UYÊN HẢI TỬ BÌNH TOÀN TẬP

Tác giả: Từ Đại Thăng (Trung Quốc)
Người dịch: Hùng804

Tựa

Lý lẽ Uyên Hải Tử bình, bắt đầu có từ Đại phu Lý Công Hư Trung thời nhà Đường, lấy năm tháng ngày giờ người sinh, sinh khắc vượng tướng, hưu tù chế hóa, quyết định cả đời, ứng nghiệm như thần vậy. Cùng với các chư vị họ Công, Hoăng, Xương, Lê, Hàn, Công làm ra tác phẩm Mộ chí để ghi nhớ, sau đến Lữ Tài đại phu lại chế định, cũng không kể ra ai là tác giả. Đến thời Tống có Từ Đại Thăng lại lấy nhật chủ con người sinh phân ra làm lục sự, nghị luận tinh vi, ý là tập hợp lại nhiều nhà nho làm ra sách 《 Uyên Hải 》, truyền bá cho đến nay, biết tất cả tổ tông. Về sau có nhiều nhà, sao lục tập Uyên Nguyên, phụ họa nghĩa lý văn chương, cho đến nay đã mấy trăm năm rồi. Bản tịch sai lầm có Hợi heo lỗ ngư, nghĩa lý học giả ít biết. Thời Kim Đường vua khen ngợi làm nghi lễ thỉnh cầu tinh thông lý lẻ này, lấy hai sách hợp lại, thêm khẩu quyết, đúng là sai lầm bịp bợm. Ôi! không treo bình mà hóa gậy, ai có thể dễ dàng thay đổi. Hành khắc hậu thế, để kẻ học sau, không thể phạm tới người xưa. Thành sách, chỉ có thời Đường, ghi chép ngoài còn lại để dẫn.
Sùng Trinh (niên hiệu của Vua Tư Tông thời nhà Minh bên Trung Quốc, công nguyên 1628-1644), Đầu mùa Đông năm thứ 7, ngày tốt khắc trùng.

Quyển một (1).
Luận Bắt nguồn chỗ sinh ra ngũ hành
Bởi do trời đất chưa phân ra, lúc đang còn hỗn độn; Càn Khôn chưa phân chia, gọi là Phôi thai; chưa sinh ra Nhật Nguyệt Tinh Thần, âm dương nóng lạnh cũng chưa phân ra vậy. Ở bên trên thì không có mưa sương, không có mây gió, không có sương tuyết, không có sấm chớp, chẳng qua chỉ là một màn u tối. Ở bên dưới thì không có cây cỏ, không có sông núi, không có cầm thú, không có con người, chỉ là cảnh tượng tối đen âm u. Lúc kết thành Nhất Khí, vì vậy Thái Dịch sinh thủy ( chưa có khí gọi là Thái Dịch ), Thái Sơ sinh hỏa ( có khí nhưng chưa có hình gọi là Thái Sơ ), Thái Thủy sinh mộc ( có hình chưa có chất gọi là Thái Thủy ), Thái Tố sinh kim (có chất chưa có thể gọi là Thái Tố ), Thái Cực sinh thổ ( chính là hình thể đã có đầy đủ gọi là Thái Cực ). Do đó, thủy số 1, hỏa số 2, mộc số 3, kim số 4, thổ số 5. Đến lúc này Tam Nguyên đã Cực, hỗn độn nhất phán, chính là phôi thai chia ra. Thanh nhẹ là Thiên, Trọc nặng là Địa. Nhị khí cùng hỗ trợ nhau, đã phát sinh Lưỡng Nghi, hóa mà thành thiên, bắt đầu từ chỗ này vậy. Hoặc đầu chim mà hình người, hoặc là đầu người mà thân rắn. Không có thèm muốn, không có danh tính, không có quốc gia, không có quân thần. Sống thành đàn, ăn lông ở lỗ, cho dù mưa gió, thân sơ họ hàng như nhau, không biết cha con. Không ăn ngũ cốc, ăn lông uống máu, cùng sống vui vẻ. Đến khi thánh hiền xuất hiện ( xưng là Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế ), phân ra hai ngôi trí tuệ và ngu dốt, rồi nảy ra quân thần phụ tử, quy định nghi lễ áo quan. Than ôi! bỏ Đại đạo mà sinh gian trá, yêu quái xuất hiện. ( là lúc trời mở ra ở Tý, đất mở ra ở Sửu, người sinh ra ở Dần, nghĩa là bắt đầu lập ra trời đất. Vạn vật thì sinh ra, gian trá cũng bắt đầu, yêu quái cùng xuất hiện. )
【 Lời giải thích: “Hỗn độn phôi thai”, là lời nói ví von giống như con gà con, chưa rõ thanh hay trọc.”Hợp lại chồng chất”, hình thù hỗn độn đều không phân biệt.”Nhất phán, nãi phân”, ý là đã có trời đất. “Trác”, là miệng con chim vậy.”Sào xứ huyệt cư”, là kết tổ ở trên cành cây, thân thể là theo ở trên trời.”Ẩm huyết như mao”, không có lửa, phải ăn vật tươi sống. “Yêu quái”, gọi là thần Xuy Vưu

Luận chỗ sinh ra thiên địa can chi
Thiết nghĩ sinh ra gian trá, sinh ra yêu quái. Thời Hoàng đế có thần Xi Vưu nhiễu loạn, lúc này là, Hoàng Đế rất khổ cựa lo lắng cho dân, liền chiến đấu với Xi Vưu ở nơi Trác Lộc ( Trác Lộc, là tên một Quận). Máu chảy trăm dặm, không thể cai trị ( thời Đế thủy chế tạo binh khí ), Hoàng Đế bèn lập đàn trai giới cúng tế trời đất, lễ nghi ở trên gò đất. Trời bèn giáng xuống Thập Can ( tức là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý ), Thập nhị Chi ( tức là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi ). Vua bèn đem hết Thập can sắp xếp thành hình tròn, tượng hình là trời; thập nhị chi đem xếp thành hình vuông, tượng hình là đất. Mới lấy can là trời, chi là đất, hợp lại làm cửa ải để dựa vào đó mà cai quản, sau đó liền cai trị được vậy ( chỗ này là sinh ra Thập Can, Thập nhị Chi vậy). Từ đó về sau có họ Đại Nạo, là người đời sau lo âu nói: Ô hô! Hoàng Đế là Thánh nhân, không thể không chú trọng trừng trị ác sát, vạn nhất hậu thế sẽ thấy tai họa mà bị khổ, phải làm sao đây! Vì thế nói đem Thập Can, Thập nhị Chi phân phối thành Lục thập Giáp Tý.
Thập thiên can chỗ thuận âm dương:
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm
Giáp Bính Mậu Canh Nhâm thuộc dương, Ất Đinh Kỷ Tân Quý thuộc âm.
【 Lời giải thích: “Vua bèn đem Thập can xếp thành vòng tròn, tượng hình là trời; thập nhị chi xếp thành hình vuông, tượng hình là đất”, ở chỗ này bắt đầu nói đến trời tròn đất vuông. 】
Chú thích: Chỗ này có đồ hình thiên can và địa chi.

Thiên can tương hợp
Giáp và Kỷ hợp ( Giáp thuộc mộc, Kỷ thuộc thổ, mộc lấy thổ làm thê tài, cho nên được hợp ), Ất và Canh hợp, Bính và Tân hợp, Đinh và Nhâm hợp, Mậu và Quý hợp ( ý tương hợp giống như ở trên).
Lời giải thích: Giáp đếm thuận tới Kỷ, được hợp thành Lục Âm, nói số đảo nghịch thuận, còn lại làm theo chỗ này. 】
Luận Thập can chỗ thuộc phương vị chỗ thuộc thập nhị chi
Giáp Ất mộc thuộc Đông phương ( Vị trí Dần Mão Thìn là Đông phương, tượng là Thanh Long), Bính Đinh hỏa thuộc Nam phương ( vị trí Tị Ngọ Mùi là Nam phương, tượng là Chu Tước), Mậu Kỷ thổ chủ Trung Ương ( vị trí Thìn Tuất Sửu Mùi, tượng là Câu Trần, Đằng Xà), Canh Tân kim thuộc Tây phương ( vị trí Thân Dậu Tuất là Tây phương, tượng là Bạch Hổ), Nhâm Quý thủy chủ Bắc phương (vị trí Hợi Tý Sửu là Bắc phương, tượng là Huyền Vũ).
Đúng thời Đại Nạo tuy là lấy Giáp Ất thuộc mộc, Bính Đinh thuộc hỏa, Mậu Kỷ thuộc thổ, Canh Tân thuộc kim, Nhâm Quý thuộc thủy. Còn lấy chi Dần Mão thuộc mộc, Tị Ngọ thuộc hỏa, Thân Dậu thuộc kim, Hợi Tý thuộc thủy, Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ, lý này nghĩa là sao vậy?
Hoặc viết: Đông phương có thần Thái Hạo, nhận cung Chấn nắm giữ quy tắc điều khiển mùa Xuân, sinh ra lòng nhân ái và hòa thuận, vạn vật phát sinh, cho nên mộc bắt đầu từ ở chỗ này, cùng với Giáp Ất Dần Mão vậy.
Nam phương có vua Thần Nông, nhận cung Ly nắm giữ mùa Hạ, sinh ra mặt trời xinh đẹp khốc khí, vạn vật đến chỗ này đều như nhau, cho nên lý do hỏa ở đây, cùng Bính Đinh Tị Ngọ vậy. ( mùa Hạ chủ nuôi dưỡng vạn vật, cây cối xanh tốt rậm rạp, tất cả đều nhờ công đức của hỏa vậy. )
Tây phương có thần Thiếu Hạo, nhận cung Đoài nắm giữ mùa Thu, khí sinh yên tĩnh mà xơ xác tiêu điều, vạn vật đến chỗ này đều thu lại, cho nên lý do kim ở đây, cùng Canh Tân Thân Dậu vậy. ( khí mùa Thu là kim như đao, khí khái tiêu điều xơ xác, cây cỏ đều điêu tàn, lúc khí thành thục thu vào. )
Bắc phương có thần Chuyên Đế, nhận cung Khảm nắm giữ mùa Đông, khí phát sinh ngưng kết chặt chẽ, vạn vật đến chỗ này đều ẩn tàng, cho nên lý do thủy ở đây, cùng Nhâm Quý Hợi Tý vậy.
Trung Ương có thần Hoàng Đế, nhận cung Khôn thổ nắm giữ ở giữa, huống chi mộc hỏa kim thủy tất cả đều không thể không có thổ, cho nên đem Mậu Kỷ ở Trung Ương, Thìn Tuất Sửu Mùi phân tán ra bốn góc, chiếm lấy tất cả. ( Tứ Duy ( là bốn góc), tháng 3 mùa Xuân, tháng 6 mùa Hạ, tháng 9 mùa Thu, tháng 12 mùa Đông. )
Hà Công luận viết: Nếu trời không có thổ, không thể tròn che chở ở trên; nếu đất không có thổ, không thể dày lớn mà tải đầy đất, mà không sinh ngũ cốc; người nếu không có thổ, ở trong không thể di chuyển, không lập ngũ hành ( nói Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín là ngũ thường, kim mộc thủy hỏa thổ là ngũ hành ). Chỗ này Tam Tài không thể thiếu thổ vậy (Tam Tài còn gọi là Thiên Địa Nhân ). Mộc nếu không có thổ, không có lực tái bồi; hỏa nếu không có thổ, không thể chiếu sáng khắp bốn phương; kim nếu không có thổ, khó thành khí sắc nhọn; thủy nếu không có thổ, sóng không thể ngập tràn đê; thổ nếu không có thủy, vạn vật không thể nuôi dưỡng. Cho nên chỗ này ngũ hành đều không thể không có thổ. Bởi thế thổ ở Trung Ương, phân tán ra bốn góc, mà thành lập ngũ hành vậy.
【 Lời giải thích: Giáp Ất mộc màu xanh, Bính Đinh hỏa màu đỏ, Mậu Kỷ thổ màu vàng, Canh Tân kim màu trắng, Nhâm Quý thủy màu đen. Mộc chủ Nhân, hỏa chủ Lễ, kim chủ Nghĩa, thủy chủ Trí, thổ chủ Tín.”Thái Hạo”, là vua Phục Hi.”Chuyên Đế”, là vua Cao Dương, xưng là Hoàng Đế. Thổ màu vàng, Hoàng Đế lấy đức tín cai trị thiên hạ, cho nên xưng là Hoàng Đế. Chỗ này là luận về Thập Can vậy. 】

Luận chỗ thuộc về âm dương Thập nhị Địa chi
Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm
Luận Thập nhị Chi lục hợp
Tý và Sửu hợp thổ, Dần và Hợi hợp mộc, Mão và Tuất hợp hỏa, Thìn và Dậu hợp kim, Tị và Thân hợp thủy, Ngọ và Mùi hợp hỏa, Ngọ là Thái Dương, Mùi là Thái Âm vậy.
Luận Thập nhị Chi tam hợp
Thân Tý Thìn thủy cục, Hợi Mão Mùi mộc cục, Dần Ngọ Tuất hỏa cục, Tị Dậu Sửu kim cục, Thìn Tuất Sửu Mùi thổ cục. ( thông thường xem mệnh lấy tam hợp thủ dụng làm cục nhập cách. )
Lời giải thích: Hợp cục là quý, nhưng ngũ hành phải thuận nhau. 】
Luận Thập nhị Chi tương Xung
Tý Ngọ tương xung, Dần Thân tương xung, Mão Dậu tương xung, Thìn Tuất tương xung, Tị Hợi tương xung, Sửu Mùi tương xung. ( Tý cung Quý thủy, Ngọ cung Đinh hỏa, cho nên thủy có thể khắc hỏa vậy. Dần cung Giáp mộc, Thân cung Canh kim, cho nên kim khắc mộc vậy. Lấy trong chi có ám hại là xung, còn lại theo chỗ này mà suy. )
Lời giải thích: Tương xung nhưng có được gặp hợp thì không thể xung.】
Luận Thập nhị Chi tương Xuyên ( còn gọi là Hại)
Tý Mùi tương xuyên, Sửu Ngọ tương xuyên, Dần Tị tương xuyên, Mão Thìn tương xuyên, Thân Hợi tương xuyên, Dậu Tuất tương xuyên.
【Lời giải thích: Tương xuyên là hại, phạm chỗ này là tổn hại lục thân, không lấy khó khăn trở ngại mà luận. 】
Luận Thập nhị Chi Tương Hình
Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Dần, gọi là hình thế; Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, gọi là hình vô ân; Tý hình Mão, Mão hình Tý, gọi là hình vô lễ; Thìn Ngọ Dậu Hợi, gọi là tự hình.