UYÊN HẢI TỬ BÌNH TOÀN TẬP

Tác giả: Từ Đại Thăng (Trung Quốc)
Người dịch: Hùng804

Giáp Tý, Ất Sửu là Hải Trung kim —— vì Tý thuộc thủy, lại là hồ nước, lại là đất thủy vượng. Gồm cả kim tử ở Tý, mộ ở Sửu, thủy vượng mà kim tử mộ, cho nên viết là Hải Trung kim ( vàng trong biển) vậy. Lại viết: Khí ở ẩn tàng, vật cực thì tiềm ẩn.
Lời giải thích: hình thể kim đi ở đường thủy, là tính nhược mà thể hàn. 】
Bính Dần, Đinh Mão là Lư Trung hỏa —— vì Dần là Tam Dương, Mão là Tứ Dương, hỏa đã đắc vị, lại lấy Dần Mão mộc sinh. Lúc này trời đất mở ra bếp lò lửa, vạn vật bắt đầu phát sinh, cho nên viết là Lư Trung hỏa ( lửa trong bếp lò) vậy. Trời đất là lò lửa, âm dương là than củi.
【 Lời giải thích: Hình hành dương, mà thế lực dần tăng, núi cao dựng thẳng mà dừng. 】
Mậu Thìn, Kỷ Tị là Đại Lâm mộc —— vì Thìn là vùng quê, Tị là Lục Dương. Thủy tới Lục Dương thì càng tốt lá xanh rậm rạp, vì đại lâm mộc xanh tốt mà sinh trưởng ở giữa vùng quê, cho nên viết là Đại Lâm mộc vậy (rừng cây cổ thụ). Âm thanh lan truyền lên chín tầng mây, khuynh hướng âm sinh vạn vật.
Lời giải thích: Rồng Rắn giấu hình, khí đang thành hình, vật đã lộ ra cây. 】
Canh Ngọ, Tân Mùi là Lộ Bàng thổ —— vì mộc có ở trong Mùi, vượng hỏa sinh ở bên trong Ngọ, hỏa vượng thì thổ nhận hình phạt ở chỗ này. Chỗ sinh thổ, chưa thể nuôi dưỡng vật, giống như Lộ Bàng thổ vậy ( thổ bên đường). Cùng với thời gian cường tráng, đủ dày mới tải mộc, mộc nhiều không thích.
Lời giải thích: hình thổ có chất, có vật thì có hình. 】
Nhâm Thân, Quý Dậu là Kiếm Phong kim —— vì là chính vị Thân Dậu kim, bao gồm cả Thân ở lâm quan, dậu là đế vượng. Kim đã sinh vượng, thì trở thành cương cứng vậy. Cương thì không vượt qua khỏi thanh kiếm, cho nên viết là Kiếm Phong kim ( Thanh gươm vàng) vậy. Hai ngôi sao Đẩu và Ngưu phát ra ánh sáng cầu vòng, gươm sắc ngưng tụ sương tuyết.
Lời giải thích: Nắm tính kiên cường, vật cần sinh vượng, chính là công thành không thoái lui sẽ tổn thương hòa khí. 】

Giáp Tuất, Ất Hợi là Sơn Đầu hỏa —— Vì Tuất Hợi là Thiên Môn, ngọn lửa chiếu sáng ở Thiên Môn, ánh sáng lên cao, cho nên viết là Sơn Đầu hỏa vậy (Ngọn lửa trên đỉnh núi). Ánh tà dương ở chân trời, mặt trời lặn ở đỉnh núi, tản ra đẹp đẽ vì phản chiếu, mây màu nở ra vốn là từ ánh sáng dư thừa còn lại.
Lời giải thích: Khí như khói mù che lấp ngọn lửa, như ánh sáng bay đáp lại quẻ Càn, quay lại trong ngưng nghĩ. 】
Bính Tý, Đinh Sửu là Giản Hạ thủy —— Vì thủy vượng ở Tý, suy ở Sửu, vượng mà trái lại suy, thì không thể thành sông lớn, cho nên viết là Giản Hạ thủy vậy ( đưa nước xuống khe suối). Dòng suối nhỏ chảy quanh núi, tuyết phun ra mà nước chảy xiết, khuynh hướng đổ sâu vào eo sông (chỗ hai quả núi kẹp dòng sông ở giữa), cho nên ví von như khe suối vậy.
Lời giải thích: hung ác ở lúc sinh vượng, địa vị đã nghĩ ngơi, khí đã thành vật.】
Mậu Dần, Kỷ Mão là Thành Đầu thổ —— Vì thiên can Mậu Kỷ thuộc thổ, Dần là Cấn là núi, thổ tích tụ mà thành núi, cho nên viết là Thành Đầu thổ vậy ( đất ở trên bức thành). Đá ngọc chồng chất ở kinh đô, Hoàng Đế ở trong lầu vàng, hình thể như Rồng uốn lượn bay đi nghìn dặm, thế lực dũng mãnh bốn phương vậy.
Lời giải thích: Thổ thích mộc khai thông, chắc chắn thành công. 】
Canh Thìn, Tân Tị là Bạch Chá kim —— Vì kim dưỡng ở Thìn, sinh ở Tị, thể chất mới thành, chưa có thể kiên cố, cho nên viết là Bạch Chá kim vậy (kim bạch lạp, đèn cầy). Khí dần dần phát sinh, kim suy nhược ở mỏ quặng, ánh sáng đến nghĩ ở Nhật Nguyệt ( mặt trời và mặt trăng), tượng khí âm dương ngưng tụ.
Lời giải thích: Kim bắt đầu bỏ đất Sửu, nên mẫu tử phân chia, tất nhiên thành lập, cần có hỏa để thành hình. 】
Nhâm Ngọ, Quý Mùi là Dương Liễu mộc —— Vì mộc tử ở Ngọ, mộ ở Mùi. Mộc đã bị tử mộ, dù có được thiên can Nhâm Quý thủy để sinh trưởng, cuối cùng vẫn là nhu mộc, cho nên viết là Dương Liễu mộc (cây Dương liễu). Vạn sợi dây tơ tằm nối nhau liên tiếp, như nghìn sợi tơ không có khâu lại.
Lời giải thích: Vật dương khí thịnh, thủy tế thành công. 】

Giáp Thân, Ất Dậu là Tuyền Trung thủy —— Kim lâm quan ở Thân, đế vượng ở Dậu, kim đã sinh vượng, thì thủy cũng được sinh, nhưng ranh giới giữa phương sinh, lực lượng không lớn, cho nên viết là Tỉnh Tuyền thủy vậy ( nước ở trong giếng). Khí dừng mà yên tĩnh, quá mà không kiệt, ra mà không tận.
Lời giải thích: Ổn định là tĩnh mà Thanh, rối loạn là động mà Trọc. 】
Bính Tuất, Đinh Hợi là Ốc Thượng thổ —— Vì Bính Đinh thuộc hỏa, Tuất Hợi là Thiên Môn, hỏa đã viêm thượng, thì thổ không ở dưới mà sinh, cho nên viết là Ốc Thượng thổ vậy ( Đất ở trên nhà ở). Do hỏa mộc còn sinh vượng, là theo thế mà tăng thêm, tới chỗ tử tuyệt, mừng để yên ổn.
Lời giải thích: Bởi thành quả che đậy tuyết sương, sự nghiệp chấn động lấn gió mưa. 】
Mậu Tý, Kỷ Sửu là Phích Lịch hỏa —— Sửu thuộc thổ, Tý thuộc thủy. Thủy ở chính vị mà nạp âm là hỏa, hỏa ở trong thủy, không phải Rồng thần thì không có, cho nên viết là Phích Lịch hỏa ( Lửa sấm sét). Thế điện chớp giật như kim xà, ý nói đội quân tinh nhuệ chạy rất nhanh, tượng biến hóa.
Lời giải thích: Khí ở Nhất Dương, hình cư ở mộc. 】
Canh Dần, Tân Mão là Tùng Bách mộc —— Vì mộc lâm quan ở Dần, đế vượng ở Mão, mộc đã sinh vượng, so sánh thì không có nhu nhược, cho nên viết là Tùng Bách mộc vậy. Khinh tuyết mà lấn sương, bao phủ đất mà che ngút trời cao, gió lay động biểu diễn tấu khúc nhạc, sau mưa bày cờ ra xem.
Lời giải thích: Hỏa vượng thì mộc ẩn tàng, chính là thích thủy để thấm nhuận.】
Nhâm Thìn, Quý Tị là Trường Lưu thủy —— Thìn là thủy khố, Tị là đất kim trường sinh, kim thì sinh thủy, tính thủy đã tồn tại, lấy khố thủy mà kim được sinh, cuối cùng nguồn nước không bị khô kiệt, cho nên viết là Trường Lưu thủy vậy (dòng nước chảy dài). Thế ở Đông Nam, quý ở yên tĩnh.
Lời giải thích: Đến bất tận, nạp vô tận. 】