Tử bình bệnh nguyên sinh tử quyết

(Một) Biểu đặc trưng ngũ hành thập can

Một, Mộc: Gan, mật, đầu, gáy, khớp xương, cơ bắp, mắt, thần kinh, tứ chi, tóc.

+ Giáp: Đầu, mật.

+ Ất: Gan, gáy.

+ Dần: cánh tay, tứ chi, mật, gân, mạch máu, lông tóc, huyệt phong môn.

+ Mão: Gan, ngực, mắt, tay, móng, gân.

Hai, Hỏa: Tiểu tràng, tim, vai, máu huyết, kinh nguyệt, khuôn mặt, răng, lưỡi, bụng, thần kinh, mạch máu, huyết áp.

+ Bính: Vai, tiểu tràng.

+ Đinh: Tim, máu huyết.

+ Tị: mặt, răng, túi màng tim, tam tiêu (cách gọi của Đông Y, Thượng tiêu là lưỡi, thực quản, tim phổi; Trung tiêu là dạ dày; Hạ tiêu là ruột non, ruột già, thận và bàng quang), yết hầu.

+ Ngọ: Tim bụng, tiểu tràng, mắt, lưỡi, thần khí.

Ba, Thổ: Lá lách, bao tử, sườn, bụng, lưng, ngực, phổi, dạ dày, da thịt, khối u.

+ Mậu: dạ dày, sườn (thiên can); lưng, phổi (địa chi)

+ Thìn: Lưng, ngực, gáy, vai, da thịt.

+ Kỷ: Lá lách, bụng.

+ Sửu: Bụng, bao tử, lá lách, bắp thịt.

+ Mùi: Lá lách, ngực, bao tử, bụng, miệng, môi, răng.

+ Tuất: Mệnh môn, ngực, gân, mông, cẳng chân, đầu gối, chân.

Bốn, Kim: Phổi, đại tràng, gan, rốn, đùi, ho thanh, khí quản, mũi, da, trĩ, hệ thống hô hấp, xương cốt, răng.

+ Canh: Ruột, rốn.

+ Tân: Phổi, bắp đùi.

+ Thân: ho thanh, phổi, đại tràng, gân cốt, kinh lạc, âm thanh

+ Dậu: Phổi, mũi, da lông, tiếng.

Năm, Thủy: Thận, Bàng quang, cẳng chân, chân, đầu, xương chậu, đường tiểu tiện, bộ phận sinh dục, lưng, tai, tử cung, túi tinh hoàn, hệ thống sinh dục, máu huyết, mồ hôi.

+ Nhâm: Bàng quang, cẳng chân.

+ Quý: Thận, chân, tinh dịch.

+ Tý: Bộ phận sinh dục, tai, eo lưng, tinh dịch, nước tiểu.

+ Hợi: Thận, đầu, bao tinh hoàn, tủy, tinh dịch.

Sáu, Cổ quyết:

Giáp mật Ất gan Bính tiểu tràng,

Đinh tim Mậu vị Kỷ lá lách.

Canh là đại tràng Tân thuộc phổi,

Nhâm hệ bàng quang Quý thận tàng.

Tam tiêu cũng hướng gửi trong Nhâm,

Bao lạc đồng quy nhập Quý phương.

Giáp đầu Ất gáy Bính cầu vai,

Đinh tim Mậu sườn Kỷ thuộc bụng.

Canh là cuống rốn Tân thuộc đùi,

Nhâm cẳng Quý chân từ một thân.

Tý thuộc bàng quang, tai thủy đạo,

Sửu là bụng ruột và lá lách.

Dần mật, phát mạch cùng hai tay,

Mão là mười ngón, trong là gan.

Thìn thổ là loại da, vai, ngực,

Tị mặt, răng, họng, mông, hậu môn.

Ngọ hỏa tinh thần giữ đôi mắt,

Mùi thổ dạ dày cách sống lưng.

Thân kim đại tràng, kinh lạc, phổi,

Dậu là tinh huyết tàng tiểu tràng.

Tuất thổ mệnh môn, cẳng bàn chân,

Hợi thủy là đầu cùng nang thận.

Ngọ đầu Tị Mùi đều hai vai,

Trái phải hai tay là Thìn Thân.

Mão Dậu hai sường Dần Tuất cẳng,

Sửu Hợi bàn chân Tý là âm (bộ phận sinh dục).

Càn tay Khôn bụng Khảm hai tai,

Chấn chân Tốn đùi Cấn nhớ tay.

Đoài miệng Ly mắt phân bát quái,

Phàm xem bệnh tật theo chỗ này.

(Hai) Các loại tật bệnh

Một, Mộc

1, Giáp mộc gặp hỏa nhiều, đa số phạm bệnh thần kinh.

2, Nhật can là Giáp mộc, lưu niên và trụ ngày gặp thiên khắc địa xung, đa số có họa tổn thương ở đầu.

3, Giáp Ất ở trước thấy Canh Tân, kị là đầu mặt. Canh Tân khắc Giáp Ất, đầu mặt bị thương, phá tướng.

4, Giáp Ất vô căn, sợ gặp Thân Dậu, chỗ này gặp Sát hợp, định là đôi mắt bị mù.

5, Mộc bị kim gây tổn thương, gân cốt, eo sườn lưng đau nhức.

6, Mộc quá vượng mà bệnh là treo cổ xà nhà mà tự vẫn, Hổ ăn Rắn cắn.

7, Mộc quá nhược hoặc tử tuyệt, đa số có đầu bị cháng váng, hoa mắt, khí huyết không điều hòa, hai bên tóc mai sinh thưa thớt, hiện tượng đau thần kinh, nếu như nói nghiêm trọng, đa số có tật bệnh gan mật, tổn thương chân cẳng.

8, Thủy mộc tương sinh mà quá vượng, chú ý ứng nhiều tật bệnh như dạ dày hư, tim xấu, miệng hôi, khạc nhổ, giảm ăn, thân thể suy nhược, mạch chìm yếu, phần bụng suy nhược không có lực, bộ mặt thiếu máu.

9, Thủy mộc quá nhiều, tổn thương tỳ vị (dạ dày và lá lách bị bệnh).

10, Kim thủy nhiều mà mộc thối hư, mà Giáp mộc lại rất suy nhược, lại không có hỏa khai thông, dễ mắc bệnh sỏi thận, bệnh hói đầu.

11, Thổ nhiều mộc gãy, mệnh cục táo thổ quá nhiều, mộc khí cực nhược, tóc dễ đâm nhánh hoặc gãy từng đoạn.

12, Giáp là mật Ất là gan, Giáp Ất mộc lại là đại biểu tóc và thần kinh giao cảm. Thủy nhiều mộc trôi, Giáp mộc cực nhược, dễ bệnh tỳ thấp (lá lách bị ẩm ướt). Nghiêm trọng thì thường dẫn đến da dẻ bị khô nứt, nhẹ thì bị hói đầu không phát.

13, Hỏa nhiều đốt mộc, mộc khí nhược, không phải gan hư thì là mắt đỏ, mắt thường phát tia màu hồng.

14, Bát tự mộc là hỷ dụng, mà gặp cường kim khắc xung tổn thương, đại đa số có chướng ngại phương diện thần kinh giao cảm, nếu không, có bệnh gan mật, cũng phòng tai nạn xe cộ bị ngoại thương.

15, Giáp Thân, Ất Dậu, trẻ em thường mắc bệnh gan.

Hai, Thổ

1, Mậu Kỷ kị Dần Mão, hưu tù mà phát sinh đại tật. Can có Mậu hoặc Kỷ, thấy địa chi có Dần Mão, chủ trong nhà có người mắc bệnh tứ chi, bệnh tê liệt, hoặc có người nằm bệnh trên giường. Nhật can là Mậu hoặc Kỷ, phòng bệnh bản thân.

2, Một Sát ba Tài hai hỏa chủ bệnh mắt (ngày Kỷ).

3, Ngày Kỷ tháng Tuất, hỏa thần vô khí, nhiều thủy nhiều kim, mắt mờ mắt đóng.

4, Hỏa thổ tương sinh mà quá vượng, thường có triệu chứng khi ngũ bị chướng bụng, sức ăn tuy không khác thường nhưng khi ăn vào thì cảm thấy đầy ắp hoặc đè nặng, hay khạc nhổ, tim xấu.

5, Đất thổ hư mộc vượng, định có tổn thương tỳ vị.

6, Hỏa thổ bốc sáng, thì phát trọc mắt mù.

7, Thổ hư mộc thịnh tất thương tàn.

8, Thổ nhiều bệnh hói đầu.

9, Thổ quá nhược hoặc là tử tuyệt, sắc mặt màu vàng, giảm ăn, tứ chi uể oải, thích nằm thích ngũ, lo âu nghĩ nhiều, không thích hiện tượng động tác, lại thường có bệnh phù thũng, nấm ăn chân, miệng hôi, hay bị đau răng.

Nếu như nói một chút nghiêm trọng hơn, có bệnh hệ thống tiêu hóa, có thể mắc bệnh ngoài da.

10, Tứ trụ hoặc tuế vận gặp hai Thìn xung Tuất hoặc hai Tuất xung Thìn,dễ mắc bệnh dạ dày, lá lách, bệnh hoa liễu.

11, Tứ trụ hoặc tuế vận gặp lúc có hai Sửu xung Mùi, hoặc hai Mùi xung Sửu, dễ mắc bệnh lá lách hoặc bệnh can khí bất hòa hay cáu gắt, chứng phù thũng. Hoặc ẩm thực không phấn chấn, mắc bệnh trung khí (Đông y chỉ khí trong dạ dày, có tác dụng tiêu hoá thức ăn và dinh dưỡng của cơ thể) ít không đủ.

12, Mậu thổ Đinh hỏa đều nhược, mà trong cục thấp khí quá nhiều, dễ mắc bệnh chứng loét dạ dày, chứng xuất huyết bao tử.

Nếu Mậu thổ gặp Giáp mộc khắc tuyệt, hoặc bị Quý thủy hợp hóa, mà Mậu thổ là hỷ dụng thần bị xung, cũng có chứng bệnh xuất huyết bao tử.

13, Mậu thổ nhược, kim vượng nhiều, tiết khí thái quá, mắc bệnh chứng sa dạ dày.

14, Trong tứ trụ hỏa vượng thổ suy, hoặc thủy nhiều thổ nhược đều là tiêu chí mắc bệnh ngoài da.

15, Trong trụ có thổ, thổ kim mà lưng bàn chân bị thấp nặng không thông.

Kỷ Mão, Kỷ Dậu, thấy ở ngày giờ, chỗ này chính là bị thấp khí, chủ lưng bàn chân nặng nề máu không thông.

16, Nhâm Thìn, Mậu Thìn là chỉ vị trí Thiên Cương, mệnh Mậu Kỷ thổ hoặc mệnh Nhâm thủy, gặp Dần Mão mộc, lại gặp một vị Thìn, thì chủ nam nhi bệnh tiểu tràng sưng dái, chứng đau bụng cấp tính, nữ mệnh thì mắc chứng bệnh kinh nguyệt.

17, Sửu Tuất Mùi là tam hình, chủ tứ chi bệnh khó khỏi.

18, Thìn là Thiên Cương, Mão là Thái Xung, Thìn Mão cùng có, chủ bệnh lưng bàn chân đau nhức.

19, Sửu Ngọ là tương hại, chủ có bệnh tật lâu ngày trong bao tử trong bụng.

20, Tý Mùi là tương hại, Tý thủy lâm Mùi thổ, thì phát sinh tật bệnh tỳ vị.

21, Thổ thái vượng mà chủ bệnh núi sụp đá đè, rơi bùn tường sụp.

Ba, Kim

1, Đại tràng có bệnh, là do Bính Đinh khắc tổn Canh Tân.

2, Canh Tân hướng phương Thân Dậu, cướp binh người mất.

Trụ có 4 chữ Canh, Tân, Thân, Dậu, có họa máu đổ, họa thương tàn tứ chi, đánh nhau bị thương, ứng chỗ này, là trong trụ có hỏa nhiều hoặc nạp âm hỏa nhiều càng ứng nghiệm.

3, Thu kim sinh Ngọ, Bính hỏa thấu lộ, vận tới Nam phương, máu chảy trên đường.

4, Tam hợp hỏa thần vượng thịnh khắc Canh Tân, tổn thương đầu mặt cùng bệnh về khí huyết.

5, Tân kim ngày Hợi, tháng gặp đến Tuất, đầu hành thủy vận, cần phòng bệnh mắt.

6, Kim nhược gặp hỏa vượng, bệnh máu là không sai. Kim chủ phổi, bị hỏa xung khắc, thành bệnh tửu sắc.

7, Kim gặp vượng thủy, bệnh tổn thương gân cốt.

8, Thổ kim tương sinh mà thái vượng, khí thường hư nhiều, thường có chứng đầy bụng, bí tiểu, chứng trạng miệng khát.

9, Kim thái vượng mà chủ bệnh đao kiếm hình thương.

10, Kim thái nhược hoặc tử tuyệt, chú ý ứng nhiều bệnh khí hư, ho khan, da dẻ khô nứt, khớp xương đau nhức, đại tràng kiết lỵ đi ra máu, cũng thường có hô hấp không thoải mái, thường bị bệnh cảm mạo, nếu như nói nghiêm trọng, có khả năng bị bệnh phổi.

11, Kim bị hỏa khắc, hệ thống hô hấp có bệnh (vì kim chủ phổi), như có mộc trợ hỏa khắc kim, thì mộc chủ phong hàn, cho nên thường mắc bệnh cảm mạo. Kim suy không thể sinh thủy, thì lúc cảm mạo nước mũi hay chảy.

12, Tân kim là đại biểu phổi cùng khí quản, thổ dày chôn kim, như Tân kim yếu khí thấp lại nặng, dễ mắc bệnh thũng phổi hoặc bệnh lao. Nếu là táo thổ trọng, dễ bệnh viêm phổi, chứng lao phổi.

13, Tân kim nhược gặp cường thủy quá tiết, dễ bị cảm mạo, trước nóng sau lạnh, sinh đàm cục dễ ho. Tân kim nhược mà cường hỏa đến khắc, lúc cảm mạo đa số trước phát viêm họng, miệng khô, ho khan rồi sau đó sợ lạnh sợ nóng.

14, Nữ mệnh lúc Canh kim nhược, có thai phát sinh sản hậu, nhất là dễ bị đau lưng mỏi nhừ, gân cốt đau buốt, thích ăn thực vật cứng giòn. Lúc Tân kim nhược, có thai phát sinh sản hậu, dễ phát bệnh răng hoặc ngực khó chịu, thích ăn thực vật xốp mềm, đặc biệt thích mùi thơm.

15, Thủy vượng Tân kim nhược hoặc thổ cường mai kim, bị viêm khí quản, mũi tịt, ho khan.

16, Trong mệnh lúc Bính Canh đều vượng, lại gặp táo thổ bao kim thường có triệu chứng bí tiểu, bệnh trĩ.

17, Mệnh cục kim nhược lại gặp cường mộc cường thủy cướp tiết, xương cốt đễ giòn mà không kiên cố, gân cốt dễ bị thương. Canh kim là đại biểu xương cốt, Tân kim là đại biểu răng. Cường mộc đến xung Canh kim hoặc cường hỏa đến khắc Canh kim, đa số chủ bị thương xương cốt; cường mộc đến xung Tân kim hoặc cường hỏa đến khắc Tân kim, đa số chủ viêm răng hoặc có bệnh khoang miệng.

18, Kim nhiều thủy đình trệ, lúc Canh kim cường Nhâm thủy nhược, dễ mắc bệnh sỏi bàng quang. Nếu là lúc Canh kim cường Quý thủy nhược, dễ bệnh sỏi thận.

19, Canh Dần, Tân Mão, như ghét bề trên, bệnh lao xương.

20, Người sinh Tân Hợi, Tân Mão, thấy ngày hoặc giờ Ất Mão, chủ bệnh đầu mặt hoặc là khuyết môi.

21, Tân Sửu kim thấy Bính Ngọ hỏa, chủ bệnh ách tứ chi đau nhức bên dưới.

22, Kim thủy Thương quan, lạnh thì ho khan, nóng thì đàm hỏa.

Bốn, Thủy

1, Hỏa thổ nấu khô Quý thủy, hai mắt không có con ngươi, tật bệnh về mắt.

2, Kim thủy khô thương, thận tất hư.

3, Nhâm Quý thêm thổ vượng, chi dưới hư hao.

4, Hợi Tý thêm Tị Ngọ, mắt có tật.

5, Trong trụ Hợi Tý nhiều, chủ bệnh sưng hòn dái.

6, Thủy thái nhược hoặc tử tuyệt, dễ bệnh viêm tạng thận, xuất huyết não, cận thị, tật bệnh hệ thống tiết niệu.

7, Bên dưới lãnh tật, tất là thủy gặp hỏa tổn thương.

8, Thủy thái vượng mà bệnh chính là chìm nước mà chết.

9, Thuần Nhuận Hạ, nhuận là trở lại sinh khí, thần thanh cốt tú, hoặc như thừa vượng đến Đông Nam, trúng gió bị câm.

10, Kim thủy tương sinh mà quá vượng, chú ý ứng nhiều hiện tượng như khí không thông, ho suyễn, ho khan, mũi tắc, cảm giác buồn bực bất an, thường cảm thấy dưới ngực như bị vết thương, cũng có thở gấp, miệng khát.

11, Trong trụ Hợi nhiều (nếu nguyệt lệnh cũng là Hợi), có thể có bệnh phong thấp. Bởi vì trong Hợi có Nhâm thủy Giáp mộc, mộc có thể là đại biểu thần kinh, mộc ngâm chìm trong thủy chính là đau nhức thần kinh phong thấp.

12, Nhâm thủy là đại biểu bàng quang, Quý thủy là đại biểu thận tạng. Tứ trụ thủy vượng, thủy khuyết hoặc thổ thịnh thủy nhược đều dễ mắc bệnh bàng quang, thận tạng.

13, Nam mệnh Quý thủy lạc vào khố lại gặp hình xung khắc phá, hoặc là Quý thủy lạc vào khố lại gặp vượng hỏa thời gian dài hung đúc, tất có chứng bệnh thận hư hoặc thận thủy không đủ.

14, Nam mệnh sinh vào mùa đông, thủy khí kết băng, tứ trụ không thấy mộc đến khai thông thủy, không thấy hỏa đến hòa tan đống băng. Thận thủy kết băng không thông, dẫn đến bệnh liệt dương hoặc tiết tinh sớm, mà đến mùa đông thì càng nghiêm trọng.

15, Trong mệnh cục thủy vượng kim suy, hoặc mộc vượng thủy suy, về già định bệnh hoạn đường tiết niệu.

16, Người sinh Lục Quý, địa chi có đủ Hợi Tý Sửu, trong cục không có thổ, chủ chảy xiết bất định. Nếu ở đất hưu tù, chủ sinh bệnh thận.

Năm, Hỏa

1, Hỏa gặp thủy khắc, mắt mờ ám.

2, Tứ trụ hỏa nhiều, thiếu niên có bệnh máu mủ.

3, Hỏa thái vượng mà bệnh thì đêm ngũ điên đảo, rắn hại thiêu đốt.

4, Hỏa thái nhược hoặc tử tuyệt, dễ mắc bệnh tim, bệnh nhiễm trùng máu, viêm khớp, nấm ăn chân, bệnh mắt, hàng năm nhẹ hoặc gặp đúng lúc trung niên, chủ tràng vị không tốt.

5, Mộc hỏa tương sinh mà quá vượng, dễ có bệnh hỏa khí thăng lên, đau mắt đỏ, thiên đầu thống, ù tai, chóng mặt, không tập trung chú ý, cảm thấy tim bị đè, chứng thở gấp, ngoài ra còn bị bí tiểu, chi dưới bị tê, phong thấp.

6, Lúc Bính hỏa quá vượng, tất làm liên lụy tới tiểu tràng, thị lực, bệnh mắt, thần kinh.

7, Bính hỏa là đại biểu tiểu tràng, Canh kim là đại biểu đại tràng, trong tứ trụ nếu như Bính Canh đều nhược, còn lúc thủy thổ đặc biệt cường, đa số là có bệnh đường ruột.

8, Trong tứ trụ mộc nhiều thủy không thông, Bính hỏa cực nhược, thần kinh não kích thích mà quá kích động, chứng tinh thần không vững. Thủy nhiều thổ nhược mà hỏa bị yểm, Bính hỏa cực nhược hoặc trong mệnh cục có Thương quan vượng mà Bính hỏa nhược, có chứng thần kinh suy nhược, tinh thần rạn nứt.

9, Mệnh cục Bính hỏa vượng, Canh kim nhược, bình thường là lực khá tốt, nhưng công năng tai kém, không linh mẫn hoặc thường có ù tai.

10, Mệnh cục Đinh hỏa nhược còn nhập khố, dễ mắc bệnh tim, lại gặp hình xung khắc hại, vì bệnh tim mà giải phẫu.

11, Đinh hỏa nhược thổ khí cường, định có bệnh thiếu máu, chỗ này là bởi vì Đinh hỏa bị chỗ vượng thổ tiết khí, cho nên khiến cho khí huyết thiếu khuyết tan tác. Đinh hỏa là đại biểu huyết dịch của tim, trong mệnh có cường thủy áp khắc nhược hỏa, dễ mắc chứng cao huyết áp hoặc tim đập nhanh.

12, Đinh hỏa cường mà thổ khí nhược, thường huyết áp hơi thấp, tim đập nhanh, ngực khó chịu, thở hỗn hển.

13, Người Bính Đinh hỏa, vận đến đất Thân Dậu, chủ phát sinh khẩu thiệt.

14, Thân Tị hai nhà gặp hình, thì cánh tay có bệnh. Trụ có chữ Thân, chữ Tị, cánh tay có bệnh, hoặc bị thương, hoặc viêm khớp, viêm bả vai, can chi nạp âm tương khắc thì họa nặng, như trụ Giáp Thân thủy khắc Ất Tị hỏa chẳng hạn.

15, Sinh mùa đông không có hỏa, chi dưới hàn lạnh.

Sáu, Phụ họa

1, Câm điếc:

“Bính Đinh thích khắc Canh Tân, ít có chế mà bị câm” .

Ấn chủ lời nói, Thực thần chủ tài ăn nói, đối thoại, đại phàm trong mệnh hai vị này đều hưu tù hoặc là kim thủy bị khắc quá nặng, bị hợp bán, nhập mộ, lạc nhập Không Vong, lời nói biểu đạt sẽ bị ảnh hưởng, nặng thì trở thành câm điếc.

2, Tử Tức tinh tọa Không Vong, Thực thần tọa Không, có khả năng là con bị câm điếc hoặc là có vấn đề lời nói.

3, Mộc vượng hỏa viêm hoặc hỏa viêm thổ cháy, người mà bát tự không thấy là thấp khí lá người không có bộ phận sinh dục, con cái không có trường thọ, như có con cái bản thân thường có thương tàn ngoài ý muốn, có họa máu đổ hoặc là chất hung.

4, Nữ mệnh có Tử tức cung tọa Dương Nhận, hoặc Tử tức tinh lạc vào trong chi trụ khác có Dương Nhận, khả năng lúc sinh sản hoặc là tử cung noãn sào có bệnh mà giải phẫu, nếu không, nhất định là khắc con cái.

5, Hỏa viêm thổ táo là không được chết an lành, không phải chết do tai nạn xe cộthì cũng chết cảnh máu đổ hoặc là trong giải phẫu.

6, Trong mệnh cục Thất Sát cường ở nhật chủ, mà Thực thần Chính Ấn khá nhược, cả đời thường gặp thương tai hoặc có một loại ám bệnh lâu ngày khó trị.

7, Phép xem đau răng:

Kim chủ xương cốt, Thực thần chủ miệng, Thực thần lúc là kim chủ về răng, lâm không vong thì chủ răng có hang sâu ăn chân răng.

8, Cùng với nhân tố có liên quan đến ngoại thương hoặc tàn tật:

A, Thất Sát thấu can;

B, Quan Sát cùng thấu thiên can (đầu mặt thấy được chỗ kèm theo phá tướng);

C, Thương quan cùng với Quan hoặc Sát ở thiên can;

D, Dương nhận xung hình;

E, Kim vượng khắc mộc (mộc không nhất định là Nhật can);

F, Quan Sát ở chi bị hình xung (tứ chi bụng dạ dày kèm theo phá tướng);

G, Thương quan kiến Quan;

H, Bát tự hình xung (Kèm theo Thất Sát càng ứng nghiệm);

I, Thiên can có Canh, địa chi có hai chữ Dần Mão, phòng thú cắn, hoặc chi dưới có bệnh hại;

J, Chi có hai chữ Thân, Tị, tứ chi bị qua tổn thương hoặc tay chân có bệnh, như viêm khớp, viêm bà vai;

K, Trụ có 4 chữ Canh, Tân, Thân, Dậu, có họa máu đổ dánh nhau hoặc tứ chi thương tàn.

9, Nhân tố có liên quan đến cận thị:

A, trong bát tự có hỏa bị thủy khắc;

B, Hỏa thổ nấu khô Quý thủy;

C, Thiên can có Canh hoặc Tân, đồng thời lại có Bính hoặc Đinh.

10, Đau lưng:

A, Trụ có hai chữ Mão Thìn (nếu chi ngày Mão, chi giờ Thìn, dễ gặp họa kiện tụng lao ngục);

B, Kim mộc tương chiến;

C, Nhâm Quý thủy nhược, Mậu Kỷ thổ trọng.

11, Tràng vị (Ruột, bao tử) không tốt:

A, Trong bát tự có Mậu Kỷ thổ bị mộc khắc (Mậu Kỷ thổ không cần phải là nhật can);

B, Thiên Ấn nhiều;

C, Thực thần gặp Kiêu;

D, Bính Đinh khắc Canh Tân.

12, Dị ứng da:

A, Nhật can Mậu Kỷ, trong trụ hỏa nhiều hỏa vượng, thủy nhiều hoặc không có thủy;

B, Bất luận Nhật can như thế nào, sinh ở tháng Tị Ngọ Mùi, trong trụ nhiều hỏa, hoặc là loại Mùi Tuất nhiều.

13, Nhân tố khiến cho người mập béo:

A, Thực thần có lực hoặc Thực thần là hỷ dụng (có ăn có hát, khẩu vị tốt, không kén ăn);

B, Thực thần ám tàng;

C, Thương Thực sinh Tài;

D, Chính Ấn có lực;

E, Nhật can mang hợp;

F, Can ngày Quý, thân cường;

G, Tứ trụ nạp âm nhiều thủy, tứ trụ nạp âm nhiều hỏa (có 2 chữ thì mới tính, đa số chủ cao to khỏe mạnh).

14, Nhân tố khiến cho người gầy:

A, Thiên Ấn có lực;

B, Thực thần gặp Kiêu;

C, Tỉ kiên kiện vượng (Thiếu Thực Thương);

D, Kiếp tài kiện vượng (Thiếu Thực Thương);

E, Thất Sát kiện vượng;

F, Quan Sát hỗn tạp mà thân nhược;

G, Tứ trụ nạp âm thổ nhiều, tứ trụ nạp âm kim nhiều (có 2 chữ thì mới tính, đa số là chủ gầy nhỏ);

H, Chi có hai chữ Tý Mùi (Tý Mùi tương xuyên thì tỳ vị không tốt hoặc có bệnh).

15, Mệnh cục thân nhược gặp Kiêu thần trọng kiến, phần đa gặp bệnh tật thương tổn lao phổi.

16, Kiêu thần đoạt Thực, đa số sinh tật bệnh đường tiêu hóa, mất ăn hoặc thiếu ăn.

17, Phụ nữ bệnh về sinh sản:

A, Nam mệnh chi ngày là Thất Sát, gặp Kiêu thần, vợ đa số ít sinh sản, kinh nguyệt không điều hòa.

B, Nữ mệnh gặp Kiêu thần nhiều, người thường là khó sinh sản.

C, Nữ mệnh có can năm là Thương quan, giờ gặp Dương Nhận hình xung, tuế vận gặp Kiêu thần Dương Nhận, là định có họa về sinh sản.

D, Nữ mệnh có ngày giờ phạm Câu Giảo có họa về sinh sản.

E, Nữ mệnh gặp ngày giờ có Mão Dậu xung, là sẩy thai khắc con, bệnh máu trong bụng kích thích.

F, Nữ mệnh có giờ lâm Hoa Cái gặp Không Vong, cả đời không sinh sản.

18, Dương Nhận thấy nhiều ba đến bốn, tất có bệnh tật tai điếc mắt mù.

19, Thương quan thấy nhiều, đề eo lưng sươn đùi thương tàn.

20, Nên sinh có Hổ, sợ nhập nham thạch, hại Sói Hổ, tuế hình đủ bệnh. Trụ có chữ Canh, lại có hai chữ Dần Mão, phòng thú cắn thương, lại phòng chân có bệnh hoặc thụ thương.

21, Tước gặp Thiên Hậu, cánh chim nửa đường khó yên. Chu Tước là Bính, Thiên Hậu là Nhâm, trụ có hai chữ Bính Nhâm, phòng anh em chị em có thương tàn chết yểu, Bính là can năm càng ứng nghiệm.

22, Chân què lưng gù, chỉ vì Sát thần gặp Khúc cước. Chủ có tàn tật ở thân, Sát tức là Thất Sát. Trong trụ gặp Tị, Hợi, Dần, Ất cuối cùng là một nét bút phải nghiêng, gọi là “Khúc cước sát”, Khúc cước sát nhiều, cũng chủ khó tránh thương tàn.

23, Ngày giờ có Quan Sát tạp loạn, là tật bệnh cùng đến.

24, Trong tứ trụ có thủy nhược, kim giòn, hỏa vượng, mộc khô, thổ cháy, là tiêu chí trọng yếu mắc bệnh đường tiết niệu.

(Ba) Tin tức tử vong

1, Ấn thụ thấy Tài hành Tài vận lại kiêm tử tuyệt, tất phải chết, như trụ có Tỉ kiên, thì có thể giải cứu.

2, Chính Quan thấy Sát cùng Thương quan, hình xung phá hại, tuế vận cùng đến tất chết.

3, Chính Tài Thiên Tài thấy Tỉ kiên phân đoạt, Kiếp tài Dương Nhận lại thấy tuế vận xung hợp, tất chết.

4, Cách Thương quan, Tài vượng thân nhược, Quan Sát thấy nhiều, tuế vận lại thấy tất phải chết, còn sống thì thương tàn.

5, Củng lộc Củng quý, lại thấy xung Quan tinh, thấy nhiều ở tuế vận là chết.

6, Nhật lộc quy thời, hình xung phá hại, thấy Thất Sát, Quan Tinh, Không Vong, xung Nhận tất phải chết.

7, Đại kị Sát Quan, tuế vận cùng đến tất chết.

8, Còn nhiều cách khác, cùng kị Sát và Điền thực, tuế vận cùng đến tất chết.

9, Hội nhiều hung thần, Ác sát, Câu Giảo, Không Vong, Điếu khách, Mộ khố, Bệnh, Tử, Quan Sát, chín phần chết một phần sống.

10, Quan tinh Thái tuế, Tài đa thân nhược, vốn phạm Thất Sát, thân khinh có cứu thì cát, không có cứu thì hung.

11, Ngày Giáp tháng Hợi, thấy Ly thọ ngắn. (Nam phương)

12, Lục Giáp tọa Thân, được 1thấy hai Tý, vận đến Bắc phương, đề phòng chết yểu.

13, Giáp Ất gặp kim cường, hồn quy hướng Tây Đoài.

14, Thiên can hai Bính, địa chi đủ Dần, lại hành sinh Ấn, họa đến liền chết.

15, Bính hỏa tháng Thân, vô căn theo Sát, có căn Nam vượng, thoát căn thọ ngắn.

16, Dương hỏa vô căn, đất thủy tất kị, âm hỏa vô căn, đất thủy có cứu.

17, Cấn sinh Bính mà gặp Dậu chết (Cấn: hướng Đông Bắc, Kê: là Dậu)

18, Bính lâm vị Thân, gặp dương thủy khó mà sống thọ.

19, Hết thọ, vì Đinh gặp Mão mộc gặp Kỷ thổ, là vì Kiêu gặp Thực.

20, Kỷ sinh Dậu mà gặp Cấn thì chết. (Đông Bắc)

21, Kỷ nhập Hợi cung, thấy âm mộc cuối cùng là tổn thọ.

22, Canh kim vô căn, Dần cung hỏa cục, Nam phương có quý, đề phòng thọ ngắn.

23, Canh kim gặp hỏa vượng, khí tán Nam Ly.

24, Hoạt mộc thiết kị chôn căn.

Chú giải: Dần Mão Mùi là căn Hoạt mộc, như gặp Thân Dậu Sửu, Thân xung Dần, Dậu xung Mão, Sửu xung Mùi (trong Sửu có kim khắc mộc trong Mùi), thì mộc ở trong địa chi gốc bị nhổ mất, trở thành Tử mộc vô căn vậy.

25, Cướp mộc tuyệt khí ở Bính Đinh. Nhật can Giáp Ất, sinh mùa hạ, trùng trùng thấy hỏa hoặc thành hỏa cục, mộc đến đất hỏa, tan thành mây khói, “Mộc hóa thành tro”, chủ là yểu mệnh, trụ nhật chủ có kim khắc càng ứng nghiệm.

26, Ngũ hành sinh tử, xem bình việc người. Gặp sinh sợ tử, đã tử sợ sinh; chỗ sinh gặp vượng, xứ diệt thì tử; chỗ sinh gặp tử, chỗ thoát tất vượng.

27, Vận Thương quan nếu thấy hình xung, mộng nhập vào cõi u minh. Trong trụ gặp vận Thương quan xung hình, chủ họa không rõ, tất phải tử vong.

28, Sinh địa gặp nhau, thanh niên mất lộc. Kiếp Ấn trùng trùng mà hành đất trường sinh, chủ tử.

29, Ngày gặp Quan Quỷ thấy hình trọng, ác tử là rất rõ ràng.

30, Dương Nhận cùng Sát Thương hình nhau, tất chủ đến pháp trường.

31, Thân suy, chi ngày tọa Thất Sát, vận Sát chết vì hình ngục.

32, Quyền Nhận lại hành Quyền Nhận, giải phẫu mà chết.

33, Ngày gặp Nhận Sát mà hình xung, vợ tất vì sinh sản mà chết.

34, Đào Hoa hội Lộc chết vì tửu sắc, hung Sát hợp năm đề phòng đao chém chết.

35, Hàm trì tọa vượng mang Nhận, vì sắc vong thân.

36, Quý nhân trên đầu mang Nhận kiếm, đa số là chết hung.

37, Ngày Mậu tháng Dần, thấy Thân Dậu, là thập tử nhất sinh.

38, Canh Tân hướng phương Thân Dậu, chết do cướp binh quyền. Trụ có 4 chữ Canh, Tân, Thân, Dậu, có họa đổ máu, họa tổn thương tứ chi thân thể tàn tật, chém nhau đổ máu, ứng chỗ này, là trong trụ có hỏa nhiều hoặc nạp âm hỏa nhiều càng ứng nghiệm.

39, Khi sinh tứ trụ có Tài tinh, gặp lúc Dương Nhận định là khắc hình, tuế vận thường gặp vợ cắt đứt nhớ thương, hàng năm thê cung thường thấy tổn hại. Tuế vận hành vận đất Tài tinh tử mộ tuyệt, ở tuế vận này là hại vợ, hoặc ly hôn, hoặc tang vong.

40, Thân nhược, Tài sinh Sát vượng khắc thân, lại hành Tài vận tất chết.

41, Thương quan nhập mộ, âm sinh dương tử.

42, Tài gặp Kiếp hết tận, Tài trọng phá Ấn, Kiếp trọng thấy Tài, đều là vận chết.

43, Thủy thịnh mộc phiêu, cuối cùng thành quỷ bên ngoài, chết không có quan tài.

44, Thực thần gặp Kiêu, chết trong lao ngục.

45, Tòng Tài tòng Sát, vận chợt vứt căn, không chịu tòng khí, là mệnh quy tiên.

46, Thương quan Dương Nhận, thiết kị cùng thấy nhiều, nếu như đầy đủ, quyết chết do đổ máu.

47, Dương Nhận xuyên đảo, tất làm quỷ không đầu.

48, Bốn sao Nhận nặng, chết ở dưới Tài.

49, Khúc trực Nhân Thọ, sợ nhất Bạch Đế (mộc sợ kim).

50, Viêm thượng kị Thổ, thủy xung thì chết.

51, Tòng cách kim cục, phải cần hỏa luyện, Bính Đinh nhiều Ngọ, gặp mộ thì chết.

52, Chỗ kị Nhuận Hạ, là hình xung tử tuyệt, mộc hại đê ngạn, phương Đông là chết.

53, Giá Sắc cách, một mộc là tốt, mộc nhiều thổ hư, lại hành vận Đông phương mộc thì chết.

54, Kim bạch thủy thanh, thiết kị sinh mùa Hạ, hỏa hại thổ chế, xin nhớ lệnh tháng.

55, Mộc hỏa cùng sáng, kim thủy phá hại, vận hành Tây Bắc, là lúc chết.

(Bốn) Phép xem vị trí vết sẹo trên thân thể

Mệnh lý đối với phép xem vết sẹo, chính là chỉ vì các loại tai họa, thủ thuật giải phẫu, sưng mủ lở loét ở trên thân thể mà lưu lại vết sẹo.

Thông thường trong tứ trụ gặp:

1, Thiên can người có Quan Sát hoặc người có mộc khắc thổ, nửa phần trên thân thể dễ dàng lưu lại vết sẹo;

2, Người có địa chi Quan Sát hoặc có Mộc khắc thổ, nửa dưới thân thể dễ dàng lưu lại vết sẹo;

Cụ thể là nói:

Một, Can năm:

1, Can giờ khắc can năm, vết sẹo ở bên phải trên thân thể;

2, Can ngày khắc can năm, vết sẹo ở chính giữa trên thân thể lệch về vị trí bên phải;

3, Can tháng khắc can năm, vết sẹo ở trên vị trí bên trái thân thể;

Hai, Can tháng:

1, Can năm khắc can tháng, vị trí vết sẹo ở bên phía trái thân thể hiện ra rất rõ;

2, Can ngày khắc can tháng, vết sẹo ở trên vị trí bên phải thân thể rất rõ ràng;

3, Can giờ khắc can tháng, vị trí vết sẹo ở bên phía trái thân thể hiện ra rất rõ;

Ba, Can ngày:

1, Can giờ khắc can ngày, vị trí vết sẹo ở giữa thân thể thiên về vị trí bên phải;

2, Can năm khắc can ngày, vị trí vết sẹo ở phía bên trái thân thể;

3, Can tháng khắc can ngày, vị trí vết sẹo ở chính giữa trên thân thể lệch về bên trái;

Bốn, Can giờ:

1, Can tháng khắc can giờ, vị trí vết sẹo ở chính giữa thân thể lệch về bên trái;

2, Can năm khắc can giờ, vị trí vết sẹo ở bên trái thân thể là rất rõ;

3, Can ngày khắc can giờ, vị trí vết sẹo ở bên phải thân thể rất rõ.

Cụ thể lúc vận dụng, tất cần xem thêm hạn vận.

Khẩu quyết xem mệnh

Xem mệnh nói chung, trước tiên xem Chi tháng có hay không có Tài Quan, mới xem cái khác, Nguyệt lệnh là mệnh vậy. Tháng lấy chi, năm lấy Can, Ngày lấy thiên can, lưu niên thái tuế lấy thiên can, đại vận lấy chi, năm là gốc, ngày là chủ. Như tháng có Chính Quan cùng Thiên Quan, mà giờ lại nhập cách khác, chỉ lấy trong tháng mà thủ cách, không dùng cách khác. Như nguyệt lệnh hoàn toàn không có thể dụng, mới xem cách khác.

《 Cổ ca 》nói:

“Tam cung đới cách hỗn nan tường,

Bất hiểu bằng thùy thị quý phương.

Nhất nhậm tam cung giai đới cách,

Trừ phi chỉ đắc dụng đề cương”

Tạm dịch:

“ Ba cung mang cách tạp khó tìm,

Không hiểu dựa ai là phương quý.

Cho dù ba cung đều mang cách,

Loại ra chỉ được dụng đề cương”

(Đề cương là Nguyệt lệnh, là Chi tháng). Là vậy.

Nguyệt lệnh dụng địa chi, giả như có Quan tinh, trên dưới cần phải có can chi thấu ra mới tốt; hoặc can thấu ra, trong chi không thấu, cơ bản chỉ là thông minh tuấn tú. Kỵ năm cùng giờ xung nhau, còn chi tháng chi ngày tự xung thì không ngại, đại vận cùng Tuế quân đến xung chi tháng thì gặp họa.

Phàm Chính Quan có một vị, chính là người quân tử, là quý nhân, trung hậu thuần túy, cương trực liêm minh; năm và giờ có Ấn lại càng tốt, nhiều thì trái lại chủ thành bại. Bốn vị trí đều thuần Quan, làm quan hư danh. Phàm Thất Sát một vị, thông minh linh lợi, hai vị, ba vị thì trước trong sau đục. Tứ trụ thuần Sát, có chế là quý, không có chế thì bần.

Phàm Tài có một vị, việc phải được thời, phú quý thành gia, tính tình nóng vội; hai vị, tính khí giảm nửa; ba vị, bốn vị, hao khí mà thân suy. Nếu thân quá vượng thì có thể thành lập, suy nhược thì nhận sự lao khổ.

Phàm Ấn, không luận một vị, hai vị, bốn vị cũng tốt, trong cách không nên thấy Tài phá Ấn.

Thông thường hành vận tốt, nhật can gây tổn thương can đầu lưu niên, tuế quân thì họa nhẹ. Hành vận không tốt, nhật can tổn thương can đầu Tuế quân thì họa nặng, nếu đã qua phát thì chết.

Thìn Tuất Sửu Mùi, tất cả có ba phần dư khí. Ví dụ như hành Ngọ vận tới Mùi có ba phần hỏa khí, hành Tý tới Sửu có ba phần thủy khí, không thể hoàn toàn lấy thổ mà luận.

Phàm Dương Nhận cách, Tuế Vận sợ nhất xung hợp. Can Thái Tuế hợp can ngày giờ, gọi là Hối khí Sát; Can chi ngày giờ cùng can chi lưu niên giống nhau, là Chuyển chỉ Sát. Như loại ngày Canh Thân thấy Thái tuế là Canh Thân hoặc là Canh Dần, nhẹ thì chuyển đi xa, nặng thì phá gia bại sản.

Phàm năm, tháng, ngày có cát thần, yêu cầu giờ dẫn quy về xứ sinh vượng; có hung thần, yêu cầu giờ dẫn quy về nơi chế phục. Nếu ở trên trụ giờ mang theo cát thần hoặc hung thần, cũng cần năm, tháng, ngày ở trên có cát thần sinh cho, hung thì chế. Trụ tháng có dụng thần thì được lực của tổ tông, trụ giờ có dụng thần thì được lực của con cháu, trái lại chỗ này thì không được lực.

Phàm xem mệnh, lấy can ngày dụng là Thiên nguyên, vậy can là Lộc; chi ngày, chi tháng dụng là Địa nguyên, vậy chi là mệnh. Ví dụ ngày Nhâm Quý, tháng Kỷ Mùi, ở chi thấu ra Tài Quan là vậy.

Luận Tài Quan gốc có gốc không có, gốc địa chi có Tài Quan, thiên can không lộ ra thì không xét; nếu địa chi không có Tài Quan, nhưng thiên can thấu ra, dù là hành vận tốt, cũng không được việc.

Xem Lưu niên Tuế quân, chỉ sử dụng Thiên nguyên. Như hành vận dù có xem trọng ở địa chi, cũng phải xem thêm thiên nguyên. Trong trụ mệnh hoặc có Quan tinh, hoặc có Thiên quan, có chế phục thái quá, mà vận thấy ở Quan Sát, thì có thể phát; Chi vận không có Tài, mà Can vận thấy Tài, cũng có thể là phúc vận; chi không có Sát mà can vận thấy Sát, cũng có thể là họa.

Nhân mệnh nên lấy tháng sinh là gốc vận, rất sợ đại vận cùng Tuế quân đến xung là gặp họa. Nên dùng gốc Lộc là sinh Quan tinh, rất sợ xung phá. Như ngày sinh là Đinh, lấy Nhâm là Quan, mà sinh tháng Hợi, trong Hợi có Nhâm là lộc của Đinh, nếu năm và giờ có chữ Kỷ thì xung phá gốc Lộc.

Nên lấy gốc Mã là sinh Tài tinh, rất sợ bị Kiếp (cướp) đoạt, như người sinh ngày Canh, lấy Giáp Ất mộc là Tài, mà sinh tháng Dần Mão, trong Dần có Giáp mộc là Thiên Tài, trong Mão có Ất mộc là Chính Tài, nếu năm giờ có chữ Tân, thì có họa tranh đoạt. Tuế vận cũng luận giống vậy.

Phàm ở trên can năm ngày có Quan tinh, phúc khí rất dày; ngày có Thất Sát, thì cả đời không thể loại trừ.

Quan tinh là Lộc, Tài tinh là Mã. Hành Quan tinh thì phát quan, hành Tài tinh thì phát tài, cả hai không thể thiếu một, tất cả đều có chỗ dùng.

Trên năm tháng có Tài Quan, nhất định sinh ra ở nhà phú quý, có căn cơ tổ phụ, thiếu niên hành vào vận Quan Lộc, phần đa nhận chức ở thiếu niên, sớm phát công danh; năm tháng không có Tài Quan, mà ngày giờ có, thì bản thân tự lập.

Nhân mệnh lấy Tài Quan làm gốc, trong trụ chỉ có một, cũng có thể phát phúc;

Nếu tứ trụ gốc không có Quan tinh, không nhập cách khác, can chi năm, tháng, ngày, giờ có Tài nhiều, lại hành vận Tài vượng, cũng có thể thành tựu công danh. Lấy Tài vượng tự có thể sinh Quan, cần thân vượng mới có thể được. Năm tháng không có Tài phú, thiếu niên lại hành vận không tốt, phần đa là xuất thân nơi thấp hèn, phá tổ mà còn tổn hại cha. Phúc không thành.

Phàm xem mệnh, có Quan Sát hỗn tạp, Thương quan lại là hợp thần, nam mệnh phạm thì đam mê tửu sắc; nữ mệnh phạm thì không có người làm mai mối để lấy chồng.

Phàm xem mệnh, chuyên lấy Nhật can làm chủ, lấy chỗ Đề cương vật sử dụng làm sinh mệnh. Thí dụ Nguyệt lệnh lấy kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là dụng, nhưng có phân biệt, lấy tiết khí trước sau, khinh hay trọng, ít hay nhiều, thành cục hay bị xung phá, càng phải tinh tế khảo cứu. Viết Quan, viết Ấn, viết Tài, viết Sát, viết Thực, viết Thương, lấy 6 phép này làm tiêu chí.

Gặp Quan xem Tài, gặp Sát xem Ấn, gặp Ấn xem Quan. Cả bốn vị này lấy không nên thiên lệch, sinh khắc chế hóa là trên hết; gặp phá hại hưu hồi, là thấp; có sinh có khử là phúc, có trợ có cướp là họa. Cũng có hợp chi năm, ngày, giờ thành cách cục, nhưng đều lấy Nguyệt lệnh làm dụng. Ví dụ như lệnh tháng dụng kim chỉ dụng kim, dụng hỏa chỉ dụng hỏa, bên trong 18 cách lấy 6 cách làm trọng.

Dụng tương sinh để định cách, hợp cục, nhưng dụng dưới năm, ngày, giờ để suy khinh trọng, nông sâu. Như dụng Quan dụng Ấn không sợ Sát, là Sát Ấn cục, thân Ấn cục vẫn thủ làm thượng cục; Gặp Ấn xem Sát, nhưng có Quan Sát ở mệnh, hành đất Quan Sát, cũng lấy quý luận.

Trong trụ Nguyệt lệnh thông quan gặp Tài, Tài vượng sinh Quan chính là phú quý. Trong trụ thấy Tài, phải vào vận Tài vượng mới phát phúc. Nhưng thấy một Sát, thì lấy Sát làm trọng không thể dụng Tài; nếu hành vận Tài vượng chính là Tài sinh đảng Sát, thì là mệnh bần tiện.

Phàm cách lấy Sát làm trọng.

Phàm mệnh, trước tiên xem Can thần có hay không có khắc chế, Chi thần có hay không có hình xung, nạp âm can chi có hay không có khắc chiến, hàng phục. Như Giáp lấy Dần là lộc, mà ở trên Dần có can gì? Giáp lấy Tân là Quan, mà Tân được gì? Can không xâm phạm, thì chính là tôn trọng trời. Chi không phạm Can, thì chính là cúi chào đất; Ngũ hành không cướp trộm, thì chính là thuận theo người; Tứ Mạnh không tương hại, thì chính là Mã có thể phi nhanh. Nếu can xâm phạm chi, là ngũ hành cướp trộm.

Lại cần phân biệt Chủ Bản có hay không có khí, hữu dụng hay vô dụng, có cứu hay không có cứu, thành cách hay không thành cách?

Can chi thì phức tạp, ngũ hành biến hóa, tạo hóa ở trong đó vậy!

Lý Thuần Phong nói: Ngũ hành sinh vượng, xem phúc khí đến; Ngũ hành tử tuyệt, nhờ cát thần cứu trợ. Ngũ hành đắc địa, nạp âm tương sinh, cát thần không có trợ giúp thì cũng vinh; ngũ hành vô khí, nạp âm gây trở ngại nhau, thì dù có cát thần cũng vô dụng.

Phàm mệnh, Thiên nguyên hỷ Địa nguyên có lộc:

Như Giáp Kỷ hỷ tứ quý, Ất Canh hỷ Thân Dậu, Bính Tân hỷ Hợi Tý, Đinh Nhâm hỷ Dần Mão, Mậu Quý hỷ Tị Ngọ.

Địa nguyên hỷ Thiên nguyên có hợp:

Như Tý Sửu hỷ Mậu, Dần hỉ Kỷ, Mão Thìn hỷ Canh, Tị hỉ Tân Quý, Ngọ hỷ Giáp Nhâm, Thân hỷ Ất, Dậu Tuất hỷ Bính, Hợi hỷ Đinh.

Thiên nguyên, Địa nguyên đều có, phúc khí cả đời cao lớn; còn tất cả đều không có, thì danh lợi không thành.

Phá hư Thiên nguyên thì trước 39 tuổi danh lợi khó phát; phá hư Địa nguyên thì sau 40 tuổi phúc không bằng trước.

Nếu Thiên nguyên tọa lộc tú khí, ví dụ như Quý được Tý, Giáp được Dần, thì không quý cũng phú.

Địa nguyên kỵ Thiên nguyên tương khắc:

Như Tý Sửu sợ Kỷ, Dần sợ Canh, Mão Thìn sợ Tân, Tị sợ Giáp Nhâm, Ngọ Mùi sợ Ất Quý, Thân sợ Bính, Dậu Tuất sợ Đinh, Hợi sợ Mậu.

Lại xem hỷ kị như thế nào, không thể chấp nhất mà luận.

Phàm mệnh, can chi thủ cùng nạp âm giống nhau:

Nhâm Tý Nhâm Ngọ là chân mộc, Kỷ Dậu Kỷ Mão là chân thổ, Bính Tý Bính Ngọ là chân thủy, Mậu Tý Mậu Ngọ là chân hỏa, Ất Sửu Ất Mùi Canh Thìn Canh Tuất là chân kim.

Như ngày Ất Dậu giờ Canh Thìn là kim tinh, ngày Đinh Tị giờ Bính Ngọ là hỏa tinh, ngày Quý Hợi giờ Nhâm Tý là thủy tinh, ngày Kỷ Sửu giờ Mậu Thìn là thổ tinh, ngày Giáp Dần giờ Tân Mão là mộc tinh, nếu gặp ở trên đều chủ phú quý.

Như người mệnh hỏa có ngày Bính giờ Tân, ngày Tân giờ Bính; mệnh mộc có ngày Giáp giờ Kỷ, ngày Kỷ giờ Giáp; mệnh thổ cp1 ngày Mậu giờ Quý, ngày Quý giờ Mậu; mệnh thủy có ngày Nhâm giờ Đinh, ngày Đinh giờ Nhâm; mệnh kim có ngày Canh giờ Ất, ngày Ất giờ Canh, dù là ngũ hành chân quý, phạm nặng thì giảm phúc.

Phàm mệnh, có ngũ hành giao hỗ chân khí:

Như mệnh Tân Hợi kim được Đinh Tị thổ, có Đinh Nhâm qua lại hợp chân mộc, có Bính Tân qua lại hợp chân thủy;

Mệnh Đinh Tị thổ được Quý Hợi thủy, có Mậu Quý qua lại hợp chân hỏa, có Đinh Nhâm hợp qua lại chân mộc;

Như tạo: Mậu Tuất, Quý Hợi, Đinh Tị, Tân Hợi, đầy đủ giao hỗ chân khí, là mệnh của Tể tướng vậy.

Mậu Ngọ hỏa được Nhâm Tý mộc, trong có Đinh Nhâm là chân mộc, Mậu Quý là chân hỏa.

Bính Thân hỏa được Ất Dậu thủy, trong có Bính Tân là chân thủy, Ất Canh là chân kim.

Canh Dần được Kỷ Mão thổ, trong có Giáp Kỷ là chân thổ, Ất Canh là chân kim.

Như Canh Dần, Kỷ Mão, là đầy đủ giao hỗ, chính là mệnh lưỡng phủ vậy.

Phàm mệnh, trước tiên luận hóa khí.

Kiểm tra lại 《 Chương Ngũ vận 》, lấy Giáp Bính Mậu Canh Nhâm hợp ngũ âm can gọi là thái quá, Ất Đinh Kỷ Tân Quý hợp ngũ dương can gọi là bất cập. Giữa thái quá và bất cập, là có quyền tồn tại ở chỗ này.

Kiểm tra 《 Sách Thiên nguyên biến hóa 》, lại phân ra ngày và đêm. Như:

Người Lục Giáp, sinh ban ngày là mộc, sinh ban đêm là hóa thổ, cho nên người có Lục Mậu được Giáp sinh ban ngày là Quỷ, sinh ban đêm là dụng Quan;

Người Lục Ất sinh ban ngày là dụng kim, sinh ban đêm là dụng mộc, cho nên người Lục Kỷ sinh ban ngày là Quan, sinh ban đêm là Quỷ.

Riêng người có Lục Kỷ, Lục Canh là bất biến, là lấy can ngũ dương sinh ban ngày là bản thể, sinh ban đêm là lấy hóa xem; can ngũ âm sinh ban đêm là bản thể, sinh ban ngày là lấy hóa xem.

Loại lục dương, mệnh nam phạm Lộc Quỷ Đảo Thực, cần thủ sinh ban đêm, thì phản hung thành cát. Hô Quỷ thành Quan, Đảo Thực thành Hỷ thần, lại lấy sinh ban ngày là thuận;

Loại lục âm, mệnh nam phạm Lộc Quỷ Đảo Thực, cần thủ sinh ban ngày, thì phản hung thành cát. Còn lại giống như trước, lại lấy sinh ban đêm là thuận.

Mệnh nữ thì ngược lại chỗ này.

Chỗ này là khí tượng ngày và đêm, là phối hợp âm dương, cương nhu, thể dụng vậy.

Phàm mệnh, ngũ hành ở dưới sinh trên viết là Trợ khí (giúp khí), chủ cả đời tự nhiên hưởng phúc. Trên sinh dưới viết là Đạo khí (cướp khí), chủ cả đời cung phúc cho cho người. Trên khắc dưới viết là Thuận, chủ có uy thế mà quản thúc con người; dưới khắc trên viết là Nghịch, chủ phần nhiều trì trệ và khó phát, tử tuyệt thì càng nhanh, sinh vượng thì chậm hơn.

Tứ trụ nạp âm nhiều Quỷ, Chủ Bản nắm thời, gọi là ngày Quan tinh thừa vượng; nạp âm Tài nhiều, Chủ Bản vô khí, gọi là Tài đa hại thân.

Phàm mệnh, ngũ hành quý ở âm dương bằng nhau, như: loại hai kim thấy hai mộc, hoặc hai hỏa hai thổ hai thủy, từng loại thành tượng mới cát;

Như thái quá, bất cập, như loại ba thủy một mộc, một thủy ba mộc, đều không là phúc. Như người mệnh kim thấy ba kim một mộc, kim khắc mộc là Tài, ba kim tranh một mộc, thì phúc bị phân đoạt, phần đa chủ tài vật không thành. Nếu một kim ba hỏa, hỏa nhiều kim ít, bị nung thái quá, cả đời chủ không nhàn.

Lại như người Giáp, gặp ba Nhâm ba Kỷ, nói là ba phối ba đoạt, chủ không cát. Nếu gặp hai Kỷ, hai Canh, gọi là trọng ngẫu trọng thương, nếu là ba thì càng hung, không bần thì yểu. Còn lại theo đó mà suy.

Phàm xem mệnh, có Thương quan kiến Quan mà chết sớm, Thất Sát kiến Tài thì yểu vong, Tài gặp Kiếp phải chết, trọng Tài phá Ấn là hung. Thủy thịnh mộc lưu, cuối cùng là quỷ; Thực thần phùng Kiêu, chết trong lao ngục. Kiếp trọng thấy Tài là chết, Sát vượng thì căn dừng. Vong Thần Thất Sát xung hình, không phải kẻ xấu thì cũng chết. Dây trói buộc Thương quan, Dương Nhận đều trọng, dù thây thể còn nhưng chết bởi cảnh đổ máu. Tài tinh thấy Nhận, thì tài tán người chết. Sinh vượng tử ở khố mộ, khố mộ tuyệt ở sinh vượng. Về sau hành vận tốt, không vào hung vận, vì sao lại chết đột ngột? Có hung vận đến mà cát vận chưa đến vì sao lại phát phúc? Nên nghiên cứu nguyên do Tiến khí Thoái khí, lại suy xét nghĩa chưa phát hay đã phát. Tương lai mà tiến nhanh, thành công thì đã quy tiên.

Cả đời tuế vận đều hung, thiếu niên sẽ chết sớm; cuối đời mệnh tinh đắc địa, thọ lão càng cao. Già thì sợ sinh vượng, mà ít sợ tử tuyệt; Dương Nhận phùng sinh phần đa chết dữ, Sát vượng có căn cuối cùng định là hung.

Xuân vượng hỏa nhiều, đượng nhiên Tây Bắc là quy về khố; Hạ mờ kim vượng, lợi Đông Nam đất quỷ là đất thọ.

Tứ Nhận tinh trọng, chết ở dưới Chính Tài; Một Quan ít quý, cuối cùng hướng về Dương Nhận.

Tứ trụ đều là Thương là tự chết, Kim thần nhập thủy thì gặp họa.

Dương Nhận Đảo Qua, làm quỷ không đầu; Sát tinh thay Nhận, còn nửa thân.

Chế phục trung hòa, Sát đầy cực điểm mà khí tử.

Sinh phù thái quá, Ấn quá vượng thì chết.

Thương quan nhập mộ tử, rất cần nhìn cục về sau.

Dương sinh mà âm tử, âm tử mà dương sinh.

Sát gặp tam hợp thái quá tất phải đổ ngã, trong ngũ cần nên thẩm xét tiêu tường. Cần phải nghiên cứu cẩn thận.

Phàm xem mệnh, ngũ hành thái quá hay bất cập, là nguyên nhân không thành phúc, trong đó cũng có khác nhau. Như thủy thổ không sợ tử tuyệt, vì ở giữa trời đất đều đầy thủy thổ, không phân ra bốn mùa, sao lý có Tử Tuyệt? Chỉ phân biệt khinh trọng, như ở trong thổ chỉ có một chút thủy thì khô, trong thủy nhiều tụ lại làm úng thổ thì tan rã ra, cần phải luận nhiều ít, mà phân ra khinh trọng vậy.

Kim không thổ thì không sinh, mộc không thủy thì không lớn, cho nên kim mộc muốn sinh vượng thì sợ thấy tử tuyệt. Như kim tử thì bị chìm, mộc tử thì thành tro bụi, cùng với thủy thổ khác nhau.

Hỏa tàng ở mộc giữ lại ở thổ, cho nên không muốn vượng, vượng thì đốt cháy; cũng không muốn tử, tử thì diệt, duy chỉ được cân bằng thì tốt.

Ngũ hành đều dựa vào thủy thổ, phàm mệnh mộc kim hỏa, càng cần có vậy.

Phàm thủ tượng ngũ hành, bản tượng thủ bản tượng, như loại Giáp Ất Bính Đinh là tượng mộc hỏa. Hóa tượng thủ hóa tượng, như Mậu Quý, Đinh Nhâm, cũng là loại tượng mộc hỏa.

Tượng kim thủy không thể thấy thổ, gọi là thổ tạp thủy hỗn, thì kim sẽ không thanh. Tuế vận gặp thổ cũng trì trệ, duy chỉ có kim thủy là không tạp, sinh ở mùa thu là rất quý.

Như mệnh Minh Thần Tông: Quý Hợi, Tân Dậu, Quý Hợi, Tân Dậu, có can chi đều là thuộc kim thủy không tạp, tháng kim sinh thủy, là kim trợ thủy thanh, thành tượng hai thủy hai kim, gọi là kim bạch thủy thanh, đặc biệt không có xen tạp, lại hợp có Lưỡng Can bất tạp, cho nên tôn làm thiên tử.

Như tạo: Quý Dậu, Quý Hợi, Canh Tý, Tân Tị, là kim sinh tháng thủy, kim lại bị thủy tiết khí, chìm ở trong Hợi Tý, cho nên không tránh khỏi họa về nước.

Tượng kim thổ không thể thấy mộc, là mộc khắc thổ, thì thổ không thể sinh kim, là không thành tượng vậy.

Thổ tích trữ thành kim, thổ nhiều kim ít, là phúc thật dày. Kim trọng thổ khinh, phúc đầy vất vã.

Tượng kim hỏa không thể thấy thủy, thấy thủy thì hỏa diệt kim chìm mà không thể thành khí.

Kim trọng hỏa khinh, phát trễ mà lợi thọ; kim khinh hỏa trọng, phát sớm mà thoái nhanh, hoặc chủ thọ giảm.

Tượng kim mộc không thể thấy hỏa, vì Hoạt mộc sợ kim thấy hỏa thành tú, Tử mộc được kim mới thành tạo hóa;

Kim trọng mộc khinh, thì bệnh đau xương cốt; Mộc trọng kim khinh, chủ tổn hại tiền tài hoặc đánh nhau mà phế tật, duy kim mộc thích hợp thì cát.

Tượng thủy mộc tú mà thanh cao, không thể thấy Mão Tị, vì thủy tử tuyệt;

Tượng mộc hỏa tú mà phong phú, không thể thấy kim, vì mộc bị khắc. Lưu niên mà gặp thì có họa.

Tượng thủy hỏa thành Ký tế là rất tốt, hoặc là Vị tế cũng được, không thể thấy thổ, tính hỏa nhiều thì táo khô, thủy nhiều thì bệnh mắt. Hỏa sợ Tý thủy sợ bị tắm, nhập Dậu thì hỏa tử thủy tắm, chủ gian nan mà chết. Tuế vận giống vậy, tượng ngày kị ngày giờ.

Tượng thủy thổ không thể thấy hỏa, thổ trọng thủy khinh, tú mà không thực; thủy trọng thổ khinh, lại có khoa danh.

Tượng hỏa thổ không thể thấy thủy, hỏa hư thổ tụ không thành vật, nếu cùng thủy lưu thì chủ chìm không còn.

Như Mậu Tý Mậu Ngọ Kỷ Sửu Kỷ Mùi, Đinh Tị Đinh Hợi Bính Thìn Bính Tuất. Bính Đinh cùng Mậu Kỷ kẹp nhau, chính là hỏa hư thổ tụ.

Lý Cửu Vạn Mậu Tý Kỷ Sửu Mậu Ngọ Kỷ Mùi, Bính Thìn Đinh Tị Bính Tuất Đinh Hợi, đều là tượng hỏa thổ hỗn tạp, không thể vì liên châu là quý.

Thời thượng (trụ giờ) gặp Nhâm Quý thủy, là thổ trệ hỏa diệt, cả đời gặp trở ngại.

Lại nói:

Hỏa hỏa thấy thì thì ám, thổ thổ thấy hỏa thì hư.

Thổ khinh hỏa trọng thì táo khô, là ngày Kỷ Mão thấy giờ Nhâm Dần vậy.

Hỏa khinh thổ trọng không sáng, là ngày Đinh Dậu thấy giờ Mậu Thân vậy.

Như Hàn Học sĩ: Mậu Tuất, Đinh Tị, Mậu Tuất, Đinh Tị, thành tượng hỏa thổ, lại là Phượng Hoàng can chi cách, cho nên quý.

《 Kinh 》nói:

Kim thủy đa thanh, kim thổ đa hậu, là tương sinh; Kim hỏa đa cương, kim mộc đa chính, là tương khắc. Hỏa thổ nhiều là hại, hỏa mộc nhiều là thông, hỏa thủy nhiều là mê muội; hỏa kim nhiều là cương trực. Mộc hỏa là văn chương tài hoa, mộc thủy là trong sạch; mộc kim là phương thẳng, mộc thổ là độc hại, thủy hỏa trí tuệ, thủy mộc là trí nhân, thủy kim là tú lệ, thủy thổ nặng đục, đều lấy ngũ hành mà suy.

Phàm mệnh sợ cùng loại tương phá:

Như Kỷ Mùi thấy Giáp Thìn, Giáp Thìn thấy Kỷ Sửu, Kỷ Sửu thấy Giáp Tuất, Giáp Tuất thấy Kỷ Mùi.

Phàm ở đất tứ xung, nạp âm cùng loại, lần lượt đếm nghịch hai vị. Dần Thân Tị Hợi, Tý Ngọ Mão Dậu, cũng thủ lấy chỗ này, chủ cả đời không đủ, đa số không thành khí.

《Đạo kinh 》nói: Tỉnh Lan hỗ phá, giống như có bác sĩ mà không có thuốc, gần giống như gặp Không vong, tuế vận cũng kị.

Phàm mệnh, Chủ Bản gặp Tuế Vận, không thể gặp Tử địa. Như Bính Dần hỏa sợ Ất Mão thủy, Tân Tị kim sợ Đinh Dậu hỏa, Giáp Thân thủy sợ Kỷ Mão thổ, Mậu Thân thổ sợ Nhâm Ngọ mộc, Kỷ Hợi mộc sợ Giáp ý kim. Cùng đồng nghĩa với người sống sợ chết. Chủ Bản sinh tử giống như Đồ tắc bất kị.

Phàm mệnh rất sợ Quỷ khắc mà tổ Quỷ là tối độc.

Như loại Bính Tý thủy thấy Canh Tý thổ, Đinh Sửu thủy thấy Tân Sửu thổ.

Trong tổ vào vị trí tương khắc, cho nên nói là tối độc.

Có Quý trong mộ, như loại Nhâm Thìn thủy thấy Bính Thìn thổ, Bính Thìn thổ thấy Mậu Thìn mộc;

Có Cách bích Quỷ (kề Quỷ), như loại Canh Tý thổ thấy Quý Sửu mộc;

Có Không vong Quỷ, như Giáp Tuất thấy Giáp Thân Ất Dậu, đều là có hại.

Ở trong Quỷ mộ thì nhẹ có Tổ Quỷ, Cách Bích Quỷ nhẹ hơn mộ Quỷ, Không Quỷ nhẹ hơn Bích Quỷ.

Nếu người mệnh mộc được tháng là hỏa, ngày giờ là kim, có hỏa khắc kim, kim không được hại mộc, là Ngự Quỷ vậy, quỷ không làm hại.

Như người mệnh thủy, tứ trụ có hỏa thổ, thổ khắc thủy, hỏa lại sinh thổ, là trợ giúp Quỷ vậy, thì Quỷ càng hung.

Can chi thông suốt, nạp âm là tối khẩn, Ngự Quỷ thì lúc lập thân là gian nan, còn trợ quỷ thì cốt nhục đa số phát sinh đấu phá.

Nếu trong quỷ có quỷ, gọi là Quỷ Khiếu (Quỷ gọi). Như người mệnh thổ sinh tháng mộc, có ngày giờ là kim, lấy mộc khắc thổ, kim khắc mộc, căn cơ xấu nhược thì hung, Chủ Bản mà cường kiện thì không kị.

Như một mệnh: Kỷ Mùi, Ất Hợi, Bính Dần, Tân Mão, gặp tam hợp sinh, lại gặp Dần Mão là Kỷ nhập đất Quan, Bính và Tân hợp, là đại quý; là vì Kỷ âm thổ gặp Ất mộc là Quỷ, lại gặp Tân là quỷ của Ất mộc, biến Quan Dần Mão làm Quỷ của Kỷ thổ, ở vị trí tam hợp Hợi Mão Mùi, là thông cho Quỷ khắc, phạm Quỷ Khiếu vậy, cho nên chủ chết hung.

《 Kinh 》 viết:

Trên ngũ hành thiết kị hạ tặc,

Cả đời không đủ việc vòng quanh.

Lại viết:

Quỷ Khiếu phân minh cách cục ác,

Lại thêm hình sát họa không sai.

Dẫu có khiến tiền đồ phú quý,

Định biết ngày sau ghét cảnh già.

Phàm xem mệnh thủ Thai Sinh Vượng Khố là Tứ Quý, Tử Tuyệt Bệnh Bại là Tứ Kị, còn lại là Tứ Bình. Lấy can Thái tuế làm chủ, phối với ngũ hành, thủ vị trí Tứ Quý, Tứ Bình, Tứ Kị mà phân ra quý tiện, gặp quý nhiều thì quý, gặp kị nhiều là tiện. Trong Tứ Quý lại phân ra tứ vượng, khố là cao, Thai là thứ. Nếu Thai nhân mệnh gặp tháng ngày giờ có ba Quý, can đều có phụ trợ hoặc có Chính lộc, Chính Quan, Chính Ấn, là mệnh tam công vậy.

Mang đúng Thiên Ất: Như người sinh Sửu Mùi, tháng ngày giờ được loại Giáp Mậu Canh;

Mang gốc Lộc: Như người sinh Dần, tháng ngày giờ có Giáp, gọi là hội phúc hoặc là Thiên Ất Quý hợp coi trọng cả hai, cũng là mệnh tam công vậy.

Ba quý hợp kèm theo trên dưới, hoặc có một Quan, một Ấn cùng một Chính Thiên Ất, hoặc là một vị gốc Lộc, hai ba vị hợp quý nhân, là mệnh quan Tể phụ vậy.

Nếu ở trên ngày giờ gặp hai quý và kèm theo như ở trên thì cũng vậy.

Nếu ở trên một vị gặp các thần Tai Sát, Địa Sát, Vong Kiếp, Dương Nhận, kiêm chủ nắm binh quyền, địa vị như Tư Mã Tiết Việt.

Nếu sinh tháng Thai, trên tháng và ngày giờ gặp một quý khố Thai, lại kem theo chính Thiên Ất, trên dưới hợp hoặc Thiên Ất quý hợp gốc Lộc Chính Quan, Chính Ấn, nhưng gốc Lộc có khí, hoặc trên Quý nhân cũng mang trước ở can Lộc, cũng là mệnh Tể Phụ, Cửu Khanh vậy.

Nếu tháng ở kị thần, mà ngày gặp quý, hoặc ngày ở kị thần, mà giờ gặp quý thì không hại, là chức đi hầu vua; nếu ngày giờ đều có quý, mà giờ gặp kị thần, chỗ này thường là người hay bị điều động tuyển chọn vậy.

Tứ Kị là chủ bần tiện, cũng có khinh trọng, tử bại tuyệt là trọng, bệnh là khinh. Ở mổi ngũ hành có ba vị, như người Bính Đinh gặp Dần Ngọ Tuất thành hỏa là quý, cùng giống như có ba vị Tứ Quý. Duy có khuyết Thai một vị Quý, phúc là chủ quý, cũng giống như tứ quý.

Dương Lộc quý ở Lâm quan, Âm Lộc quý ở đế vượng, nếu Dương Lộc gặp vượng, Âm Lộc gặp lâm quan, tuy là bản vị, nhưng phúc giảm nửa.

Nếu vượng mà không có lộc, như Bính Dần gặp ngày giờ Mậu Ngọ, càng khắc bản mệnh, lại kèm theo hình sát, chủ ngu tiện dâm đãng. Có gặp 1,2 vị quý, lại thành hung sát, hình hại phá gặp càng nặng, cũng chủ không có lộc.

Thẩm Chi nói: Ngũ hành lấy sinh vượng là vua, lâm quan là tướng, nếu nạp âm là mộc, tháng ngày giờ gặp hai vị Dần Mão, kim gặp Thân Dậu, thủy gặp Hợi Tý, hỏa gặp Tị Ngọ, thổ gặp Thìn Tuất Sửu Mùi, đều lấy quý luận.

Phàm xem mệnh, phân ra ngũ hành sinh vượng tử tuyệt, như:

Giáp Thân, Bính Dần, Kỷ Hợi, Tân Tị, Mậu Thân, đều là ngũ hành tự Trường Sinh. Không luận tứ thời, lý lẽ tách ra nhưng tự được sinh, bẩm tính nhân mệnh thông minh trí tuệ siêu quần, được quý thì từ tứ tiến lên. Được phú quý, cũng cầm hướng vinh cho nên mà được sinh vậy.

Bính Tý, Mậu Ngọ, Tân Mão, Quý Dậu, Canh Tý, đều là ngũ hành tự Vượng. Không đợi tứ thời, mà vẫn có thể dẫn đến vượng, phúc lực phấn phát, không có cần so sánh qua lại.

Quý Mùi, Nhâm Thìn, Bính Thìn, Giáp Tuất, Ất Sửu, đều là ngũ hành tự Mộ vậy. Chính là lúc quy căn phục mệnh, phàm chỗ ở khố tất vật muốn tụ thì khố đầy đủ, như Nhâm Thìn thủy, muốn được nhiều thủy tụ trở về, sau đó là vượng. Lại có kim lui tới tương sinh, nên được trọng quyền. Nếu thủy chế hỏa, hỏa chế kim, lại đến không trung, thì gọi là phụ Ấn không khởi, chủ bần tiện.

Ất Mão, Đinh Dậu, Nhâm Ngọ, Giáp Tý, Kỷ Mão, chỗ này là ngũ hành tự Tử vậy. Sinh chính là nhọc, Tử chính là ngừng, lý là tự nhiên. Đất không có tửa, vật tự không có chỗ mà quay về, chỗ nói là tự tử , lý chỗ này là được chân quy. Phàm mệnh gặp chỗ này, là đặc biệt thông minh siêu quần, đa tuệ thì thiếu phúc, lấy thân thể yên tĩnh, mà có đầy bất lợi. Là lấy việc đạm bạc, mà dấy lên sự bất lợi, duy chỉ có thể học đạo mà gặp thần tiên, cửa đầu thai kiếp khác vậy.

Quý Tị, Ất Hợi, Canh Thân, Nhâm Dần, Đinh Tị, chỗ này là ngũ hành tự Tuyệt vậy. Thiên đạo không có thể tuyệt chỗ này, can chi đã tuyệt thích hội thì lại sinh. Phàm gặp chỗ này, vui buồn không định, như Quý Tị là thủy tuyệt, được Quý Dậu vượng kim sinh phù. Là nói thủy tuyệt phùng sinh, càng là cát khánh.

Phàm mệnh kèm theo tử tuyệt, sinh vượng, khố mộ, thì không thể liền mang lấy mà nói, cần phải xem nguyệt lệnh để biện thanh trọc.

Thanh, gọi là có chế phục, như thủy bệnh thấy thổ thì đục, lại không có thổ đê phòng thì không thể ngừng nghĩ. Đã ngừng nghĩ thì tức là dần dần có thanh vậy.

Trọc, là nói không có chế phục, như thủy nhiều không có thổ thì chảy tràn lan không có chỗ quy về, mà thủy cực sinh mộc, cực thì biến, biến thì thông vậy.

Bởi vì ngũ hành thường thay đổi mà thường không còn, ẩn là quý mà không quý là hiển, Tử tuyệt có cứu, thì gọi là Hoàn hồn, đa số là lấy quý luận; Sinh vượng có khắc, thì thành Tán khí, trái lại là chủ phúc ít. Nếu nó và ta cùng tương sinh, thuận thì có ích cho ta, nghịch thì đoạt khí. Nó cùng ta tương khắc, thuận thì thế cường, nghịch thì bị thương.

《 Kinh 》nói: Lấy nhỏ phạm lớn, tự lấy hại; lấy nhược thắng cường, tự gây ra họa.

Một thủy khắc ba hỏa, là lấy nhược thắng cường, lấy âm thắng dương, dù họa cũng không mạnh; lấy dương thắng âm, là hại không đậm. Hai dương chống nhau, hung họa rất tức thời; hai âm địch nhau, là chỗ không yên.

Như Ất Tị hỏa khắc Nhâm Thân kim, là lấy âm thắng dương; Nhâm Thân kim khắc Kỷ Tị mộc, là lấy dương thắng âm, là âm dương hữu tình, cho nên không có hại lớn. Như Đinh Mão thấy Quý Dậu, là hai âm đối địch nhau; Mậu Ngọ thấy Giáp Tý, là hai dương chống nhau. Dương cương âm nhu tất thắng mà sau đó rước họa.

《 Thái Ất 》nói: Mấu chốt của âm dương trời đất biến hóa, không phải là không lấy âm mời dương, dương mời âm, thì trời đất hợp chính, khí ngũ hành hòa hợp, chính là vì dương theo ở dương, âm theo ở âm. Thì âm dương thiên lệch, động tĩnh mất thứ tự, cho nên có hai đường họa phúc vậy. Đại để âm dương thiên lệch, tạo hóa không thành ngũ hành, như hỏa nhiều kim ít, tụ tán không thành hình được; hỏa ít kim nhiều, vừa không thể nung chảy, lại có họa dập tắt vậy, còn lại lấy ví dụ mà tự suy.

Phàm xem mệnh, trước tiên luận ngũ hành, thể diện, thế cục, sau đó khảo sát hỷ kị, tốt xấu, vượng tướng, hưu tù.

Như người mệnh kim được Canh Tân hoặc Thân Dậu gọi là Thể diện, được Tị Dậu Sửu tam hợp gọi là Thế cục, hỷ hỏa chế thổ phù, kị kim hàn thủy lạnh, sinh mùa thu tứ quý là vượng tướng, xuân hạ là hưu tù. Còn lại mộc hỏa thủy thổ tự lấy ví dụ mà suy.

Người mệnh Kim gặp Canh Thân, Tân Dậu gọi là Ngũ Ly Sát, nếu sinh mùa thu, gặp thủy thì độc hóa kim, gọi là Kim bạch Thủy thanh; gặp hỏa thì chế cương kim (cương kim là mài kim), là nung thành khí sắc bén; trụ không hỏa không thủy, thì gọi là Ngoan kim, chủ trước kia vì tửu sắc mà thân ốm bệnh chết; Nếu được ngày giờ là Mậu Dần, thì là xứ cương phùng sinh, chủ phú mà thọ.

Người mệnh Mộc gặp thổ, thì gốc rể mượn để vui bồi; được thủy thì càng lá mượn mà rữa tắm; được kim, đẽo gọt mà thành vật dùng vậy. Mộc gặp Dần Mão, lại sinh ở mùa xuân, là rất tốt. Như có tam hợp hội đủ mộc cục, thì không cần sinh mùa xuân, đa số là chủ nhân thọ. Mộc gặp kim chế, có hỏa phục nung kim, thì thành cương nhu tương chế; nếu hỏa quá nhiều, thì thiêu cháy; kim quá nhiều, thì tổn hại; Thổ hư, thì không thể vun bồi; thủy phiếm lạm, thì không thể tư nhuận, kỳ diệu là ở trung hòa.

Người mệnh Thủy lấy Hợi Tý là gốc, lấy Dần Mão Thìn Tị là nạp, can gốc từ Bắc, quay về hướng Đông, cho nên mệnh thủy hỷ gặp Đông phương, thì sóng ngừng sóng phẳng lặng; thủy dựa vào thổ làm đê phòng, nếu sinh Hợi Tý, thổ nhiều thì cát; đã ở Đông phương, gặp thổ cũng cát. Thổ không nên nhiều, lại có Quý nhân, Tài Lộc, thì quý; nếu ngày giờ gặp Canh Thân, Tân Dậu, thủy kị chảy về Tây, e sợ thọ không cao; sinh ở thu đông, sinh vượng thanh trong, lúc này Nhâm Quý mà gặp Hợi Tý, chủ có văn học; lại nạp âm là thủy, thì thủy thái quá, trụ không có thổ đê phòng, là đoán ít con, duy chỉ làm nghệ thuật hoặc đi tu là cát; lại trọng phùng Cách Giác, định chủ hình khắc. Tháng màu Xuân can khát mà khô, mùa hạ nước đục mà chảy tràn lan, trụ không có thủy trợ thì không quý.

Hỏa cư ở Dần Mão, sinh ở mùa xuân, là mộc tú hỏa minh, vinh hoa phú quý; sinh ở mùa hạ thì thái viêm, trong trụ không có thủy, định là mệnh yểu, có thủy hơi quý; sinh ở mùa thu, hỏa tử kim thành, ẩn chiếu ánh sáng bên trong, ngày giờ là gặp vượng khí thì cát. Bởi vì thủy hỏa không sợ tử tuyệt, chỉ có không màng danh lợi; sinh ở mùa đông, trong trụ lại được hỏa trợ giúp, thì sương tuyết biến mất, núi sông ấm áp. Cổ nhân nói: Mùa Đông đáng yêu, mùa Hạ đáng sợ, là chỗ này vậy.

Thổ gặp đủ tứ quý, là Thượng quý. Như nạp âm toàn là thổ, trong trụ lại được chữ Dần là Cấn sơn, cũng quý. Thổ có thể tải dày, sinh sôi vạn vật, kim mộc thủy hỏa đều không có thể thiếu, cho nên bốn hành này, tất cả đều dựa vào thổ vậy.

Nói luận dụng ngũ hành, nhiều thì thái quá, ít thì bất cập. Khí, số, quá dư, không đủ, đều có thể dẫn đến hung; ức dương quy trung, mà sau đó nhận phúc. Công thành thì nên thoái tàng, tương lai là quý ở quang vinh.

Ngũ hành bẩm vượng là nói thành công; vượng mà có thể ngưng nghĩ, thì nói là Thoái tàng. Ngũ hành ở đất quan đới, thai dưỡng, khí thiếu mà chưa đầy, thì nói là Tương Lai. Cho nên muốn Mẫu Tử tương sinh, thì lấy kỳ ích khí, thì có đạo vinh tiến chấn phát.

Như không phải thời kỳ mộc, Suy thì cành thằng, Tử thì héo khô.

Kim vượng thái quá thì động lấy nhiều hung.

Viêm viêm thì quý ở tắt, không tắt thì có họa thiêu đốt.

Thao thao thì quý ở ngừng lại, không ngừng lại thì có họa bởi đắm chìm.

Hỏa hành đất Nam mà hóa nhiệt, nhiệt thịnh thì đốt cháy mãnh liệt mà hại vật, tới Dậu Hợi thì ngầm có hòa thuận, sau đó mà có thể sưởi ấm vạn vật.

Thủy hành đất Bắc mà hóa hàn, hàn thịnh thì quá lạnh mà giết chết vật, tới Mão Tị thì có thể thông dương khí, sau đó mà có thể sinh sôi vạn vật.

Lại có sinh mà không sinh, vượng mà không vượng, chỗ này là hung trước cát vậy; có tử mà không tử, tuyệt mà không tuyệt, chỗ này là cát trước hung vậy.

Như thủy thấy Mậu Thân thổ, chỗ này là sinh mà không sinh; thấy Canh Tý thổ, vượng mà không vượng, gặp chỗ này đa số thành mà lại bại, bởi vì hỷ mà lại lo.

Như thủy thấy Quý Mão kim, chỗ này là tử mà không tử; thấy Tân Tị kim, chỗ này là tuyệt mà không tuyệt. Ngũ hành khí tận mà được dức của phụ mẫu, để sinh ích lợi thì khí lại sinh, gặp chỗ này thì trong nguy mà có phúc, cùng mà thông, khuất mà thân vậy.

Sinh vượng quá quá thì trong phúc tàng họa, tử tuyệt thái quá, thì phúc không thể nắm.

Nếu nói Tử tuyệt phùng Sinh, họa có thể biến mất, trước hết là hỏa thổ, sau đó là kim thủy. Hỏa tuyệt được thổ viết là Duệ (Là hỏa lấy thổ Tử, hỏa tuyệt ở Hợi mà thấy Đinh Hợi thổ vậy); Thổ tuyệt được kim là Tử mà không mất, viết Thọ (là thổ tuyệt ở Tị mà được Tân Tị kim vậy); Kim tuyệt được thủy, thể lại được tinh (Là Kim tuyệt ở Dần, được Giáp Dần thủy vậy); Thủy tuyệt được mộc, hồn lại lên trời (Là thủy tuyệt ở Tị, được Kỷ Tị mộc vậy). Mộc tuyệt được hỏa, hỏa xuất ra mộc thành tro bụi, tro bay lửa tắt, cho nên chỉ thành hung (Là Mộc tuyệt ở Thân, được Bính Thân hỏa vậy) Xà Mã vô đảm có nghĩa là: Xà Mã là ở vị trí Tị Ngọ, mộc qua Tị Ngọ mà tử, mộc ở tạng thuộc gan, ở phủ thuộc mật, làm bằng chứng mộc tử là hung vậy.

Kinh nói: Mệnh thổ gặp hỏa sinh mà dần dần có lợi; mệnh thủy được năm kim sinh là sống thọ; Kim nhiều cần hỏa hoặc tòng cách để thành danh, mộc trọng được kim uốn mà nhận sai khiến Khúc Trực, thủy lưu không ngừng thì cần thổ để giúp đỡ, hỏa thịnh không có chỗ dựa duy chỉ có thủy để giúp đỡ.

Ngũ hành dụng đắc thích hợp, tuy là tương khắc mà thành phúc. Nếu dụng không thích hợp, tuy có tương sinh mà vẫn có họa.

Phàm ngũ hành sợ thái quá ngang ngược, như Lộc nhiều thì bần, Mã nhiều thì bệnh, Ấn nhiều thì , Khố nhiều thì bế tắc, sinh vượng nhiều không có chỗ quy về, tử tuyệt nhiều thì không có phấn chấn.

Ngũ hành không thể quá tổn thương, không thể quá thuần túy.

Quý nhân Mã nhiều, thì thăng chức; thường nhân Mã nhiều thì bôn ba ngược xuôi.

Muốn phá thì họa hại, muốn không thì không hết.

Chỗ thích thì không thể hủy, chỗ sợ thì không thể vượng.

Trước sợ sau thích thì phúc, trước thích sau lo thì họa.

Hợp nhiều không phát mà đẹp, Học Đường nhiều thì không thành;

Quý nhân nhiều thì hèn yếu mà không có lập chí, Lộc Mã quá hiển thì không thể lấy quý nhân luận;

Quý nhân trong ngoài có đủ, thì không thể lấy thường nhân mà luận;

Tứ trụ đều dương, khẩu ác mà tâm thiện; tứ trụ đều âm, là hung ngoan trầm độc.

Củng nên là Củng Mã, củng Lộc, củng Quý, củng Phúc thần, không nên củng Hình, củng Họa, củng Tuế, củng Thời, âm dương quý ở hợp nhau, bệnh thương phải có khắc chế.

Phàm mệnh, Bính Tân Nhâm Quý thấy Mậu Tuất, chính là Nhận Thương nắm đường gãy đổ.

Nhâm Tý, Bính Ngọ, Bính Ngọ, Nhâm Tý, chủ yếu là thủy mộc, là âm dương thuần túy, vị trí còn lại không có trợ giúp, cũng hết sức coi trọng; hơn nữa khí tú quý thì dung nạp đại đức là không có gì sánh bằng, là trượng phu vậy.

Ngày Mão Dậu là đất xuất nhập; cung Tý Ngọ, mới phân ra âm dương, gặp thì mệnh lui tới vô định, tuế vận cũng vậy.

Tị Hợi là đất lưỡng cực, trời đất hòa giải; Dần Thân là phương tam đình, gửi bước qua lại, như người gặp, đa số là không chấp nhất.

Sửu Mùi thì chậm chạp, Thìn Tuất thì nhanh chóng, phương gặp thì người nắm giữ quản lý, tính không thông biến. Thìn Tuất có khí, lại có thể kiến lập đại sự.

Người Bính Tý tứ trụ có Nhâm Dần, là Nhâm vào nhà Bính thì phá, không tốt.

Canh Tý thấy Canh Ngọ, là Ngũ Quỷ lâm môn;

Mậu Dần thấy Giáp Dần, Giáp khắc Mậu, Mậu Dần theo thế khắc Giáp Dần, là can chi nạp âm trên dưới bất hòa. Ngoại trừ có Phúc thần, mới thành lực phúc.

Quý Dậu thấy Mậu Dần, Mậu thổ khắc Quý thủy, lại khí kim hướng đất tuyệt, chỗ ở của Kiếp Sát Nguyên Thần. Ngoại trừ được trong nguyệt lệnh tú khí, mới có thể thành dụng, cũng xấu mà không tốt.

Canh Ngọ, Đinh Dậu là hỗ vượng hỗ phá, là vượng bị phá vậy, không thể hoàn toàn là phúc lực.

Kỷ Mùi, Tân Dậu tuy được Thực, nhưng quy về Tử địa, cuối cũng là xấu không tốt.

Ất Sửu, Ất Mùi, Canh Thìn, Canh Tuất thấy Mậu Dần, rất tốt, vận cũng vậy, 《Kinh》nói: Như được Canh kim giúp, Mậu Dần muốn tuyệt không tuyệt thành phúc lực.

Ất Mão thấy Mậu Dần, Mậu Dần thấy Ất Mão, là mệnh rất tốt.

Sách Đơn Dương nói: Ở trên ranh giới Tam Kỳ có hư thanh, ở trong tử tuyệt lại tồn sinh vượng. Bởi vì tam hợp tam kỳ, không hợp nguyệt phần thì không quý. Như Giáp Mậu Canh, có giờ Tý Ngọ mới quý; Ất Bính Đinh, có giờ Dần Mão mới quý.

《 Sách Thiên Nguyên biến hóa 》nói: Ất Bính Đinh thích Dậu Hợi, lại xem nạp âm có hay không có can thiệp.

Lại nói: Phàm Tam Kỳ, tam hợp, kèm theo trong nguyệt lệnh gặp tú khí, là nhập quý cách, cũng không tránh khỏi làm con nuôi hoặc làm con rễ.

Lại nói: Phàm mệnh thấy tam hợp, tam kỳ, mà gốc năm không mang Tứ Mạnh. Sinh mà được Tứ trọng, Tứ quý. Tháng ngày giờ tứ trọng, tứ quý luận giống vậy, Cùng Thai tháng ngày hỗ hoán, can hợp hoặc lục hợp mà bản mệnh không mang, tất cả ngày đều gọi là Điệu Thái tuế, đa số chủ xa tổ cô lập, là người ít trợ giúp, không đắc lực, lại thích hợp với nghĩa ở Hợp mà lập vậy, quý mệnh thì đa số dựa vào mà thăng tiến.

Phàm tứ trụ kèm theo Tam Kỳ, tam hợp là bản thân nếu không phải là con nuôi vợ thứ, thì tương lai con cái tất có người làm con nuôi, con theo mẹ.

Cổ thơ nói: Tam hợp cùng Tam Kỳ, xin đẹp lại béo phì, không là con nuôi, thì cũng là con theo mẹ.

Phàm mệnh, trước 5 thần là Trạch xá, nếu gặp có khí và cát thần đến, chủ có nơi ở tốt, thuộc nhà quý tộc to lớn, con cháu hiển sáng.

Ví dụ như người Giáp Thân, trạch xá ở Sửu, sinh tháng 12, trụ được Thiên Ất gọi là cát trạch. Nếu chỗ vô khí, cùng hung thần đến, chủ trạch hư hao, phá hoại không còn, không có tổ nghiệp.

Hoặc như người Canh Ngọ, trạch xá ở Hợi, tuần Giáp Tý Hợi lạc Không Vong, lại gặp Kiếp Sát đến là hung. Còn lại chuẩn theo chỗ này mà suy.

Mệnh sau một thần gọi là Phá Trạch Sát, nếu như ở trong Phá trạch, chủ không có sản nghiệp tổ phụ, hoặc khách chết ở đất người.

Lại xem Trạch nạp âm, cùng với bản mệnh nạp âm tương sinh thì cát, trạch khắc thân thì được trạch tốt, thân khắc trạch tất phải phá tán. Ví dụ như Giáp Tý kim, lấy Kỷ Tị mộc là Trạch, sinh tháng 2, thuộc trạch vượng, có hợp trạch là tốt, lấy thân khắc trạch, nên sau phá sản.

Mậu Ngọ hỏa lấy Quý Hợi thủy là trạch, sinh tháng 9, trạch là quan đới; sinh tháng 10, là trạch kiến lộc; sinh tháng 11, là Trạch vượng, lại gặp Trạch sinh khắc thân, tất được trạch tốt. Nếu trong Trạch sinh Quỷ vượng, có Quan thì cát, không có Quan thì hung.

Phàm lộc mệnh tuy có hưu vượng, lại xem Trạch, để biện cát hung.

Thẩm Chi nói: Trạch sợ phạm phá.

Như người Giáp Tý lấy Kỷ Tị làm Trạch, như phạm chữ Hợi, là Trạch bị phá, gốc mệnh khá suy, Thái tuế xung năm cũng cần phá, cần phải giỏi mới có thể đoán, như người Bính Tý được Tân Tị kim là Trạch, gặp loại lưu niên Ất Hợi là đúng. Mệnh tốt, cũng cần thay đổi được động, mới ứng.

Phàm mệnh, sau 5 thần gọi là Điền Viên, nếu cư ở đất có khí, lại có Phúc thần lâm thì chủ điền viên dư đầy, kho tàng phong phú. Ví dụ như lệnh người Giáp Tý, Điền viên ở Mùi, sinh tháng 6, thổ thừa vượng khí, lại gặp Thiên Ất quý là cát. Nếu gặp đất vô khí, lại có hung thần đến, chủ điền viên tích trữ ít, kho tàng hư không. Ví như mệnh Mậu Tý, điền viên ở Quý Mùi, sinh tháng 6 tuần Giáp Thân, Mùi lạc Không vong, còn lại theo chuẩn này suy.

《 Quỷ Cốc di văn 》nói: Mã không có hại (Tài phá), Lộc không có quỷ (Quỷ khắc), Thực không có Vong (Không vong), chi hợp không có gốc (Nguyên thần), Can hợp không có tai ách (Lục Ách), vượng không có tang (Tang Môn), suy không có điếu (Điếu Khách), thê không có Nhận (Dương Nhận), Tài không có phi (Phi Liêm), mạnh không có cô (Cô thần), quý không có quả (Quả tú), thể trọng cần Quỷ, Lộc trọng cần Quan. Phu cần ít, Thê cần gấp bội, cát cần hiển nhiên, hung cần chìm mùi, can chi bất hòa mà bế tắc, vợ chồng thất thời mà hung. Tứ trụ chủ bản, Lộc Mã tới lui qua lại, cần phải phân ra phá lập, Thiên Ất phù trì, nắm đức là xung. Lại biện quý tiện, có căn mà không có mầm quả, bần mà còn được ăn ngọt; bản khí tuyệt mà hoa tốt, dẫu có con mà vị quá kém. Nếu quý thần chủ vị, chư sát phục tàng, tam nguyên vượng tướng, sao chuyên thần sát?

Trong mệnh dụng Sát, lấy ngũ hành làm gốc, như ngũ hành đắc địa không có quý, Sát mà cũng quý, dù có ác sát thì việc là vô hại; nếu ngũ hành không đắc địa, dẫu có cát Sát, cũng phát không lâu, như hoa trong mùa Đông vậy.

Nạp âm , là vũ điệu của trời đất vậy. Dịch Mã, Học Đường, cư ở vị trí Trường Sinh, tài năng quan chức ở đất vượng tướng, chỗ văn chương phú quý ở đất Ấn khố. Như gặp suy bại, thì giảm 1/3; lại gặp tử tuyệt thì mất 1/2. Thiết kị Không vong, xung khắc, không thích hợp gặp hình hại sẽ mất hết. Cho nên Đồng nguyên tương thành (thuận số là ở trên, tạp số là tiếp theo, Đồng nguyên tương thành là số thật ở trên ứng với số tiếp theo), thì vũ điệu của trời đất đầy đủ, cơ bản là cường tráng; Đồng loại tương thương (như loại Đinh Mùi hình Đinh Sửu), thì thần khí tán, lý là không có ghép lại.

Quản Lộ viết: Ngũ hành hỗ tương cùng vượng, tuy xung nhưng khí vẫn còn; Ngũ hành tương khắc, tuy hợp mà khí tán, chỗ này xưng gọi là vậy.

Hoặc hỏi: Cả đời người có thủy chung, công danh phú quý, một khi quật khởi, bỗng nhiên phát triển nhanh chóng; có thủy chung bị tróc ra từng mảng, mà được phấn phát; có trở ngại nữa đời mà về sau lại thành tựu, là tại sao vậy?

Đáp viết: Chẳng ai là không có số mệnh vậy. Từ đầu đến cuối phú quý, chính là trong trụ thân chủ chuyên vượng, chỗ dụng cát thần, hoặc Quan Ấn, Tài Thực, tất cả đều được lệnh kèm theo lộc, không thiên lệch không thành đảng, không có hình xung khắc hại, bước vào cửa hành vận, các bước đều cát, cho nên có thể thành tài năng chấn động, nối tiếp cơ nghiệp của tiền nhân để lại, lập nên công danh to lớn, không gây ra phỉ báng, không dần đến thương hại, chung thủy giữ gìn, mệnh vận là sinh vượng, thể dụng là rất kiên cố vậy.

Một khi quật khởi, bỗng nhiên phát triển to lớn, là do chỗ trong trụ có dụng quý thần, tất cả được vị trí đón vượng, lại còn hợp cách, làm sao mà nhật chủ không có lực, không thể thắng mà nhận phúc, cho nên khốn khó không có; bỗng chốc gặp vận tốt sinh phù nhật chủ được cường kiện, nguyên mệnh dụng thần, mới là ta dụng, ta vì đến đón, hổ gầm gió sinh, đại phát phú quý, là do thiên khí đón thuận hòa, suy mà gặp vượng, cho nên đón cát mà phát, trước sau khác xa.

Cũng có Nhật chủ cường vượng, ngũ hành Sát thuần không tạp, làm sao gốc rễ vốn không có chế phục, phú quý không thành, duy chỉ đợi đến vận, chế phục Sát thần, hóa thành quyền bính, công danh hiển đạt, xuất ra siêu quần, chế thần lực vượng, phát phúc phi thường, cho nên hưng phát, từ bần tiện mà đến cực phẩm, hoàn toàn là do hành vận đắc địa, mới thấy hưng thịnh; như vận không đến, tức là thường nhân vậy.

Từ đầu đến cuối phấn phát, mà ở giữa rơi rụng, chính là trong trụ nhật chủ kiện vượng, dụng thần cũng vượng, tất cả lực lượng quân bình, là người hiền tài con nhà giàu có lầu vàng cửa son, đến khi trưởng thành, phải gặp sao tốt, nếu đại vận cộng thêm nguyên mệnh, thấy Tài là đoạt, vì quan mà bị hại, đến Ấn mà phá hư, gặp Thực mà có có Kiêu. Gặp ranh giới vận này, họa không thể nói hết, cho nên năm thịnh thấy nghiêng mà không phát; như một khi khử ác vận, lại gặp vận tốt phù trì, khiến cho dụng thần hoàn toàn đổi mới. Thí dụ như Khô miêu đắc vũ bỗng nhiên hưng phát, như lông hồng gặp gió cứ bay lên thẳng, không thể điều khiển vậy.

Nếu nửa đời trục trặc, về già thành tựu, chính là tứ trụ thân cường, Dương Nhận Tỉ kiên tất cả đều tranh vượng. Duy các loại Tài Quan Sát thần đều hư phù, nhẹ, ít, không có lực mà thành công danh, ra cửa hành vận, lại không lấy đất phúc, cho nên cả đời cơ hàn, lao khổ, thằng đến lúc về già, bỗng gặp vận tốt, bổ túc cho các loại Tài Quan Sát thần, thành Giả Sát vi quyền, chế phục Dương Nhận, hoặc được quyền quý mà hiển dương, hoặc khởi sinh Tài mà phát phúc, nên tùy theo ngũ hành thanh trọc, lấy chỗ gặp vận mà phân biệt.

Than ôi! có mệnh cùng thông phú quý là do trời, Khổng Tử có nói là vậy, sao người có trí lực có thể di dịch ư!

Hoặc hỏi hưng vong sinh tử?

Đáp viết: Phàm trong sinh mệnh có Sát là dụng, Sát thần không có chế thì là người Bạch ốc cùng đường, hoặc là người giàu có tuyệt luân, phải gặp vận chế phục, Giả Sát mà hưng thịnh, nhất thiết không thể thoát khỏi chế phục. Vận một khi nhập đất Tài, Tài có bè đảng cùng Sát, lại gặp ở llưu niên, là Tài Sát trợ vượng, hợp lực thành tai ương, thân chủ bị cô hàn khắc hại, nhẹ thì khuynh gia bại sản, nặng thì hình khí bản thân. Sát thần cùng hợp, hung vong đáng sợ như vậy. Dương Nhận luận giống vậy.

Lại có trong trụ Nguyệt lệnh là chính khí Quan tinh, là cả đời phú quý, duy chỉ gặp Tài Ấn thì có lợi cho Quan tinh, hỷ Tài vượng, lấy Ấn sinh vượng để bảo vệ, cho nên người có thể hành nhân bố đức, trị quốc kinh bang, quyền trọng tước cao; về sau Sát thần đắc vị, Tuế Sát cùng lâm, Quan hóa thành Quỷ, tất phải tang thân vậy. Không hành Sát vận, hoặc hành Thương quan vận, lại không có Ấn cưỡng chế, Thương quan đắc địa, quý lộc gặp tổn hại, làm tang thê khắc tử, bãi chức sinh tai; lại gặp lưu niên cùng đảng với nó, tất dẫn đến thân vong thảm ác. Như có trí tuệ cao kiến, biết cơ tiến thoái tồn vong mà bảo trong thân, không gặp sai trái, bản thân cũng gặp bệnh hiểm nghèo mà chết.

Lại có trong trụ chỗ chuyên dụng thần không có khí Quan Sát, duy chỉ có Thiên Chính Tài vượng, Tài thần nắm quyền, kín đáo hưng thịnh, tích tài tụ phú, nhưng thiếu quý mà thôi. Lại xem hành vận như thế nào? Như gặp đất Quan Lộc vượng, phú quý song toàn; giả như có bất hạnh, Tài thần thoát cục, Dương Nhận tương phùng, lại gặp lưu niên xung hợp Dương Nhận, Tài thần thương tận, nguyên mệnh suy tuyệt, Dương Nhận sinh họa, tất là bại vong vậy.

Sinh Tử thì lấy cách cục mà luận:

Như Ấn thụ thấy Tài, hành Tài vận, hựu kiêm tử tuyệt, tất phải nhập hoàng tuyền, trụ có Tỉ kiên, để hầu có giải.

Chính Quan thấy Sát và Thương quan, hình xung, phá hại, hợp cùng tuế vận tất chết.

Chính Tài, Thiên Tài thấy Tỉ kiên phân đoạt, Dương Nhận kiếp tài, tuế vận xung hợp, tất chết.

Cách Thương quan, Tài vượng thân nhược, thấy nhiều Quan Sát, hỗn tạp xung Nhận, tuế vận lại thấy tất chết, có chế thì cũng thương tàn.

Củng Lộc, Củng Quý, điền thực, lại thấy Quan Sát, Kiếp Vong, Xung Nhận, tuế vận cùng thấy tất phải chết.

Nhật Lộc quy thời, hình xung phá hại, thấy Thất Sát, Quan tinh, Không Vong, xung Nhận, tất phải chết.

Sát Quan đại kị cùng hợp với tuế vận, tất chết.

Hợ cùng nhiều cách, kị Sát cùng điền thực, tuế vận cùng lâm, tất chết.

Hội nhiều hung thần, ác sát, câu giảo, nguyên thần, vong thần, kiếp sát, điếu khách, mộ bệnh, tử cung chư sát, thì thập tử nhất sinh.

Tài Quan quá nhiều, thân nhược; gốc phạm Thất Sát, thân khinh. Như nhật can Bính Đinh, năm tháng giờ có Canh Tân lại thêm vận Dậu, hoặc năm Canh Tân, tất chết; Nhật can Giáp Ất, tháng giờ Canh Tân xen tạp. Tuế vận thấy Canh Tân, tất chết. Nếu có cứu, thì cát; không có cứu, định hung.

Thần Sát ngũ hành, kim nhiều yểu chiết; thủy thịnh phiêu lưu; mộc vượng thì yểu; thổ đa si ngốc; hỏa nhiều ngu ngoan; thái quá, bất cập, đều lấy chỗ này luận.

Một là không thể câu nệ, hai là cần phải không ngại, cầu kỳ sinh tử, quyết định không có sai.

Về phần ngũ hành sinh tử như ngày Nhâm sinh ở tháng hai, hành trung vận, tất chết; sinh ở tháng bảy, hành Mão vận, tất chết. Chính là gặp sinh sợ tử, đã tử sợ sinh, tạo hóa cùng với nhân sự là một vậy, cần phải hợp lại mà xem.

(Nguồn: sưu tầm từ diễn đàn Huyền Không Lý Số)

Trusted by some of the biggest brands

spaces-logo-white
next-logo-white
hemisferio-logo-white
digitalbox-logo-white
cglobal-logo-white
abstract-logo-white
white-logo-glyph

We’re Waiting To Help You

Get in touch with us today and let’s start transforming your business from the ground up.