thành công, danh tiếng bên ngoài. Người sinh năm Giáp Kỷ Canh Nhâm, tài quan song mỹ. Người sinh năm Giáp, thường làm quan lớn về tài chính, hành chính, hoặc là làm thương gia, có thể trở thành cự phú. Tả Phụ đồng cung, có thể leo lên tầng lớp lãnh đạo, hội nhiều cát tinh, đại phú đại quý. Văn Xương đồng cung, biết cư xử, tính tình tốt, ăn nói dễ nghe.

Kình Đà Hỏa Linh hội chiếu, chủ người gian trá. Lạc không vong, chủ người cô lập. Kình Đà đồng cung, có thị phi. Đà La đồng cung, thương tích chảy máu.

Người sinh năm Bính Nhâm rước thị phi, thành bại bất nhất, hội Hỏa Linh, tất có tai họa tù ngục, thậm chí tội ác nặng đến mức xử bắn. Đối cung Thất Sát, có thể theo nghiệp võ, hội hung sát tinh, dễ tử trận, hoặc chết ngoài dự kiến, nếu không tàn tật.

Liêm Trinh cư tỵ hợi, Tham Lang đồng cung

Hai sao trên đều hãm địa, cách cục khá kém.

Liêm Tham Tỵ Hợi, thân hình trung bình, da trắng vàng, không béo không gầy, quan hệ xã giao viên mãn, ngôn từ phong phú, ít có chủ kiến, tình cảm xung động, tính tính dễ yêu dễ ghét, không cố định. Hai sao này đồng cung, nhiều người đành giá thấp, Tham Lang là đại đào hoa tinh, Liêm Trinh là thứ đào hoa tinh, nam mệnh được cách này tất là kẻ háo sắc, thích dâm lạc, cờ bạc rượu chè. Hội hung tinh, vì tửu sắc mà chết .

Sách viết: “Liêm Lang Tỵ hợi cung, ngộ cát lộc doanh phong ứng quá tam tuần hậu, tu phòng bấtthiện chung”, một đời thường gặp hung nguy, sát tinh nhiều thì đoản mệnh.

Nữ mệnh thì phóng tung đa dâm, thủy tính dương hoa, hôn nhân tất có biến. Đồng cung hay hội chiếu với Tứ sát, Thiên Diêu, Đào Hoa thì dâm dục, là ca kĩ. Nữ mệnh Liêm Tham thủ mệnh đa phần là vợ hai, hoặc cưới người đã từng ly hôn.

Hội Thiên Mã, đa phần chủ sớm rời xa quê, ra ngoài mưu tính phát triển. Có thể tòng quân, hoặc chủ người phiêu bạt khắp nơi, một đời bôn ba không yên, hội hung tinh thì hạ tiện nghèo khó, rời xa tổ tông, chết ở đất khách. Xương Khúc đồng cung, là người đa hư

thiểu thực, tính cách ti tiện, cần phòng nạn xe cộ, tai nạn trên không, hoặc từ trên cao rơi xuống ngoài dự kiến mà dẫn đến tử vong.

Xương Khúc và Hóa Kỵ đồng cung, người sinh năm Bính tất có đại họa, thường đột tử.

Người sinh năm Mậu Tham Lang hóa Lộc, cũng hội Lộc Tồn, hội Hỏa Linh đồng cung chủ đại phú quý, hoặc là lãnh đạo cấp cao trong quân đội, trong giới chínhtrị hay là anh hùng thảo khấu nổi tiếng giang hồ, hay là cự phú trong giới thương gia.

Liêm Tham cư Tỵ, người sinh năm Canh hội Kình Dương ở Dậu, khó tránh tù ngục, người sinh năm Tân Lộc Tồn cư Dậu, có thể có phú quý, nhưng không bền.

Liêm Tham cư Hợi, là cách “Phiếm thủy đào hoa”, người sinh năm Nhâm phú quý, nhưng phúc không bền; người sinh năm Giáp hội Kình Dương cư Mão, khó tránh tù ngục; người sinh năm Quý Đà la Kỵ đồng cung, không theo chính nghiệp, làm hoạt động phi pháp, hoặc mánh khóe không ra sao, đa phần là số nghèo, phá tướng, tàn tật, chết yểu.

Mệnh cư tỵ hợi, vô chính diệu, đối cung là Liêm Trinh Tham Lang, luận cung xung chiếu. Thiên Phủ Thiên Tướng hội chiếu, cũng chủ tốt đẹp, một đời tình cảm nhiều khúc triết. Người sinh năm Ất Mậu Tân Nhâm, hội cát tinh cũng chủ phú quý. Đối cung có Tham Lang, hội Hỏa Linh đồng cung, thích hợp ra ngoài kinh doanh. Xương Khúc Lộc Tồn hội chiếu, phú quý. Liêm Trinh hoặc Tham Lang hóa Kỵ,chủ người dâm đãng, đoản mệnh.

  1. Thiên Phủ

Thuộc Thổ, đứng đầu trong chòm nam đẩu tinh, hóa Lệnh tinh, chủ tài bạch, điền trạch.

Người có Thiên Phủ nhập mệnh tướng mạo thanh kỳ, thân hình trung bình, mặt hình vuông, dáng người béo tốt đầy đặn. Tính tình ôn hòa, ổn trọng, đứng đắn, tinh thần viên mãn, không câu nệ tiểu tiết, có tình nghĩa và sự cảm thông, nhiều bạn bè tri kỉ, có thể gây dựng được sự tin tưởng, cuộc sống hay được quý nhân tương trợ.

Thiên Phủ có tâm thái bằng lòng yên vị với hiện trạng, thiếu sự khai sáng và xung kích lực, phấn đấu đến một mức độ nào đó rồi lười biếng từ bỏ.

Có dục vọng về quyền lực, yêu thích tiền bạc, thích sự sung túc, hội lục cát tinh, trung hậu lương thiện trọng tình cảm, có thể đảm nhận các công việc quan trọng về tài chính kinh tế hay làm quản lý.

Nữ mệnh Thiên Phủ, có khí chất của quý phu nhân, Thân thể hơi béo, sau trung niên đa phần mập mạp. Dịu dàng có sự cảm thông, là người ổn trọng, không xử trí theo cảm tính, hành sự lý trí, giỏi xử lý các quan hệ ngoại giao.

  1. Thiên Phủ hội Lộc Tồn, Vũ Khúc, rất giàu có.
  1. Thiên Phủ hội chiếu với Kình Đà Hỏa Linh, gian trá giả dối, mưu kế đa đoan, giỏi âm mưu thủ đoạn.
  1. Thiên Phủ không thích bị Tứ sát xung phá, tất vô quan quý, nhưng cũng chủ tài điền sung túc.
  2. Thiên Phủ là kho cất giữ tiền bạc (tài khố), lạc không vong (Địa Kiếp, Địa Không, Tuần Không, Triệt Không), tất là “không khố” (kho rỗng), chủ người bị cô lập.
  3. Thiên Phủ hỉ Tử Vi, Thiên Tướng, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Lộc Tồn, Thiên Khôi, Thiên Việt, Quyền Lộc hội hợp, có thể đại phú đại quý.
  1. Thiên Phủ nhập mệnh, có tài lãnh đạo, nhưng là người quá cẩn trọng, nên khiếm khuyết khai sáng lực.
  1. Thiên Phủ tối hỉ gặp Lộc Tồn và Hóa Lộc, chắc chắn sẽ giàu có.
  1. Thiên Phủ dữ Thiên Diêu đồng cung, lại kiến sát tinh là kẻ quyền mưu thủ đoạn.
  1. Thiên Phủ lâm cung Tuất có các sao phù trợ, người sinh năm Giáp Kỷ giàu có.
  1. Thiên Phủ, Thiên Tướng còn gọi là thần bổng lộc, là bậc quan lại, chủ hanh thông.

Thiên Phủ cư tý ngọ, Vũ Khúc đồng cung (Xem phần sao Vũ Khúc)

Thiên Phủ cư sửu mùi

Thiên Phủ là sao chủ tiền bạc, điền trạch, ở cung Sửu Mùi được Thái Âm, Thái Dương tương giáp gọi là cách “Nhật Nguyệt giáp tài”, hội cát tinh, không quyền tất phú. Tả Phụ Hữu Bật đồng cung, địa vị tôn quý, Xương Khúc giáp mệnh hoặc hội Xương Khúc, quang vinh bậc cao.

Kình Đà Hỏa Linh hội, chủ gian trá; lạc không vong, chủ cô lập. Đối cung Liêm Trinh Thất Sát có Kình Dương hoặc Đà La đồng cung, có họa tù ngục, lấy vợ chồng phương xa.

Thiên Phủ cư Sửu, người sinh năm Bính Mậu Tân, Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt hội chiếu, hoặc được Tả Hữu, Xương Khúc giáp mệnh, tài quan đều tốt, dù không quyền quý nhưng cũng có số giàu có.

Thiên Phủ cư dần thân, Tử Vi đồng cung (Xem phần sao Tử Vi)

Thiên Phủ cư mão dậu

Đối cung là Vũ Khúc Thất Sát, có thể nắm quyền tài chính, nếu hội Lộc Tồn, Xương Khúc tất có tài sản rất lớn.

Người sinh năm Giáp Canh gặp Kình Dương đồng cung hoặc chính chiếu, trước lớn sau nhỏ, có đầu không có kết. Hội Tứ sát thì gian tà, lạc không vong bị cô lập. Cung thiên di có sát diệu Hóa Kỵ ắt có tai nạn xe cộ hình thương.

Thiên Phủ cư Mão, người sinh năm Ất Bính Tân, tài quan song mỹ, người sinh năm Kỷ chủ quý.

Thiên Phủ cư Dậu, người sinh năm Ất Bính Mậu Nhâm Tân tài quan song mỹ.

Thiên Phủ cư thìn tuất, Liêm Trinh đồng cung (Xem phần sao Liêm Trinh)

Thiên Phủ cư tỵ hợi

Đối cung là Tử Vi Thất Sát, là tổ hợp có quyền lực nhất. Người sinh năm Ất Bính Mậu Nhâm Tân tốt đẹp, tài quan đều tốt, Xương Khúc đồng cung, chủ đại phú quý.

Được cát tinh hội chiếu, cuộc sống được quý nhân nâng đỡ, dễ dàng nhẹ bước mây xanh, phú quý, tuổi thọ cao.

Hội Tứ sát, gian trá, lạc không vong, cô lập.

8. Thái Âm

Thuộc Thủy, Nam Bắc Đẩu tinh, tượng là mặt trăng trên trời, hóa Phúc, chủ Tiền Bạch, Điền Trạch. Thái Âm chủ Phú, sau mới chủ Quý. Người nam thì ứng với mẹ, vợ, con gái; người nữ thì ứng với mẹ, con gái.

Thái Âm cư Mệnh thay đổi ánh sáng theo thời gian, như Thái Âm ở cung Tý tượng trưng cho mặt trăng vào giờ Tý, Thái Âm ở giờ Dậu tượng trưng cho mặt trăng ở giờ Dậu, lần lượt suy tiếp.

Thái Âm nhập mệnh cung, mặt vuông tròn, thân hình trung bình, hơi béo, da trắng sáng. Tính tình dịu dàng, thanh tú cương trực, thông minh tuấn tú, khí chất bên ngoài tốt, đoan chính, khiêm tốn lễ độ, suy nghĩ tinh tế, biết cách cư xử thỏa đáng trong giáo tiếp, tránh được xung đột chính diện, xử lý tốt đẹp các mối quan hệ. Bất luận miếu hãm, đều có sự tu dưỡng về phương diện văn học nghệ thuật, văn hay chữ tốt, học nhiều đa năng. Ưa sạch sẽ, chú ý đến sự thú vị của cuộc sống, là người theo chủ nghĩa duy mỹ. Tính tình thích tĩnh, có hứng thú với triết học, tâm lý học, mỹ học, thần bí học, thích trầm tư, suy nghĩ kĩ càng, giàu trí tưởng tượng, tư duy siêu thực, thậm chí nhiều lúc có xu hướng đa sầu đa cảm. Đa phần tưởng tượng rất lãng mạn về cuộc sống, nhưng có lại không đồng ý thay đổi. Nam nữ đều có duyên sắc sắc với người khác giới, dễ phạm đào hoa.

Nam nữ phong lưu hào phóng, nho nhã, trực tính gấp gáp, dễ thân thiết với nữ giới, cử chí có lúc bị nữ tính hóa, ẻo lả, đồng cung với sát tinh thì không nhất thiết như vậy.

Nữ mệnh mắt ngọc mày ngà, dung mạo đẹp đẽ, mềm mại như thương, khiến nam giới phải đắm say.

  1. Thái Âm thủ mệnh, hỉ người sinh ban đêm, người sinh ban ngày tốt nhất không nên lâm cung lạc hãm, hãm thì khác mẹ, nam thì khắc vợ. Thái Âm hóa Kỵ nếu như đồng thủ với sát tinh, tất mẹ mất trước. Sinh vào buổi đêm, Thái Âm tuy ở hãm địa nhưng không luận là hung; nếu sinh ban ngày, Thái Âm ở miếu vượng địa cũng không gọi là đẹp hoàn toàn.
  1. Thái Âm hỉ có Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt Lộc Tồn thủ chiếu cát hóa, nhập miếu hội nhiều cát tinh thì phú quý.
  1. Thái Âm ở cung thân, chủ có mẹ kế, hay theo mẹ tái hôn, xa quê làm con thừa tự, cung thân cư thiên di cung, Thái Âm lạc hãm, luận như trên. Hoặc Thái Âm ở cung thân hãm địa, đồng cung với Tứ sát, hoặc đồng cung với một trong Phụ Bật Khôi Việt cũng luận như trên.
  2. Thái Âm cư cung mệnh hay cung thân, miếu vượng, chủ một đời vui vẻ. Hội sát tinh thủ, một đời không vui vẻ.
  3. Thái Âm thủ mệnh, lạc hãm, đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh, cơ thể thương tật.
  4. Thái Âm Lộc Tồn đồng cung, Tả Hữu tương phùng phú quý.
  1. Thái Âm đồng cung với Kình Đà, chủ tán tiền bạc.
  1. Thái Âm đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc, cảm giác mẫn duệ, tri thức phong phú, giỏi nghề, có sở trường chuyên môn hay kĩ thuật, giàu tài hoa nghệ thuật, dễ thành danh. Thái Âm lạc hãm, đồng cung với Văn Khúc mà không hội Văn Vương thì là bậc thuật sĩ phiêu bạt.
  1. Thái Âm và Tứ sát đồng cung tọa mệnh, chủ người gian trá, tính toán, Thái Âm lạc hãm lại hội Tứ sát hình kỵ thì ham tửu sắc, dâm dật, có nhiều âm mưu, tâm địa hiểm độc.
  1. Thái Âm hóa Lộc, tốt đẹp, duyên với người khác phái tốt, một đời tiền bạc vượng, nhiều bất động sản, Thái Âm nhập miếu vượng thì đặc biệt tốt. Hãm địa thì có khẩu thiệt thị phi. Nữ mệnh dịu dàng, có cách thu vén gia đình, giàu có.
  1. Thái Âm hóa Quyền, tốt đẹp, nắm tiền tài quyền lực, có thể vượng phát, Thái Âm miếu vượng đặc biệt tốt, hãm Địa Không hội sát tinh cũng có thể luận là tốt.
  1. Thái Âm hóa Khoa, nhiều sở trường kĩ nghệ, làm việc hợp lý, có đào hoa, danh vọng cao, tài vận tốt.
  1. Thái Âm hóa Kỵ, nếu Thái Âm lạc hãm địa đại hung, một đời không thuận lợi nhiều tai họa, tình yêu nhiều điều không như ý, chậm hôn, thân thể nhiều bệnh. Nhập miếu không sợ Hóa Kỵ, còn gọi là “biến cảnh”, tăng phần tốt đẹp.

Thái Âm cư tý ngọ, Thiên Đồng đồng cung (Xem phần sao Thiên Đồng)

Thái Âm cư sửu mùi, Thái Dương đồng cung (Xem phần sao Thái Dương)

Thái Âm cư dần thân, Thiên Cơ đồng cung (Xem phần sao Thiên Cơ)

Thái Âm cư Mão

Lạc hãm độc thủ, xung chiếu với Thái Dương ở Hợi cung lạc hãm, là cách cục “phản bối ”. Thường chỉ người thông minh hơn người, kỵ đồng cung với Tứ sát, chủ bần tiện hung yểu, tính tình ngoan cố. Đồng cung với Hỏa Linh, chủ gian trá, đồng cung với Kình Dương, chủ chết non.

Bất luận nam hay nữ, đều không lợi bố mẹ, hoặc có khả năng rời xa họ hàng được nhận làm con thừa tự. Thường xa nhà từ thiếu niên, lập nghiệp ở ngoài.

Thích hợp với công chức, cũng hợp kinh doanh, người sinh năm Ất Mậu Nhâm hợp cách, người sinh buổi tối thì tốt đẹp, hội cát tinh thì phú quý.

Chỉ cần không gặp sát tinh, hội Tả Hữu hoặc Xương Khúc cát hóa, cự phú, đại quý, nhưng thường nghiêng về giàu có. Đây là phản cách, đa phần là những bậc anh hùng hào kiệt, vĩ nhân, hào phú nổi danh thiên hạ.

Thái Âm cư Thìn

Lạc hãm độc thủ, xung chiếu là Thái Dương ở cung tuất, là cách cục “nhật nguyệt phản bối ”, không đẹp. Nam mệnh không lợi cho mẹ, vợ, con gái. Nữ mệnh không hợp cho mẹ, bản thân mình và con gái, hội sát tinh càng nặng.

Là số bôn ba bên ngoài, có thể thu được thuận lợi. Người sinh năm ất Mậu nhâm, chủ cô quả, phúc không bền. Người sinh năm Đinh hội Khoa Quyền Lộc tam kì, kiến Xương Khúc Tả Hữu, chủ đại phú đại quý, có thể nổi danh khắp thế giới.

Người sinh năm Quý năng thiên phú cao, hợp nổi dành nhờ học thuật. Hội hung sát, bôn ba vất vả. Tứ sát đồng cung, cơ thể thương tật, hoặc tửu sắc tà dâm, hạ tiện chết yểu.

Thái Âm cư Tỵ

Lạc hãm độc thủ, đối cung là Thiên Cơ. Cũng không có lợi với những người nữ có quan hệ thân thiệt với mình, có hình khắc, có tật về mắt, cận thị hoặc mắt lé.

Khi nhỏ nhiều trắc trở vất vả, hoặc phải xa quê phát triển bên ngoài.

Nam mệnh có mưu lược, giỏi kế sách, thích uống rượu. Hội ác sát, tửu sắc tà dâm, hạ tiệt chết yểu. Tứ sát đồng cung, cơ thể thương tật.

Người sinh năm Ất Mậu, cô quả, phúc không bền.

Thái Âm cư Dậu

Thái Âm vượng. Bất luận là nam hay nữ, đều đắc trí thời trẻ, có niềm vui thích tiếp cận người khác phái, cũng vì vậy mà gặp nhiều chuyện phiền não về tình cảm.

Người sinh năm Ất Bính Mậu Đinh Tân Nhâm, tài quan song mỹ, nhiều cát tinh hội thì đại quý. Hội Xương Khúc Khôi Việt hoặc Phụ Bật, sớm đắc trí mây xanh.

Thủ mệnh thân cung, một đời vui vẻ, hội sát tinh một đời không vui.

Lộc Tồn đồng cung, Phụ Bật tương phùng, phú quý.

Nữ mệnh hội cát tinh, dung mạo xinh đẹp, dịu dàng hiền thục, thông minh, biết cách vun vén gia đình.

Thái Âm cư Tuất

Thái Âm ở Tuất và Thái Dương ở cung đối đều vượng. Đa phần hướng nội, tình cảm tinh tế hay suy nghĩ, cơ trí, thông minh, thấu hiểu ý người khác. Nữ mệnh biết cách vun vén gia đình, dịu dàng quan tâm, háo phóng lễ độ. Nam nữ thiếu niên đều đắc trí. Xương Khúc Khôi Việt, sớm đắc trí mây xanh.

Người sinh năm Bính Đinh, tài quan song mỹ, cát tinh nhiều thì đại quý. Được Quyền Lộc thủ chiếu, phúc lớn.

Nhập mệnh thân cung, chủ một đời vui vẻ, nhiều sát tinh, một đời không vui. Sát tinh đồng cung hoặc hội chiếu, cách cục giảm cái đẹp.

Thái Âm cư Hợi

Thái Âm cư Hợi nhập miếu, là vị trí tối cát của Thái Âm. Thủ mệnh, thân cung, chủ một đời vui vẻ. Là người cơ trí hơn người, tài cán, ưu tú. Nam mệnh phong lưu hào phóng, duyên său sắc với người khác phái.

Không hội sát tinh là cách cục “Nguyệt lãng thiên môn”, còn gọi là cách “Nguyệt lạc Hợi cung”, chủ một đời vinh hoa phú quý, có thể nắm đại quyền, tài vận hanh thông. Thái Âm thuộc tài tinh, nên những người giàu thường có cách này.

Tam hợp cát tinh củng chiếu, chủ được phong chức tước. Hội nhiều cát tinh, phú quý. Hội Xương Khúc Khôi Việt, tài hoa xuất chúng, văn chương giỏi, thông minh, sớm đắc trí mây xanh, không quý tất đại phú, nổi danh thiên hạ. Lộc Tồn đồng cung, Phụ Bật tương phùng, tất phú quý.

Nếu sinh ban ngày, cái tốt giảm đi nhiều. Kỵ hội Tứ sát Không Kiếp, sẽ luận là hung.

Hỏa Linh Đà La cư Mệnh, bản tính bỉ ổi, chủ ngục tù hình thương.

Người sinh năm Ất Đinh Mậu canh nhâm, tài quan song mỹ. Người sinh năm Ất hội Xương Khúc, là cách siêu giàu có, vang danh thế giới. Người sinh năm Tý Sửu ban đêm, không quý tất đại phú.

9. Tham Lang

Tham Lang thuộc Thủy Mộc, Bắc Đẩu đệ nhất tinh, hóa Đào Hoa Sát, chủ họa phúc.

Nhập miếu là người béo đứng thẳng, xương mày khá cao, lạc hãm thì thấp nhỏ, tiếng cao âm lượng lớn.

Người có Tham Lang nhập mệnh, vô cùng tình cảm hóa, tính cách đều tương đối phức tạp, không ổn định, hiếu động, giỏi xa giao tiệc nhậu, một đời hay kết giao bạn bè, bản tính lạc quan, đam mê dục vọng vật chất, thích ăn uống hưởng lạc, rượu chè cờ bạc trai gái không gì là không thể. Là người không câu nệ tiểu tiết, tình cảm thăng trầm nhiều biến động lớn, có lúc thích khôn vặt, cho người khác những ân huệ nhỏ. Khẩu tài lưu loát, khoe khoang, thích thổi phồng, chủ đề bàn luận phong phú, có khuynh hướng hào nhoáng mà không thực. Tâm lý hên xui rất lớn, tính hích đầu cơ, mạo hiểm, hi vọng có thể một sớm

một chiều có kì tích hoạch phát xảy ra, làm việc không đủ kiên nhẫn. Đối với tiền bạc khá rộng rãi, lãng phí, một đời tài vật cũng nhiều hư hao.

Trong cuộc sống thích được kích thích, thứ gì mới lạ, hợp ý, không chịu cảnh bình thường, không vừa lòng với hiện trạng, luôn hi vọng có sự đột phá trong công việc, vì vậy mới tồn cư cái tật xấu làm không đến nơi đến chốn.

Tham Lang thủ mệnh thích thuật thần tiên, thích nghiên cứu và tìm hiểu thảo luận về văn hóa thần bí khí công tăng đạo. Tính tính khá gấp, hay tính toán, không chịu tĩnh lặng, ham cờ bạc hoa tửu, háo sắc. Người có Tham Lang nhập mệnh, bất luận nam hay nữ, trừ một số ngoại lệ cực kì cá biệt, tuyệt đại đa số đều có đào hoa hay có ngoại ngộ.

Nữ mệnh, gợi cảm, sớm trưởng thành, thân thể phổng phao có sức thu hút, tính dục cao, chí cao tính cương, xã giao rộng.

  1. Thất Sát, Tham Lang, Phá Quân ba sao này luôn luôn hội chiếu lẫn nhau, chủ khai sáng cải cách, phá bỏ cái cũ xây dựng cái mới và sự xung kích lớn. Tham Lang hội cát tinh (Phụ Bật, Khôi Việt, Lộc Tồn, Hóa Quyền, Hóa Lộc…) thì là nhân vật quan trọng trong quân đội chính trị, lãnh đạo giới thương gia, phú quý danh tiếng, hội ác sát thì ham tửu sắc, thích cờ bạc, thích ăn chơi hưởng lạc, rượu chè hoa nguyệt.
  2. Tham Lang là đại đào hoa tinh, không thể thoát khỏi sự cám dỗ của sắc tình, Kình Đà hội chiếu, nam mệnh một đời đào hoa nhiều, cũng có sở thích đi chơi gái; nữ mệnh thì dâm đãng, tự do tình dục, Mệnh Thân hai cung có sát tinh e là ca kĩ. Sách viết: “Tham Langgia sát đồng hương, nữ thâu hương nhi nam thủ thiết”. Tham LangởMệnh, Thất SátthủThân, hội sát diệu, nam thì khoét vách, nữ thì vụng trộm. Tham Lang ở Mệnh, Phá Quân thủ Thân, hội sát diệu và Thiên Mã, nam nữ tính thích du đãng, đam mê rượu chè cờ bạc, coi sắc như sinh Mệnh; nữ mệnh lông bông, không ở yên trong nhà, thích giao du kết bạn, thông tư hay dâm bồn với người khác, vì vậy sách viết: “Hao (tứcPhá Quân) gặp ThamLang, sính dâm tình vu tỉnh đế”.
  3. Tham Lang cư Tý Hợi, là phiếm thủy đào hoa, chủ dâm dục, hội Kình Đà, rất háo sắc, nữ mệnh ai cũng có thể làm chồng.
  4. Tham Lang hội Địa Kiếp, Địa Không, Tuần không, Địa Không va Thiên Hình đồng cung thì không luận là dâm dục, có thể đứng đắn, đa phần nhiều tín ngưỡng tôn giáo ngoan đạo, cũng thanh bạch đoan chính.
  5. Tham Lang hỉ đồng cung và hội chiếu với Hỏa Tinh, Linh Tinh (tam hợp hội Vũ Khúc càng đẹp), luận là phú quý, có ý nghĩa là vận may không ngờ đến, hoặc chủ võ chức quý hiển. Hội Hỏa Tinh là cách “Hỏa Tham đồng hành”, danh vọng cao, có thể bạo phát; hội Linh Tinh là cách “Tham Linh tương phùng”, có thể nắm quyền, kinh doanh làm ông chủ, tài vận hoạnh phát. Sách viết: “Tham Lang Hỏa Tinh cư miếu vượng, danh chấn chư bang” (an mệnh tứ mộ, tam phương cát tinh củng chiếu đặc biệt đẹp. An mệnh ở Mão cung, thứ đến không có sát tinh, có Kình Đà Không Kiếp thì không hợp cách trên), “Tham Linh tịnh thủ,tướng tượng chi danh” (an Mệnhở cung Thìn Tuất Sửu Mùi Tý, hội cát tinh, người sinhnăm Mậu Kỷ hợp cách), “Tham Lang Hỏa Linh tứmộ cung, phú hào gia tư hầu bá quý” (cung Thìn Tuất đẹp, thứ đến cung Sửu Mùi, nếu thủ chiếu có thể luận là tốt, hội Kình Đà Không Kiếp không hợp cách trên).
  6. 6. Tham Lang nhập miếu thọ cao, hoặc Tham Lang hội cát tinh, lại tọa cung Dần Thân Tỵ Hợi ở vị trí Trường Sinh, chủ sống thọ.
  7. Tham Lang Tử Vi đồng cung ở Mão dậu, vô chế, là người vô dụng, được Phụ Bật Xương Khúc giáp chế, không luận như trên.
  8. Tham Lang Vũ Khúc đồng cung, tiền bần hậu phú, sau 30 phát phúc, nhưng là người keo kiệt, vì lợi ích của bản thân mà hại người khác.
  9. Tham Lang Vũ Khúc đồng thủ thân cung, không có cát tinh mệnh không thọ. Mệnh không có cát tinh, thân cung là Vũ Khúc Tham Lang, chủ nghèo.
  10. Tham Vũ đồng hành hội cát tinh, chủ người uy oai chấn áp biên cương.
  11. Tham Lang đồng cung với Xương Khúc, là người đa hư thiểu thực, cho người khác cảm giác giả dối, giỏi lừa bịp.
  12. Tham Lang Kình Dương cư cung Ngọ, người sinh năm Bính Mậu trấn thủ biên cương, là cách “Mã đầu đới tiễn”, phú quý.
  13. Tham Lang nhập mệnh, người sinh năm Thân Tý Thìn Mệnh tọa cung Tý; người sinh năm Dần Ngọ Tuất Mệnh tọa cung Ngọ; người sinh năm Hợi mão Mùi Mệnh tọa cung Mão; người sinh năm Tỵ Dậu Mệnh tọa Dậu cung, là cách “Tham hội vượng cung”, chủ người có thể bản tính bất chính, đam mê hưởng thụ vật chất, thị phi không rõ ràng, có lúc hồ đồ, không tụ tài, một đời thành tựu không lớn, hội sát tinh có hành vi trộm cắp.
  14. Tham Lang đồng cung với Liêm Trinh cư tỵ hợi, nam phóng đãng, nữ đa dâm. Chủ người không thuần khiết, hội sát tinh tửu sắc đeo bám, gặp kiện tùng hình phạt, nghèo khổ, phá tướng, tàn tật.
  15. Tham Lang hóa Lộc, tài vượng, quen biết khắp thiên hạ, may mắn ngoài dự kiến, đa phần xinh đẹp, được sự trợ giúp của người khác phái, hội Hỏa Linh bạo phát.
  16. Tham Lang hóa Quyền, có quyền bính, danh vọng cao, thích hưởng thụ, có vận hên ngoài ý muốn, tài vận tốt.
  17. Tham Lang hóa Kỵ, thích tửu sắc, nhiều thị phi, dễ có hình thương ngục tù, bệnh tật nhiều ở nửa người dưới. Tham Lang ở Thìn Tuất không sợ Hóa Kỵ, Người Tham Lang thủy nhị cục không sợ Hóa Kỵ.
  1. Tham Lang nhập mệnh, là cao thủ “không thủ đạo”, giỏi thông qua các mối quan hệ xã hội mà đạt được mục đích, tay không kiếm lợi, không thích hợp với cái gọi là “chăm chỉ làm lụng mà giàu”, thích hợp với nghề nghiệp đầu cơ, công việc mang tính xã giao, thích hợp diễn xuất, kĩ thuật, văn hóa, ẩm thực, chứng khoán, tài chính, quảng cáo, công ty du lịch, xuất khẩu, quan hệ công chúng, bộ giáo dục… không ít những người kinh doanh cá thể, chủ công ty là mệnh Tham Lang.

Tham Lang cư tý ngọ

Vượng cung, độc thủ. Người sinh năm Đinh Kỷ phúc dày, Xương Khúc đồng cung, đa hư thiểu thực, chủ người có khẩu tài tốt, giỏi đối nhân xử thế, có tu dưỡng, thích văn học nghệ thuật, tình cảm khá phức tạp, hay tưởng tưởng.

Tham Lang ở Tý, Người sinh năm Bính Mậu Canh và Dần Thân thì hạ cách, Tả Hữu Xương Khúc hội chiếu thì hoạnh phát hoạnh phá. Người sinh năm Thân Tý Thìn, cả đời không có thành tựu. Hỏa Linh đồng cung, hội cát tinh, người sinh năm Mậu Kỷ, là bậc tướng quân. Kình Dương đồng cung, làm nghề giết mổ, làm những công việc thấp hèn, nếu như hội Tả Hữu Xương Khúc thì có thể làm ông chủ, một đời tất gặp thất bại phá sản lớn, cũng khó mà đứng dậy. Kình Dương đồng cung hoặc hội Kình Kình Đà La, cũng hội Đào Hoa chư diệu, là phiếm thủy đào hoa, chủ dâm dục cùng cực, vì sắc mà diệt thân.

Tham Lang cư Ngọ, Mộc Hỏa sáng rực rỡ, chỉ người thông minh có thành tựu, người sinh năm Đinh Kỷ phúc dày, người sinh năm Canh và Dần Thân cả đời không có thành tựu.

Người sinh năm Bính Mậu, Kình Dương đồng cung lại tốt, là cách “mã đầu đới tiễn”, phú quý. Thích hợp võ nghiệp, kinh doanh, cũng chủ người rời xa quê hương, lập nghiệp bên ngoài. Nữ mệnh nếu gặp cách trên thì chủ sắc dục, đa phần dùng tiền mờ ám để xây dựng nhà cửa.

Tham Lang cư sửu mùi, Vũ Khúc đồng cung (Xem phần sao Vũ Khúc)

Tham Lang cư dần thân

Tham Lang bình hòa, đối cung Liêm Trinh, đa tài đa nghệ, giỏi xử lý công việc, chí khí cao ngạo, thích chính trị.

Văn Xương hoặc Văn Khúc đồng cung, chủ người đa hư thiểu thực. Người sinh năm

Canh, tài quan song mỹ. Người sinh năm Giáp Mậu Kỷ, thích hợp kinh doanh phát tài, hội

Hỏa Linh, đột ngột hoạnh phát tiền tài, đại phú quý.

Tham Lang cư Dần, hội Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, có thành tựu. Đà La đồng cung, phong lưu, dâm loạn, vì sắc mà dẫn đến họa. Hội Kình Dương, Thiên Hình, có tai họa tù ngục.

Tham Lang cư Thân, bắt nguồn từ Kim sinh Thủy, một đời bôn ba, phải chịu gian khổ sau mới thành công, cũng có một giai đoạn phát tài. Chủ người trí tuệ hơn người, người sinh năm Giáp Mậu Kỷ Canh phú quý. Người sinh năm Quý, Mộc phùng Kim chế, Quyền Lộc giáp mệnh, Song lộc triều viên, hội Hỏa Linh cực quý, lại hội thêm Tả Hữu thì danh chấn thiên hạ. Người sinh năm Tân Đà La đồng cung, là người giết mổ, địa vị thấp.

Tham Lang cư mão dậu, Tử Vi đồng cung (Xem phần sao Tử Vi)

Tham Lang cư thìn tuất, độc tọa

Tham Lang cư thìn tuất nhập miếu độc thủ, đối cung Vũ Khúc, hội cát tinh, có thể là thương gia tài ba, sau 30 tuổi tất phát đạt.

Thìn là thiên la, Tuất là địa võng, hội Hỏa Linh, giúp thoát khỏi thiên la địa võng, nếu không có Kình Đà Không Kiếp thì có thể phú quý, là chủ quản, ông chủ, thương gia lớn hay võ chức cấp cao.

Người sinh năm Mậu Kỷ tài quan song mỹ. Người sinh năm Quý, phúc không bền.

Người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, lạc không vong, lại là chính không phải tà, lạc vào đất Triệt không cũng vậy, không có hành vi bất lương, đa phần có chuyên môn kĩ thuật hoặc thành danh nhờ kĩ nghệ. Thiên Hình đồng cung, võ quý, thích hợp phát triển trong giới quân đội, chính trị.

Hội cát tinh, sống thọ.

Xương Khúc đồng cung, đa hư thiểu thực, hào nhoáng, thích hợp làm các công việc giáo dục. Kình Đà đồng cung, nam nữ tà dâm, là người giết mổ.

Tham Lang cư tỵ hợi, Liêm Trinh đồng cung (Xem phần sao Liêm Trinh)

10. Cự Môn

Thuộc Thủy, Bắc Đẩu đệ nhị tinh, hóa Ám, chủ thị phi.

Ánh mắt sắc bén, miệng nổi bật, mặt hình vuông tròn, nhập miếu thân hình to béo, đôn hậu thanh tú, lạc hãm thì ngũ đoạn (tay chân cổ…) gầy nhỏ, giọng cao mà tốc độ nhanh.

Cử chỉ tùy tiện, không chú ý đến lễ nghi. Cự Môn nhập mệnh, không tách rời được “khẩu”, chủ người ăn nói tốt, hội cát tinh, thường thích hợp làm những công việc nói là chủ yếu, giỏi xử lý các mối quan hệ công cộng, lời lẽ có phần giả dối, giỏi thổi phồng, là nhân tài trong việc ngoại giao.

Cuộc sống vất vả, sau khi vất vả phấn đấu có thể có thành tựu. Không hòa thuận với người khác, nhìn chung một đời thường hay rước thị phi khẩu thiệt, quan hệ giao tế không tốt, dễ làm tổn thương người khác. Có khả năng phân tích và liên tưởng rất xuất sắc, có tài biện luận, không bằng lòng với hiện trạng, tính tình khá ngoan cố, tự tin, tâm lý nghi ngờ lớn, không quá tin tưởng người khác, việc gì cũng phải tra hỏi rõ ràng đến cùng, thích có được những thông tin đích thực rút ra từ thực tiễn.

Không coi trọng những tình tiết trong cuộc sống, cuộc sống vật chất chỉ cần sống được là sống, thích nghiên cứu học vấn kĩ thuật, học nhiều mà tinh thông ít, có những kiến giải đặc biệt với những gì quan sát được, kĩ tính, lòng dạ sắt đá, tự tư tự lợi, khả năng cảm thông kém, suy nghĩ quá nhiều vì vậy làm việc luôn do dự không dứt khoát.

Bụng dạ hẹp hòi, thích làm lớn những vấn đề nhỏ, khi nói chuyện thường vô tình đắc tội với người khác, cũng thích bắm chặt không tha những khuyết điểm sai lầm của người khác, thiếu sự khoan dung, khi lợi ích của bản thân bị xâm phạm thì bất luận chuyện lớn hay bé đều nổi trận lôi đình, hơn nữa cũng dễ gây hiểu lầm cho người khác, một đời thị phi không dứt, tranh chấp trong tối ngoài sáng liên miên, rất nhiều kẻ tiểu nhân, khó mà có thể sống những ngày tháng yên bình.

Nữ mệnh Cự Môn, lòng tự tôn cao, mẫn cảm đa nghi hẹp hòi, bụng dạ nhỏ hẹp, ngang ngạnh, tự cho mình là đúng, làm việc có trách nhiệm, yêu thích tiền bạc, tính cách đa phần không tốt.

  1. Cự Môn hỉ Tả Phụ, Hữu Bật, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, đặc biệt hỉ Thái Dương miếu vượng đồng cung hoặc hội chiếu, có thể nói là phú quý.
  1. Cự Môn sợ nhất đồng cung hoặc hội chiếu với các ác diệu, sát tinh như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Kiếp, Địa Không, Kiếp sát, Thiên Hình, Âm Sát… đều có nhiều vấn đề bất lợi, có tính tai họa khó khăn.
  2. Cự Môn thủ mệnh Thân cung, bất luận miếu hãm, một đời rước chuyện thị phi khẩu thiệt.
  3. Cự Môn cư hãm địa, đồng cung hay hội chiếu với Tứ sát, là số hung, Cự Môn thủ mệnh, tam hợp có sát tinh vây, tất gặp hỏa ách.
  4. Cự Môn đồng cung với Hỏa Tinh Linh Tinh, không có cát tinh Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền cứu giải, chủ tai nạn tù ngục, gặp người phối ngẫu phương xa, hoặc gặp những chuyện xấu khác. Gặp ở vận hạn thì cuộc sống nổi phong ba, càng cần đề phòng tai nạn về lửa, hội nhiều sát tinh Hóa Kỵ, tai nạn bất thình lình.
  5. Cự Môn đồng cung với Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh), Kình Dương, Đại Tiểu hạn lại hội ác sát tinh thì chủ thắt cổ chết.
  1. Cự Môn đồng cung với Đà La, tất có nốt ruồi lạ.
  1. Cự Môn và Đà La đều cư Mệnh Thân cung, Tật Ách cung, chủ nghèo khó, thân thể yếu ớt, tàn tật, tổ nghiệp không giữ được, bôn ba vất vả.
  1. Cự Môn thủ mệnh, hội Kình Đà, nam nữ dâm tà.
  1. Cự Môn Kình Đà nhập mệnh Thân cung, Tật Ách cung, chủ người gầy gò vàng vọt yếu ớt.
  2. Cự Môn là ám tinh, làm việc thường không quang minh chính đại, thích làm việc ngầm, lạc hãm hoặc hội hung tinh thì chủ người lừa gạt trời đất, lời lẽ không thực, có thói quen nói dối. Trước mặt một đằng, sau lưng một nẻo, bản thân cũng khó hòa thuận với người thân, giao tiếp với mọi người đa phần thường trước tốt sau xấu, trước thân thiết sau xa cách.
  3. Người nữ mệnh Cự Môn, nếu nhập miếu, người sinh Quý Tân có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền và cát tinh đồng cung hội chiếu thì là mệnh phú quý sống thọ.
  4. Nữ mệnh nếu gặp Cự Môn lạc hãm hoặc Hóa Kỵ, hình phu khắc tử, một đời nhiều thị phi, lắm điều nhiều chuyện, người sinh năm Đinh Cự Môn Hóa Kỵ, cực dâm; đồng cung hội chiếu với Tứ sát Không Kiếp, hình khắc tương đối nặng, nhiều bệnh, giảm thọ, bụng dạ hẹp hòi, tranh đấu không yên, khó có thể có hôn nhân lý tưởng. Cự Môn cư Tý Hợi, bất luận nam nữ đều có đào hoa.
  1. Cự Môn Tý Ngọ, thạch trung ẩn ngọc. Đồng Cự Sửu Mùi, hạ cách, hình khắc vất vả nhiều thị phi. Cự Nhật Dần Thân, thực lộc trì danh, Dần cung là thượng cách, thứ đến Thân cung. Cự Cơ cư Mão, công hầu chư vị, người sinh năm Ất Bính Tân hợp cách. Cơ Cự cư Dậu, quý mà không hiển, đẹp mà không thực. Cự Môn Thìn Tuất hãm Địa Không tốt, người sinh năm Tân thì lại là kì cách. Cự Môn Tỵ Hợi, xung chiếu với Thái Dương, thực lộc trì danh.
  1. Cự Môn hóa Lộc, sở trường ăn nói giao tiếp, có thể đạt được nhân duyên, giảm thị phi, chủ phú quý.
  1. Cự Môn hóa Quyền, nghiêm khắc cố chấp, tính tình kì quái, sở trường ăn nói tranh biện, cũng có thể nắm đại quyền, chủ quý.
  1. Cự Môn hóa Kỵ, sự đa nghi lớn, lúc nào cũng nghi hoặc, không tin tưởng người khác, một đời nhiều tai nạn khẩu thiệt, dẫn đến người thân rời xa. Hóa Kỵ ở đây hình hại nặng, cả đời không thuận, tất gặp tai họa lớn, khó khăn lớn.
  1. Người có Cự Môn nhập mệnh, đa phần là học giả, giảng viên, giáo sư đại học, luật sư, quan về tư pháp, bác sĩ, nhà thiết kế, nhà nghiên cứu, MC, phát thanh viên, nhà văn, kế toán, tài vụ…

Cự Môn cư tý ngọ

Cự Môn vượng, đối cung là Thiên Cơ. Chủ người ăn nói lưu loát, có thể nói là giỏi biện luận, đầu óc sáng sủa, khả năng phân tích mạnh.

Người sinh năm Tân Quý, hội Khoa Quyền Lộc, là cách “ Thạch trung ẩn ngọc”. Sách viết: “Cự Môn Tý NgọKhoa Quyền Lộc, thạch trungẩn ngọc phúc hưng long”, phú quý, trải qua gian khổ phấn đấu tất sẽ có thành công lớn, danh tiếng phát đạt, quan cao lộc hậu. Đặc điểm của cách này là sau khi sự nghiệp thành công lớn, lên đến cực thịnh tất sẽ suy tàn, vì vậy không nên đạt đỉnh cao. Người sinh năm Tân, Cự Môn hóa Lộc, Thái Dương hóa Quyền. Người sinh năm Quý, Lộc Tồn cư Tý, Cự Môn hóa Quyền, thượng cách. Người sinh năm Canh, Thái Dương hóa Lộc, lập mệnh cư Tý hội chiếu Lộc Tồn ở Thân cung, tốt đẹp. Thứ đến là người sinh năm Đinh Kỷ. Người sinh năm Bính Mậu, chủ khó khăn, cô quả chết yểu. Tuy phú quý nhưng không bền. Hội Kình Đà nam nữ tà dâm. Tam hợp sát tinh vây thì tất có hỏa ách.

Cự Môn cư sửu mùi, Thiên Đồng đồng cung (Xem phần sao Thiên Đồng)

Cự Môn cư dần thân, Thái Dương đồng cung (Xem phần sao Thái Dương)

Cự Môn cư mão dậu, Thiên Cơ đồng cung (Xem phần sao Thiên Cơ)

Cự Môn cư thìn tuất

Cự Môn cư thìn tuất và Thiên Đồng ở cung đối đều ở hãm địa. Chủ người làm việc nhiều thất bại, giả vờ thiện lành. Nếu Cự Môn ở Tuất, Thái Dương ở Ngọ cũng là kì cách. Người sinh năm Tân Quý, chủ quý. Người sinh năm Tân là kì cách. Người sinh năm Đinh canh, chủ nghèo. Còn lại đều không tốt, một đời hay rước chuyện thị phi khẩu thiệt. Hội Kình Đà, nam nữ tà dâm. Hội Tứ sát tất chủ hung họa. Tam hợp có sát tinh vây tất có hỏa ách. Hỏa Linh đồng cung, lại hội ác sát, chết đường chết chợ.

Cự Môn cư tỵ hợi

Đối cung là Thái Dương. Thủ thân mệnh cung thì không đẹp. Tuy phú quý nhưng không bền. Hội Kình Đà, nam nữ dâm dục. Tam hợp có sát tinh vây, tất gặp hỏa ách.

Cự Môn cư Tỵ, người sinh năm Bính Mậu Tân Quý, tài quan song mỹ. Cự Môn cư Hợi, đối cung Thái Dương miếu vượng, tốt hơn ở Tỵ. Người sinh năm Bính Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Khoa, Lộc Tồn chiếu đến, thượng cách. Người sinh năm Tân, Cự Môn hóa Quyền, Thái Dương hóa Lộc, thượng cách. Người sinh năm Nhâm, Lộc Tồn ở Hợi, Khôi Việt hội chiếu cũng là cách tốt. Người sinh năm Quý là thầy giáo, thích hợp thành danh nhờ học thuật.

11. Thiên Tướng

Thuộc Thủy, Nam Đẩu đệ ngũ tinh, hóa Ấn, chủ Quan Lộc.

Thiên Tướng nhập mệnh, chủ tướng mạo đôn hậu, chín chắn, sắc mặt trắng xanh hoặc vàng nhạt, khuôn mặt vuông tròn, thân hình trung bình, nhập miếu đầy đặn béo tốt, thích ăn nhậu, vật chất đầy đủ. Ăn nói chân thực, không giả dối, thấy người khác khó khăn thì động lòng xót xa, thấy kẻ ác thì bất bình. Lời lẽ cẩn thận, suy nghĩ chu đáo, có lòng chính nghĩa. Quan hệ xã giao tốt đẹp, đối xử với mọi người chân thành, khiêm tốn lễ độ, giúp đỡ mọi người thường xuất phát từ tấm lòng chứ không tính toán chuyện báp đáp. Lòng dạ lương thiện, ôn hòa, khoan dung, làm việc chăm chỉ, có năng lực quản lý và xử lý nghiệp vụ tốt, có thể hi sinh lợi ích bản thân để phục vụ đại cục. An phận thủ thường, một đời nhẫn nhịn chịu khó, một lòng trung thành, thích hợp làm các công việc phò trợ người khác. Sao Thiên Tướng có những đặc tính tốt đẹp như trên, vì vậy được mọi người yêu quý.

Người có Thiên Tướng nhập mệnh có khuyết điểm là việc gì cũng quá cẩn thận, suy nghĩ quá nhiều, thiếu sự thực tế và sự khai thác, bằng lòng với hiện cư, vì vậy thích hợp làm các công việc thư ký hay phía hậu trường.

Không quá giỏi kinh doanh là một trong số đặc tính của Thiên Tướng. Nếu kinh doanh tất là thương gia lương thiện. Người Thiên Tướng thật thà, không giỏi dùng mưu dùng kế, có lúc quá tin tưởng người khác, cơ hội đến nhưng không nắm bắt ngay nên thường lọt vào tay người khác.

Nữ mệnh Thiên Tướng, dịu dàng hướng nội, nội tâm tốt đẹp, dung mạo đoan trang ổn trọng, da dẻ nhẵn nhụi, lễ phép nhã nhặn, không tính toán với người khác, không quá coi trọng sự nghiệp, không thích khoe khoang và bàn chuyện không đâu, thích ở lì trong nhà. Thích hợp cùng chồng dạy con, là vợ hiền mẹ tốt, vật chất như ý.

  1. Thiên Tướng là sao về tước vị, chủ phúc thọ, hóa khí là Ấn, trong 12 hai cung đều là phúc, tốt đẹp, không theo ác mà thay chí, không vì sát mà đổi thay.
  1. Thiên Tướng thủ mệnh, nếu lâm đất sinh vượng thì tuy không gặp Tử Vi, nhưng nếu được Tả Phụ Hữu Bật thì nắm quyền uy, hoặc cư cung bình hòa yếu, cũng được cho là tốt đẹp, chủ vật chất đầy đủ.
  1. Thiên Tướng được Xương Khúc Tả Hữu hội chiếu, có thể là bậc công khanh.
  1. Thiên Tướng hãm địa, Tham, Liêm, Vũ, Phá, Xương, Đà sát tinh vây, chủ người kĩ nghệ an thân.
  1. Thiên Tướng thủ mệnh, hội Hỏa Linh xung phá, tàn tật, cơ thể bị thương. Ở Dần Thân Tỵ Hợi có Kình Đà đồng thủ, không tàn tật tất ngục tù.
  1. Thiên Tướng khá bảo thủ, thường không khoe mẽ nhiều, không là trộm cắp, cũng là tòng phạm.
  2. Thiên Tướng đồng cung Liêm Trinh Kình Dương ở Tý Ngọ, là cách “Hình Tù giáp Ấn”, chủ người khó thoát cảnh hình tù phạt, có họa tù ngục, cả đời không tốt, gặp tai nạn bất ngờ. Hoặc Thiên Tướng cư mão dậu, đồng cung với Kình Dương, đối cung có Liêm Trinh, cũng là cách trên.
  3. Thiên Tướng hội Thiên Phủ ở Mệnh Thân, chủ người một đời hưởng phúc, cũng chủ sống thọ.
  4. Thiên Tướng chi tinh nữ mệnh triền, tất đương tử quý dữ phu hiền”. Nữ mệnh Thiên Tướng, người sinh năm Giáp mệnh ở Ngọ cung, người sinh năm Kỷ Mệnh ở Tý cung, người sinh năm Canh Mệnh ở Thân cung hợp cách, tất là quý phu nhân, một đời vinh hoa.
  1. Nữ mệnh, “Hữu Bật Thiên Tướng phúc tương lâm”, chủ phúc thọ vinh xương.
  1. Nữ mệnh Thiên Tướng, có số giúp chồng, tam hợp cát tinh củng chiếu có thể cưới chồng phú quý.
  1. Nữ mệnh Thiên Tướng, kỵ Văn Xương Văn Khúc xung phá, tất là thê thiếp, như nhân viên phục vụ, hay nhân viên buôn bán, nếu không phải vợ hai tất có đào hoa, nhu cầu đời sống tình dục cao. Nữ mệnh Thiên Tướng đồng cung với Xương Khúc, tuy rằng thông minh, nhưng dễ vượt quá giới hạn, hoặc bỏ nhà theo trai, hoặc làm công việc phục vụ sắc tình.

Thiên Tướng cư tý ngọ, Liêm Trinh đồng cung (Xem phần sao Liêm Trinh)

Thiên Tướng cư sửu mùi

Thiên Tướng cư sửu mùi chịu ảnh hưởng của đối cung Tử Vi Phá Quân, Thiên Tướng ở Sửu Mùi nhập miếu có tính xung kích, có thể nỗ lực thăng tiến, nằm gai nếm mật, người sinh năm Ất Mậu Tân Quý có thể được phú quý. Cát tinh thủ chiếu, tài quan song mỹ. Hội Phụ Bật Xương Khúc, có thể đạt đến vị trí công hầu.

Hỏa Linh xung phá, tàn tật. Kình Đà đồng cung, khó tránh tai ách.

Thiên Tướng cư mão dậu

Thiên Tướng cư mão dậu lạc hãm, đối cung là Liêm Trinh Phá Quân, không luận là trung hậu. Là người kĩ tính nhưng sở trường xử lý chuyện tiền bạc, thích hợp kinh doanh. Người sinh năm Ất Tân, tốt đẹp. Người sinh năm Giáp Canh, chủ khó khăn. Hội Tả Hữu Xương Khúc, Kình Đà sát tinh vây thì kĩ nghệ an thân, hội Kình Đà, khó tránh hình phạt. Hỏa Linh xung phá, tàn tật. Nữ mệnh, hội Xương Khúc xung phá, tất là người dâm dục, là tình nhân của kẻ khác, xằng bậy trong tình cảm

Thiên Tướng cư thìn tuất, Tử Vi đồng cung (Xem phần sao Tử Vi)

Thiên Tướng cư tỵ hợi

Thiên Tướng cư tỵ hợi đắc địa, đối cung là Vũ Khúc Phá Quân. Là người trung hậu chính trực, tính tình đơn thuần, dễ bị người khác lừa gạt. Người sinh năm Bính Mậu Nhâm là phúc, hội Tả Hữu Xương Khúc, nắm quyền uy. Cung tài bạch Thiên Phủ được Thái

Dương Thái Âm ở cung kế bên giáp, là cách “Nhật Nguyệt giáp Tài”, hội cát tinh thì không phú tất quý.

Hội Hỏa Linh xung phá, tàn tật. Đà La đồng cung, khó tránh ngục tù.

12. Thiên Lương

Thuộc Thổ, Nam Đẩu đệ nhị tinh, hóa Ấm, sao chủ Thọ.

Thiên Lương tọa mệnh, chủ người có vẻ ngoài ổn trọng khiêm nhường, từng trải, từ bi, gương mặt dài vuông, xương gò má cao, lưng hơi gù, hơi béo. Thanh tú, thông minh chính trực, là người chính trực không tư lợi. Hay lo chuyện thiên hạ, lấy việc giúp đỡ người làm vui, hay giúp đỡ những người kinh tế khó khăn.

Quang minh lỗi lạc, gặp chuyện thì quyết đoán, xử lý việc luôn đứng trên lập trường công bằng, không thiên vị, thận trọng, có phong thái của người lớn tuổi, thường nhận được sự kính trọng của mọi người, thích khoe khoang, thường giúp người khác giải quyết tranh chấp, nhưng cũng gặp hiểu lầm, làm ơn mắc oán.

Người có sao Thiên Lương nhập mệnh thì tâm tính nhân nghĩa từ bi, có sự nghiên cứu và hứng thú với y học thuốc thang, đặc biệt có duyên bẩm sinh với trung y, đông dược, thuật số tôn giáo. Tính tình thanh cao, coi thường chuyện tiền bạc, đối với chuyện tiền bạc không quá tính toán chuyện được mất. Có tài cán, lòng dạ rộng rãi, có điều tính háo thắng, có dục vọng về quyền lực và dục vọng lãnh đạo, đa phần thường có vài phần ngạo mạn, vẻ mặt người ở trên cao, phẩm hạnh của người già. Tư tưởng chính thống, kiên trì với nguyên tắc, không chịu dễ dàng chấp nhận sai sót khuyết điểm của bản thân.

Nữ mệnh Thiên Lương, dung mạo đoan trang, mắt dài mũi thẳng, ôn hòa chính trực, sống trọng tình nghĩa, trong nhu có cương, nhiệt tình, thích giúp đỡ người khác. Nhập miếu hội cát tinh, nhiều tài nghệ, phú quý song toàn. Hội Xương Khúc, có tài hoa văn nghệ. Hội Tả Hữu, chính trực khoan dung trung hậu, giúp người làm vui, cùng chồng dạy dỗ con cái. Hội Kình Đà Hỏa Linh, cô khắc, rước thị phi, không thuần khiết.

  1. Thiên Lương là Ấm tinh, đặc điểm là thích giúp đỡ, che chở người khác. Có chức năng chế hóa giải tai ách, chính vì vậy, cuộc đời người này cũng lắm nguy nan, có thể biểu hiện tác dụng chế hóa giải ách của Thiên Lương. Mệnh cung hoặc cung đối có Thiên Lương, chủ sống thọ, là sao cực tốt.
  2. Thiên Lương thủ chiếu, cát tinh hội, cuộc sống phúc thọ.
  3. Thiên Lương hội cát tinh tọa di cung, là thương gia tài ba.
  1. Thiên Lương miếu vượng, đồng cung với Thiên Cơ, học nhiều, quan tâm đến chính trị, giỏi văn võ, thích bàn chuyện binh tướng, có tài năng huyền học.
  1. Thiên Lương, Thiên Đồng ở mệnh thân cung, không sợ hung nguy.
  1. Thiên Lương miếu vượng, Tả Hữu Xương Khúc hội chiếu, số quan tướng.
  1. Lương Đồng Cơ Nguyệt ở Dần Thân, một đời thông minh công việc thuận lợi (nhiều hung tinh không luận như trên)
  1. Thái Dương, Thiên Lương, Văn Xương, Lộc Tồn hội chiếu, danh tiếng bậc nhất lưu truyền.
  2. Lương Dậu, Nguyệt Tỵ, là khách phiêu bồng.
  3. Thiên Lương Văn Xương cư miếu vượng, vị trí quan trọng, tất là trưởng quan cấp cao, hoặc nổi danh trong giới giáo dục, đồng thời có tài viết lách, có hứng thú với những thứ cổ điển.
  1. Thiên Lương Thiên Đồng cư tỵ hợi, nam phóng đãng, nữ đa dâm.
  1. Thiên Lương Thiên Mã hãm, chắc chắn phóng đãng phiêu du (An Mệnh Tỵ Hợi Thân cung, Thiên Lương hãm, Thiên Mã đồng cung cũng vậy)
  1. Thiên Lương hãm địa, hội Kình Đà, là kẻ làm bại hoại thuần phong mỹ tục.
  1. Thiên Lương hãm địa, hội Hỏa Dương phá cách, hạ tiện nghèo khó chết yểu.
  1. Nữ mệnh Thiên Lương hãm địa, dâm mà nghèo.
  1. Thiên Lương là sao thanh cao, cũng không chủ phú, cái phú này đa phần đến từ “quý”, có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đồng cung, tuy có thể đạt được nhiều lợi nhuận, nhưng thường khốn đốn, hào nhoáng mà không thực. Nên sách có viết: “Lộc ngộ Lương Ấm, bão tưtài ích dữ tha nhân”, đa phần dùng tiền vật giúp đỡ người khác, rất thích hợp làm công việctừ thiện.
  1. Thiên Lương hóa Quyền, có quyền bính thao túng, chủ làm nhiệm vụ nắm hình pháp, có đại quyền sinh sát.
  1. Thiên Lương hóa Khoa, cực cát, học tập ưu tú, thi cử thuận lợi lớn, nổi danh, có số quan.
  2. Thiên Lương nhập mệnh, đa phần làm công chức, là người làm nhà nước, quan chức nhân viên chính phủ, bác sĩ, dược sĩ, giáo viên, quản lý, cố vấn, quan tư pháp, nhà văn hóa, nhà báo, nhà từ thiện, viên cảnh…

Thiên Lương cư tý ngọ

Thiên Lương nhập mệnh, đối cung là Thái Dương. Người không cao, hơi béo. Người mệnh này có thể sống lâu, nếu cùng Thiên Đồng thủ thân thì cả đời không sợ hung nguy. Thiên Lương kinh doanh không quá thuận lợi, thích hợp làm chính trị, làm nhà nước rất có phát triển, nhưng đa phần lời nói thẳng không kiêng dè, khiến người khác hiểu nhầm, hoặc bị kẻ tiểu nhân hãm hại. Đồng cung Văn Xương Văn Khúc, có số làm quan, địa vị không nhỏ. Hội chiếu với Văn Xương, Lộc Tồn, thông minh hơn người, học rộng nhớ lâu, thành tích học tập tốt, thi cử đỗ đầu, có thể một bước mà thành danh.

Người sinh năm Đinh Kỷ Quý hợp cách, nhiều cát tinh củng chiếu thì cuộc sống phúc thọ song toàn. Người sinh năm Đinh, Lộc Tồn cư Ngọ, cung tài bạch có Thái Âm hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Khoa, cung quan lộc Thiên Đồng hóa Quyền, là cách “Song lộc triều viên”, “Khoa quyền lộc tam kì”, là quý cách, chủ đại phú đại quý, danh tiếng nổi khắp thiên hạ. Người sinh năm Kỷ, Lộc Tồn cư cung Ngọ, Mệnh cung Thiên Lương Hóa Khoa, danh tiếng vang xa, là quan thanh bạch chính trực. Người sinh năm Quý Lộc Tồn ở cung Tý, cung tài bạch Thái Âm Hóa Khoa, phú quý phi thường. Ba kiểu người trên nếu như được Phụ Bật Xương Khúc hội chiếu, là số quan tướng, chúa tể một phương. Người sinh năm Ất, Thiên Lương Hóa Quyền, Thiên Cơ Hóa Khoa, Khôi Việt hội chiếu, hội Tả Hữu Xương Khúc, cũng là số đại quý. Thiên Lương cư Ngọ hội cát tinh, là cách “Thọ tinh nhập miếu”, sự nghiệp tiền bạc vinh hiển.

Thiên Lương cư sửu mùi

Thiên Lương vượng, đối cung là Thiên Cơ. Thân mệnh cung như vậy có thể sống thọ. Là người từ bi đại lượng bác ái, ổn trọng, làm việc cẩn thận, nhiệt tình với sự nghiệp công ích, làm chính trị, nhà nước thì tốt, không hợp kinh doanh, làm ông chủ.

Tả phụ Xương Khúc hội chiếu, là số quan tướng. Xương Khúc đồng cung, xuất thế vinh hoa, là nhân vật quan trọng. Được Phụ Bật Xương Khúc ở cung kế bên giáp cũng là quý cách. Văn Xương, Lộc Tồn hội chiếu, sự nghiệp cực đẹp, thi cử đỗ đầu.

Người sinh năm Mậu, tọa quý hướng quý, Thái Âm Hóa Quyền, là số đại quý.

Người sinh năm Ất, mệnh cung Thiên Lương Hóa Quyền, đối cung Thiên Cơ Hóa Lộc, người sinh năm Nhâm, Thiên Lương Hóa Lộc, hội Lộc Tồn ở cung Hợi, Mão, chủ người phú quý song toàn, cát tinh hội chiếu thì cuộc sống phúc thọ.

Kình Đà Hỏa Linh đồng cung, gian trá, vẻ ngoài quân tử bên trong tiểu nhân, có hành vi lừa bịp, ít thì lừa tiền lừa tài sản, nhiều thì chiếm giữ quyền lực chính phủ.

Thiên Lương cư Sửu, Nhật Tỵ Nguyệt Dậu đều sáng, không hội sát tinh, người sinh năm Ất Bính Mậu Tân phú quý song toàn.

Thiên Lương cư Dần, Thiên Đồng đồng cung (Xem phần sao Thiên Đồng)

Thiên Lương cư Mão, Thái Dương đồng cung (Xem phần sao Thái Dương)

Thiên Lương cư Thìn, Thiên Cơ đồng cung (Xem phần sao Thiên Cơ)

Thiên Lương cư tỵ hợi

Hãm địa độc thủ, đối cung là Thiên Đồng. Người đời đánh giá không cao, không hội cát tinh, thành tựu không lớn, đa phần là số bần tiện. Người sinh năm Ất Bính Mậu Nhâm, nhiều cát tinh hội chiếu cũng có phú quý, sự nghiệp này tất phấn đấu trong gian khổ khó khăn, ban đầu có sự phát triển khá lớn, một đời vất vả dị thường. Là người quá nhiệt tình, chuyện gì cũng suy nghĩ quá nông cạn, là người tính tình thanh cao, bản thân không có học vấn nhưng có lúc lại có tinh thần coi thường tiền bạc như cỏ rác. Khảng khái, thiếu quan niệm tiền bạc, không giỏi quản lý tiền. Tính tình khác lạ, hiếu thắng, thích khoe khoang. Tưởng ai cũng mê mình, làm dâu trăm họ, có lúc bỏ công sức mà chả được gì, một đời thường bị hiểu nhầm.

Thiên Lương Thiên Mã hãm, phiêu đãng vô nghi”, Nam mệnh nếu có cát tinh thì chủ rời xa quê hương có sự phát triển, nếu không có cát tinh thì du đãng, có khuynh hướng không

làm việc chính đáng, thường xuyên chuyển nghề, thậm chí lưu lạc tha hương. Hội đào hoa tinh thì chơi đùa trác táng, háo sắc đa dâm.

Nữ mệnh gặp các sao như trên thì đa dâm, tình cảm không chuyên nhất, có thể tránh cảnh tư tình với người, không hội cát tinh tất là số nghèo. Nữ mệnh nên làm vợ hai, vợ kế, lấy người đã từng kết hôn hoặc cưới người từng ly hôn. Nếu hội Kình Đà hoặc đồng cung thì là kẻ làm bại hoại thuần phong mỹ tục, hoặc nghiện.

Hội Kình Đà và các sát diệu vây, đa phần hạ tiện, làm các công việc địa vị không cao. Hội hay đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh thì hạ tiện, cô quả, chết yểu, một đời hay tai họa vất vả, thậm chí vi phạm pháp luật kỷ cương, bạo bệnh mà chết. Đà La đồng cung, tất có tai họa tù nguc. Thiên Mã đồng cung, chắc chắn du đãng, cả đời bôn ba, hội sát tinh, chết ở đất khách. Không Kiếp đồng cung, hoặc hội chiếu hoặc giáp mệnh, nghèo không tích lũy được gì, một đời không may mắn, cơ hội gõ cửa đều bị bỏ lỡ.

13. Thất Sát

Thuộc Hỏa, Kim, Nam Đẩu đệ lục tinh, là Tướng tinh, hóa Đế vi Quyền

Người có Thất Sát nhập mệnh, mắt to, xương mày nổi bật, mắt có vẻ uy nghiêm, khuôn mặt vuông dài hoặc gầy dài, có nếp nhăn, trên mặt có nhiều vết đốm hoặc rỗ. Thân thể có thương tích, nhập miếu béo, lạc hãm thì gầy nhỏ, vẻ ngoài tháo vát pha lẫn sức khỏe. Hành vi phóng khoáng ngang tàng, không câu nệ tiểu tiết, tốc độ đi nhanh. Cá tính vô cùng hiếu thắng, quật cường cứng rắn, có sự tự chủ độc lập, có khí khái bất khuất, tính tình dữ dội, dễ nổi cáu, hỉ nộ ái ố thể hiện trên khuôn mặt. Không thích bị người khác can thiệp ràng buộc, sự độc lập lớn, dũng cảm, có dũng khí và sự thực hành, đối mặt với khó khăn sẽ dũng cảm tiến về phía trước, tuyệt đối không sợ hãi.

Là người thích đầu cơ mạo hiểm, không sợ không làm được, chỉ sợ không nghĩ ra, trong cuộc sống là kiểu người khai sáng tiến công.

Có mưu lược, có năng lực lãnh đạo thống lĩnh tốt, chỉ có điều tính tình quá gấp gáp, thường bực tức, dễ coi cấp trên là vô dụng, nên có tâm lý phạm thượng, đối với cấp dưới, bạn bè thì tương đối khoan dung.

Thành bại một đời thường đến rất đột ngột, bất luận nam hay nữ, đều phải trải qua khó khăn mới có thành tựu.

Nữ mệnh Thất Sát, tính tình hướng ngoại, hoạt bát hào phóng, có khí chất, tính cương, làm việc già dặn, có tinh thần trượng nghĩa, thích giúp người, thuộc loại hình của công việc, không có hứng thú gì với chuyện làm vợ hiền mẹ tốt, sau khi kết hôn tất đoạt quyền chồng, chồng phải nghe lời vợ.

  1. Thất Sát, Tham Lang, Phá Quân ba sao này luôn luôn hội chiếu lẫn nhau, chủ khai sáng cải cách, phá bỏ cái cũ xây dựng cái mới và có tính xung kích cao.
  1. Thất Sát là Tướng tinh, hội cát tinh (Phụ Bật, Xương Khúc, Khôi Việt, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa…) là nhân vật quan trọng trong quân đội chính trị, lãnh đạo giới thương nhân, phú quý nổi danh, hội ác sát thì hình thương, bạo bại, tàn tật, ngục tù, đoản mệnh, nghèo khó.
  2. Thất Sát Dần Thân Tý Ngọ, một đời tước lộc vinh xương. Thất Sát cư Dần, Tý là cách “Thất Sát ngưỡng đẩu”, cư Ngọ, Thân là cách “Thất Sát triều đẩu”, là bậc anh hùng hào kiệt, công danh phú quý, hội sát tinh thì không phải.
  3. Thất Sát thủ mệnh, Thân cung là đoản Mệnh, dù miếu hãm có hay không có cát tinh đều vây. Thất Sát lâm Mệnh Thân cung đa phần là người khó sống thọ, hối át tinh càng đúng. Vì vậy người có Thất Sát tọa mệnh chỉ có hành thiện tích đức, không làm việc ác, mới có thẻ tránh được số đoản Mệnh.
  1. Thất Sát thủ mệnh, miếu vượng, được Tả Hữu Xương Khúc củng chiếu, nắm quyền sinh sát, phú quý xuất chúng, nếu có hung tinh hội chiếu thì vẫn được phú quý, nhưng nhiều trắc trở, thường gặp hung hiểm, hoặc không có kết cục tốt.
  1. Thất Sát nhập mệnh Thân cung, bất luận có cát tinh hay không, đều phải trải qua gian khổ. Không hội cát tinh cát hóa mà hội sát tinh thì tất chết yểu.
  1. Thất Sát cư nhàn hãm cung (Mão Dậu), kĩ nghệ an thân, hội Lộc Tồn chủ phú quý, lại hội Xương Khúc thì chủ lênh đênh.
  1. Thất Sát đồng cung với Liêm Trinh hội sát tinh, chủ tàn phế, cũng chủ bệnh lao, chết yểu.
  1. Thất Sát Liêm Trinh đồng cung, “Lộ thượng mai thi”. Cách này là cách “Sát củng Liêm Trinh”, cư Thân Mệnh cung hội sát tinh thì chủ lang bạt, chết ở đất khách. Nếu không luận là phạm tội, khó tránh ngục tù, cung Di cũng vậy, lấy người phối ngẫu phương xa.
  1. Thất Sát nhập mệnh, là người phá tướng và có tai họa máu chảy, chỉ là mức độ nặng nhẹ không giống nhau. “Thất Sát trùng phùng Tứ sát, yêu đà bối khúc, trận trung vong, cư tậtách cung diệc sát”. Đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh, là hỏa cực lớn, một đời nhiều tai nạnkhó khăn, có bệnh, tàn tật thì có thể sống lâu thêm, không tất chết yểu. Thất Sát đồng cung với ác sát, tâm tính hiểm độc, nếu không cũng chủ thô bạo, hỉ nộ vô thường, thường có khuynh hướng bạo lực phạm tội.
  1. Thất Sát thủ mệnh, tam phương tứ chính có Kình Dương (hoặc Đà La), Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh), Bạch Hổ, Thiên Hình, tất là đầu mắt của xã hội đen. Người có Thất Sát ở Mệnh hội sát thì hai con đường đen trăng đều có phần.
  1. Thất Sát, Phá Quân phân nhau thủ mệnh Thân cung, thường thủ công tinh thông, là số lao lực, bôn ba ở ngoài.
  1. Thất Sát cư tuyệt địa, hội Kình Đà, chủ bần tiện, hoặc chết yểu, dù có tài hoa cũng sẽ tàn.
  1. Thất Sát hội Kình Đà ở đất Sinh (Dần Thân Tỵ Hợi), là người giết mổ.
  1. Thất Sát lạc không vong, mất hết uy lực. Người đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp, Tuần không, Triệt không thì lục thân duyên bạc, cô độc không trợ giúp, đa phần là người không màng danh lợi hoặc theo con đường tăng đạo.
  1. Thất Sát chủ hoạnh thành hoạnh phá, một đời thay đổi đa đoan, thăng trầm bất định. Nhập mệnh cung, thường là tay trắng dựng nghiệp. Hoặc từ không một xu dính túi lại tiền dắt đầy người, hoặc trong lúc công thành danh toại lại một chiều phá bại, tiền bạc tán hết.
  1. Sao Thất Sát nhập mệnh, kinh doanh hay làm nhà nước đều được, nếu kinh doanh thì chỉ buôn bán là được, nếu đầu cơ tất có nguy hiểm khuynh gia bại sản. Đa phần làm các công việc có tính sáng tạo mạo hiểm như kiến trúc, trùng tu, sinh sản, cơ khí, xe cộ, vận tải, bác sỹ, võ thuật, vận động viện, cảnh sát, quân đội, chứng khoán, tài chính, xuất khẩu, chủ công ty,…. Hội cát tinh thì phú quý, không hội cát tinh thì là nhân viên bình thường.
  1. Nữ mệnh Thất Sát, có khí khái nam nhi, thích lấy kinh doanh làm niềm vui, một đời thường vất vả, phúc không đẹp hoàn toàn. Hội nhiều cát tinh (Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, Lộc Tồn, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa) củng chiếu thì là nữ trung hào kiệt, thành

tựu phi phàm, không hội cát tinh mà hội sát tinh thì hôn nhân không tốt, hình khắc, cô đơn, một đời nhiều hung họa.

  1. Thất Sát đồng cung hội chiếu với Văn Xương Văn Khúc, đại cát, chủ người thông minh quả quyết, thường là nhân vật lãnh đạo.
  1. Thất Sát đồng cung hội chiếu với Tả Hữu, đại cát, lỗi lạc, có khí khái anh hùng, năng lực thống trị mạnh, nhận sự giúp đỡ của nhiều người, dễ thành đại nghiệp.
  1. Thất Sát đồng cung với Lộc Tồn, đại cát, vốn có duyên với tiền bạc, kinh doanh có thể thành cự phú.

Thất Sát cư tý ngọ

Thất Sát vượng, đối cung là Vũ Khúc Thiên Phủ, chủ người kiên cường, cương nghị, có mưu lược, có tính độc lập và tự chủ, có năng lực lãnh đạo mạnh, một đời thường được quý nhân nâng đỡ, dù hội cát tinh nhưng vẫn phải trải qua gian khổ. Cách “Thất Sát triều (ngưỡng) đẩu”, cát tinh hội chiếu, một đời tước lộc vinh xương. Hội Tứ sát hay các ác sát tinh không phải cách trên. Không hội Tứ sát, là người tích góp mà giàu có. Phụ Bật Xương Khúc củng chiếu, nắm quyền sinh sát, phú quý xuất chúng.

Tứ sát xung phá, nếu không tàn tật chết yểu, cũng chủ gặp hung họa ngoài dự kiến mà tử vong, chiến trận đa hung, có nguy hiểm tử trận.

Thất Sát cư Ngọ thủ mệnh, Liêm Trinh thủ Thân, hoặc Liêm Trinh Thất Sát đồng cung cư Mùi, là cách “Hùng túc triều viên”, chủ người phong thái khoáng đạt, lòng dạ đơn giản, hội cát tinh thì đều bước nhẹ lên mây xanh, danh tiếng vang xa.

Người sinh năm Giáp Đinh Kỷ, tài quan song mỹ. Người sinh năm Giáp, cung quan lộc

Phá Quân Hóa Quyền, đối cung Vũ Khúc Hóa Khoa; người sinh năm Đinh, cung Ngọ có

Lộc Tồn; người sinh năm Kỷ, cung ngọ Lộc Tồn và Vũ Khúc Hóa Lộc, đều phù trợ cho

Thất Sát xây dựng thành đại sự đại nghiệp.

Người sinh năm Bính Mậu, trung bình, do hội Kình Đà. Chủ người dũng cảm, thô bạo, thích mạo hiểm, tự cho mình đúng, thích mềm không thích cứng, vì cầu tiền tài mà bại trận, buất khuất. Đa phần là người vung tiền như rác, hoạnh phát hoạnh phá. Thất Sát cư Ngọ, người sinh năm Bính Mậu Kình Dương đồng cung, tam hợp hội cát tinh, là tướng lĩnh trấn thủ biên cương, hoặc làm người bạo phát về đầu tư kinh doanh, chủ người thành

danh trong một sớm một chiều chiều, bạo phát bạo bại, kết cục đa phần không tốt đẹp, tuy phú quý nhưng cũng chết yểu. Hoặc là liệt sĩ hi sinh vì nghĩa. Lại hội hung sát thì coi thường pháp luật, đâm đầu vào chỗ hiểm nguy, tất chết dưới đao kiếm.

Thất Sát cư sửu mùi, Liêm Trinh đồng cung (Xem phần sao Liêm Trinh)

Thất Sát cư dần thân

Thất Sát nhập miếu, đối cung là Tử Vi Thiên Phủ, ở Dần là cách “Thất Sát ngưỡng đẩu”, ở Thân là cách “Thất Sát triều đẩu”, nhiều cát tinh thì hợp cách, hội sát tinh thì không hợp. Ở cách này Thất Sát ở vị trí thuận lợi nhất, nhập miếu được Tử Phủ hội chiếu, tuyệt đối không phải người tầm giữa giữa, mà chủ người tước lộc vinh xương, không phú tất quý. Bẩm sinh có năng lực quản lý cực tốt, có mưu lược. Hội cát tinh, cũng phải trải qua gian khổ. Hội nhiều cát tinh, Tả Hữu Xương Khúc củng chiếu, tất là đại tướng, thiện chiến, uy chấn thiên hạ, hoặc là trụ cột quốc gia, lưu danh muôn đời, thứ đến cũng có thể là nhân vật quan trọng trong giới chính trị, chủ quản hành chính, phú ông, hoặc có quyền lớn trong quân đội, cục cảnh sát…

Người sinh năm Giáp Đinh Kỷ, tài quan đều tốt, là người phú quý. Người sinh năm Bính Mậu trung bình. Người sinh năm Canh Nhâm và người sinh năm Ngọ Tuất, không tốt, phú quý không bền. Đà la đồng cung, tàn tật. Hội Tứ sát, chết trận, chết thảm. Không Kiếp xung chiếu, chủ sớm tàn.

Thất Sát cư mão dậu, Vũ Khúc đồng cung (Xem phần sao Vũ Khúc)

Thất Sát cư thìn tuất

Thất Sát miếu, đối cung là Liêm Trinh Thiên Phủ. Chủ người dục vọng không đáy, tâm trí mạnh mẽ sâu xa, giàu tưởng tượng, tính trầm ngâm, tính thống trị cao, có phong thái đại tướng. Thất Sát nhập đất thiên la, dù có cát tinh củng chiếu, cũng phải chịu khó khăn gian khổ, trong khó khăn mà thành đại nghiệp. Hội cát tinh, tài quan song mỹ. Có mưu lược. Tả Hữu Xương Khúc củng chiếu, nắm quyền si nh sát, tất là tướng soái. Lập mệnh cư Tuất, người sinh năm Giáp đối cung là Liêm Trinh Hóa Lộc, cung quan lộc Lộc Tồn và Phá Quân Hóa Quyền, hội Tả Hữu Xương Khúc, binh quyền ngàn dặm, càn quét thiên hạ. Lập mệnh ở Thìn, người sinh năm Quý song lộc triều viên, Khôi Việt giáp mệnh, đại phú quý.

Sao này ở Mệnh, không có cát tinh cát hóa, khó tránh chết yểu, đa phần chủ hung vong. Xương Khúc đồng hội, chính chiếu đối cung Liêm Trinh, dù phú quý cũng phải đề phòng chết yểu, nếu hành thiện có thể tránh được.

Thất Sát cư tỵ hợi, Tử Vi đồng cung (Xem phần sao Tử Vi)

14. Phá Quân

Thuộc Thủy, Bắc Đẩu đệ thất tinh, hóa Hao, chủ phu thê, tử tức, nô bộc.

Phá Quân nhập mệnh, lưng dày, mày khoan, eo nghiêng, tiếng nói sắc bén, động tác nhanh, không coi trọng lễ nghĩa, thích ăn vặt, thái độ thiếu ổn trọng. Nhập miếu thân hình ngũ đoản, hơi béo, hãm địa cao gầy, phá tướng hay mặt có lốm đốm.

Cá tính đặc biệt, kiêu ngạo, không khuất phục hay chịu sự quản thúc của ai, hỉ nộ vô thường, thích ham muốn hưởng thụ vật chất, thích săn bắt thú, tính tình cương cường, thích tranh đấu, quan hệ xã giao không tốt, đặc biệt thích góp vui.

Phá Quân chủ người hành động độc đoán, tự cho mình đúng. Cư miếu vượng, bản tính nghiêm khắc có tài thao túng, là người cương cường có chủ kiến. Nhập hãm địa thì tính tình dữ dội dễ dẫn đến cực đoan. Yêu ghét phân minh, là người thiên tính cố chấp, ý thức chủ quan mạnh, là điển hình cho chủ nghĩa cá nhân, đa phần thuộc kiểu người tự tư tự lợi, lòng dạ hẹp hòi, gian trá xảo quyệt. Sự hiếu kì lớn, làm việc gì cũng dựa vào hứng thú nhất thời, khó có sự bền chí đến cùng, thiếu kiên nhẫn, thường bỏ dở giữa chừng. Lời nói và việc làm tùy hứng bất chấp mọi thứ, cử chỉ khoa trương, cuồng ngạo đa nghi, tính khí cứng rắn, tự ý tổn thương người khác, có tính phá hoại, thích dùng vũ lực giải quyết vấn đề, coi cái xấu là tốt, việc giúp người là xấu, lấy ân báo oán, đối nhân xử thế thường mang ý thù địch, với người thân thì vô nhân nghĩa, khó có thể hòa nhập chung sống, thậm chí lục thân như nước với lửa, thường trở mặt với bạn bè, một đời dễ kết oán với người khác. Không chịu cảnh nhàn rỗi, có tinh thần khai sáng và tâm lý hên xui mạnh mẽ, thích đầu cơ mạo hiểm, mơ ước chỉ qua một đêm trở nên giàu có.

Nữ mệnh Phá Quân, một đời vất vả, tuy lầm lì nhưng hiếu động, lòng tự tôn lớn, khó có thể vui vẻ dài lâu, thích ăn vặt, có khuynh hướng thần kinh, dễ làm ngược lại, tính tình chanh chua.

  1. Thất Sát, Tham Lang, Phá Quân luôn hội chiếu lẫn nhau, chủ cải cách khai sáng, phá vỡ cái cũ xây dựng cái mới và sự xung kích mạnh mẽ, Phá Quân là đại tướng đấu tranh anh dũng, nhập miếu hội cát tinh (Tả Hữu, Khôi Việt, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa), chủ đại phú đại quý, tất là bậc hiền lương quốc gia, phú ông thương gia, hoặc thống lĩnh trăm vạn binh lính, danh tiếng hào nhoáng.
  2. Phá Quân nhất diệu tính nan minh”, nam nữ đều luận giống nhau, tính tình dễ thích dễ thay đổi, chợt thiện chợt ác, đa nghi, yêu ghét khó định, một đời hay thay đổi, thích hợp phát triển bên ngoài.
  3. Phá Quân, Tham Lang hội Lộc Mã, nam đa lãng đãng, nữ đa dâm”. Phá Quân và Tham Lang phân thủ mệnh Thân, có Thiên Mã, Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đồng cung hội chiếu, miếu vượng hội cát tinh, phú quý, hãm địa hội hung tinh thì bần tiện, bất luận quý hiển hay bần tiện, đều là người phóng đãng.
  1. Phá Quân đồng cung với Kình Đà, chủ có tàn tật hoặc có họa ngục tù.
  1. Phá Quân và Hỏa Linh đồng cung, bôn ba vất vả, tranh đấu kiện tụng.
  1. Phá Quân tọa mệnh, tam phương tứ chính hội Kình Dương (hoặc Đà La), Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh), Bạch Hổ, Thiên Hình, tất là nhân vật xã hội đen. Phá Quân tọa mệnh tam phương tứ chính hội sát tinh, hai con đường trắng đen đều có chỗ.
  1. Phá Quân cư Mệnh Thân cung, hãm địa, chủ người rời xa tổ tông.
  1. Phá Quân hỉ đồng cung với Tử Vi, cái hung của nó được Tử Vi chế hóa, tức có quyền uy, hoặc có tiền ngoài dự kiến, hoặc may mắn ngoài ý, nhưng chủ người nhiều ham muốn.
  1. Phá Quân hỉ Hóa Lộc hoặc đồng cung hội chiếu với Lộc Tồn, có thể chế giải cái cuồng ngạo của Phá Quân, tăng sự thuận lợi, tài vận hanh thông.
  1. Phá Quân không thích đồng cung hay hội chiếu với Văn Xương Văn Khúc, vì Văn võ không chung đường, không cùng chí hướng, đồng hội với Xương Khúc, chủ một đời bần sĩ, hoặc có thủy ách, hội ác tinh tất chết đuối. Phá Quân cư Tý Hợi Sửu lập mệnh cư ba cung trên, đồng cung với Văn Xương, chủ người tàn tật ly lương. Nếu Phá Quân Hóa Lộc hay đồng cung với Lộc Tồn thì có thể gặp Xương Khúc.
  2. Phá Quân hóa Khí là hao, có đặc tính “phá hoại”, chủ hoạnh phát hoạnh phá, hội ác sát, một đời đại phá bại nhiều lần về tiền bạc, không hội ác sát, mức độ khá nhẹ.
  3. Phá Quân tọa mệnh, Kình Đà cư cung quan lộc, chủ người xin xỏ khắp nơi, hoặc Phá Quân và Kình Đà cư cung quan lộc cũng vậy. Người này tất phá bại lớn, đến mức khuynh gia bại sản, hoặc để tiếng nhơ trong đời, thậm chí luận là ăn xin, khó có ngày vực dậy.
  1. Sát, Phá, Lang đều chủ khai sáng, mà năng lực khai sáng của Phá Quân đặc biệt mạnh, nhập mệnh cung một đời hay biến động. Phá Quân có tính phá hoại cực lớn, đầy tính sát thương, trước phá hoại sau xây dựng, cái cũ không đi cái mới không đến được.
  1. Phá Quân đặc biệt thích Hóa Lộc Hóa Quyền, đều chủ năng lực thống trị rất mạnh. Hóa Lộc tất nhiên chủ phát tài, có thể thành đại nghiệp. Hóa Quyền, thích hợp võ chức phát quý, cương nghị anh dũng, nữ mệnh ngược lại có số gây hại cho chồng.
  2. Nữ mệnh không hỉ Phá Quân tọa mệnh, cay nghiệt, Tham Lang, tàn nhẫn, thường chủ bỏ nhà theo trai, tự cưới không cần mai mối, ở nhà thường độc đoán chuyên quyền,áp đảo chồng. Nếu Phá Quân tọa mệnh bị ác sát xung phá, thì nhiều ham muốn, đào hoa tính nặng, tạo ra hậu hoạ.
  3. 16. Không ít người nữ Phá Quân ở mệnh không hội cát tinh mà hội nhiều sát tinh, là cách bần tiện, nhưng khi trẻ có một thời rực rỡ, bôi hoa trát phấn, dùng điện thoại xịn, ngồi xế hộp, gây sự chú ý, tiền mặt nhiều đến nỗi dùng không hết, bộ dạng giống như người ở trên cao. Vậy lí do là gì? Chỉ một câu rất đơn giản: “Nữ nhân biến hoại tựu hữu tiền” (người nữ biến chất sẽ có tiền). Người mệnh này thực ra sống rất đau khổ, trung vãn niên kết cục đều không đẹp, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn.

Phá Quân cư tý ngọ

Phá Quân nhập miếu, đối cung là Liêm Trinh Thiên Tướng. Là người siêng năng, giàu nhân tính, coi trọng sự nghiệp, bẩm sinh giàu năng lực thống trị, có khí khái của anh hùng trong thiên hạ, hội Tả Hữu, được nhiều người ủng hộ, dễ lập nghiệp thành công.

Tý Ngọ Phá Quân, gia quan tiến tước”, người sinh năm Giáp Đinh Kỷ Quý, phúc hậu, theo chính trị tất là quan lớn, theo kinh doanh thương mại thì là tổng giám đốc công ty lớn, nhân vật cấp cao.

Không có sát tinh củng chiếu, người sinh năm Giáp Quý quan tư thanh hiển, đây là cách “Anh tinh nhập miếu”. Người sinh năm giáp Phá Quân hóa Quyền, đối cung Liêm Trinh hóa Lộc, người sinh năm Quý Phá Quân hóa Quyền, cung Tý có Lộc Tồn,hai kiểu người trên đều chủ đại phú đại qusy, địa vị nhất phẩm, nắm địa vị võ chức cao vợi.

Người sinh năm Đinh Kỷ, cung Ngọ có Lộc Tồn, phú nhiều hơn quý, kinh doanh có thể trở thành phú ông. Người sinh năm Bính Mậu hội Kình Đà, chủ khó khăn. Người sinh năm Dần Thân, cô đơn tàn tật, tuy phú quý cũng không bền.

Hội nhiều sát tinh, chết yểu, hình thương, tàn tật, tù ngục. Nữ mệnh, chủ vượng phu ích tử, nhưng phải nhiều cát tinh mới được tính, người sinh năm Giáp Đinh Kỷ Quý phú quý phúc dày.

Phá Quân cư sửu mùi, Tử Vi đồng cung (Xem phần sao Tử Vi)

Phá Quân cư dần thân

Phá Quân đắc địa, đối cung là Thiên Tướng Vũ Khúc. Phá Quân ở hai cung này hình khắc nặng, là người tính tình không rõ ràng, cố chấp ngang bướng, thà chết chứ không thừa nhận lỗi sai của mình. Cương trực, thích hành hiệp trượng nghĩa, vui vẻ giúp người, đa phàn thường rời xa quê hương, ra ngoài phát triển, cũng có một sở trường kĩ nghệ. Hội Tả Hữu cát tinh có thể làm ông chủ.

Người sinh năm Giáp Đinh Kỷ Canh tài quan song mỹ, Xương Khúc đồng cung chủ quý. Người sinh năm Giáp, Lộc Tồn cư Dần cung, Phá Quân hóa Quyền, đối cung Vũ Khúc hóa Khoa, hội Tả Hữu Xương Khúc, đại phú quý. Người sinh năm Canh, Lộc Tồn cư Thân, Vũ Khúc hóa Quyền, là Quyền Lộc trùng phùng, hội Tả Hữu Xương Khúc, phú quý.

Lập mệnh cư Dần, người sinh năm Đinh Kỷ hội Lộc Tồn ở cung Ngọ, chủ phú. Người sinh năm Quý, Phá Quân hóa Lộc, hoạnh phát, kinh đoanh lợi nhuận lớn. Hội Lộc Mã, nam nữ phóng đãng, nữ đa dâm. Hỏa Linh đồng cung, bôn ba vất vả, kiện tụng. Đà La đồng cung, tàn tật, bôn ba, ngục tù. Địa Không Địa Kiếp xung chiếu, chủ người bên ngoài hào nhoáng bên trong hư hao, nhà cửa không tích lũy, nghèo khổ, cả đời không thể phát đạt. Kình Dương nhập cung quan lộc, cầu xin khắp nơi.

Phá Quân cư Thân, Xương Khúc đồng cung, nếu không hội cát tinh, là bần sĩ hoặc người vô văn hóa, hình khắc lao lực, hội Hóa Lộc hay Lộc Tồn thì không luận là nghèo, đại phú quý. Không hội cát tinh cát hóa, dù thấu hiểu kinh sách cũng khó có ngày ngẩng đầu lên.

Nữ mệnh Phá Quân Dần Thân, là phụ nữ của công việc, chủ hình khắc không nhẹ, nên kết hôn muộn, hội sát tinh, e là quả phụ.

Phá Quân cư mão dậu, Liêm Trinh đồng cung (Xem phần sao Liêm Trinh)

Phá Quân cư thìn tuất

Phá Quân vượng, đối cung là Tử Vi Thiên Tướng. Thìn cung Thân hình thon gầy, Tuất cung Thân hình đầy đặn. Chủ người tính tình khó hiểu, nghị lực hơn người, bảo thủ cố chấp, có tài nghệ, dũng cảm hơn người, rất trọng nghĩa khí.

Thìn Tuất là thiên la địa võng, cuộc sống hay có những điều không may ngoài ý muốn, hoặc có bệnh tật kéo dài. Không theo gia nghiệp tổ tiên, tự tay lập nghiệp, nhưng không hợp với vợ con. Đối cung Tử Vi Thiên Tướng, là thần bất trung, là con bất hiếu, hội cát tinh chủ phú nhưng không quý, có hư danh. Thái Dương Thái Âm tọa cung điền trạch, mệnh và điền trạch có cát tinh cát hóa, là cách “Nhật Nguyệt chiếu bích”, chủ đại phú, đặc biệt nhiều bất động sản. Nữ mệnh hội sát tinh, khắc phu tái giá, e là vợ bé.

Người sinh năm Giáp Quý là có phúc, người sinh năm Giáp Phá Quân hóa Quyền, người sinh năm Quý Phá Quân hóa Lộc, nếu được Tả Hữu phù trợ, chủ đại phú, nhưng cuộc sống cũng nhiều phong ba. Người sinh năm Bính thích hợp theo thương nghiệp, tuy rằng có thành tựu nhưng khó tránh hôn nhân bị đổ vỡ, cũng có những khuyết hãm khác. Tùy đắc Xương Khúc, cũng không tốt hoàn toàn, chủ hình khắc lao lực.

Kình Đà đồng cung, coi thường pháp luạt, đa phần là những kẻ to gan làm loạn hay dân liều mạng, hoặc vì phạm tội mà vào tù, hoặc có tai họa tàn tạt, huyết quang, cơ thể không toàn vẹn, vết thương chồng chất, một đời hay gặp chuyện nguy hiểm, hoặc vào sinh ra tử. Tam phương hội hợp Kình Đà, lục thân duyên bạc. Hỏa Linh đồng cung, bôn ba vất vả, chủ người âm mưu hiểm độc, độc đoán ích kỷ, có tính phá hoại lớn, một đời hay gặp chuyện kiện tụng tranh chấp.

(Chép lại từ cuốn Tử vi đại toàn do An Khoa biên soạn)

Trusted by some of the biggest brands

spaces-logo-white
next-logo-white
hemisferio-logo-white
digitalbox-logo-white
cglobal-logo-white
abstract-logo-white
white-logo-glyph

We’re Waiting To Help You

Get in touch with us today and let’s start transforming your business from the ground up.