Chu Dịch Trực Chỉ (周易直指)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
序 言易理闡述大道萬物 所及普遍到到處處周易直指為復性初 闡揚其理自性自度 老子在《 道德經》第四十章說:「天下萬物生於有,有生於無。」無者乃道的根源,經過生化演變而有世界萬物。今日我們生存人間,實是大道的一點作用,在無限的時空中穿越經歷,從何時起,終於何時,實讓人大惑不解。在這無盡的輪迴中,是甘是苦是福是禍,端看各人覺悟修為不同,而有不一樣的感受。雖然很多人都想過著幸福生活,但分分秒秒皆讓幸福離我們而去,卻不曾享有,使幸福變成空洞名詞,何曾是當下能實際的享有。雖然許多過往的聖哲,已經悟出人生的真諦,想要與世人分享,不斷的以各種方式傳達,或著經垂訓,或藉乩論述,但無智的愚者,仍是有看沒有懂,至今仍有多數人浸淫於苦海難以出離。 修道悟道都必須是親證,猶如欣賞美食難以填飽肚子,必須親嚐才知其味,是以想要在輪迴苦海中出離,必須在修心淨心上著手,而且必須徹底去探究,不可有一曝十寒的現象,那是很難有成就的。熟能生巧是古德明訓,世人想要回天歸於本位,就必須在尋根溯源下功夫。以今日世局的混亂來看,如無法靜下心來超越,當下已經糾纏不清,怎能看清時勢而解脫呢?逆水行舟是達於水源必要的方法,努力修道以淨心為要,必須將累世所造業力,一一清洗乾淨,才得以回歸毫無污染的無極理天。這過程是艱苦的,但是非常值得付出的,是以歷來修道士,無不在此中下功夫。《 周易》承自古易,經過連山易與歸藏易的改良,到了周文王才演化《周易》,其最重要的意義,是要我們循易理的演變,追溯回到源頭,找回自己的本性。雖然歷來許多研易者,拿來占卜以為趨吉避凶,或是用來指導升官發財,用在利益人間的生活上,也都有其顯赫的成果。但我們必須明白,世間生活再好,並非久留之地,壽命一到,都必須放下一切,否則只能帶業遺憾往生他方世界。因而必須要知道,此生此世來到人間,最大的成就和福報,並非升官發財,應該是淨化心靈親證佛道。 此《周易直指》的成書,是希望試著以易理來引導,使大家明白《周易》最大最好的功能和價值,是引導我們明理實修,認清人間乃性命磨練的場所,最終得以脫離六道輪迴,回歸九天(又稱無極理天)的至善地。是以在撰寫《周易探秘》的隨後,藉《周易直指》以理出直指心性之道,免於受到長篇大論的困擾,而找不到其真徑要道,是以此書直接說明,望能以簡單扼要的方式,釐清此路。此書的完成,感恩謝榮文老師提供許多寶貴資料,韋憲前賢及隆銓前賢撥冗校正,使本書錯誤減到最低,至為感謝。助印此書使能見於世面的各方大德,在此感恩並祝福,願上天諸佛菩薩保護如此的善心人士。並期待十方大德先進,後學錯誤之處,望祈指正。後學 癡翁 敬序西元二○一七年十月三十日(農曆106年9月11日)於台灣中和勤學齋
Nhan đề gốc: 周易直指 Tác giả: 癡翁 Năm: 2018 Chủ đề: 癡翁 · 蘇俊源 · 經典 · 多識界圖書 · mulitviews · 心靈館系列
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/multiviews-SoulHarbor-73/%E5%91%A8%E6%98%93%E7%9B%B4%E6%8C%87.pdf
Đánh giá
Tác giả ghi trên bản là Si Ông (癡翁), một biệt hiệu chứ không phải tên thật; cho tới nay chưa có căn cứ để định danh người này, cũng chưa rõ quê quán hay sự nghiệp trước tác ngoài cuốn đang xét. Năm 2018 nhiều khả năng là niên đại của lần in hoặc lần đưa lên mạng, không hẳn là năm thành thư, nên niên đại tác phẩm vẫn còn để ngỏ.
Tựa sách ứng với một dòng chú giải Kinh Dịch theo hướng nghĩa lý, nhưng phần dẫn nhập của bản lưu cho thấy nội dung không thuần túy kinh học Nho gia. Đoạn mở đầu dẫn chương bốn mươi của Đạo Đức Kinh, câu "hữu sinh ư vô", rồi nói tới luân hồi, nghiệp lực và Vô Cực Lý Thiên. Lối ghép Dịch lý với tu đạo và thoát khổ như vậy khiến cuốn sách gần với các trước tác của những phái tu hành theo hướng tam giáo hội thông hơn là với truyền thống khảo chứng của Nho học. Cũng phải nói ngay rằng đây là suy đoán từ chính đoạn văn tự thuật ấy; nếu không có thêm dữ kiện về bố cục và nguồn trước tác, không nên quy cuốn sách vào một hệ phái cụ thể nào.
Phần truyền bản càng mỏng. Mô tả hiện có không cho biết bản 2018 là in lần đầu hay tái bản, có dựa trên một bản thảo trước đó hay không, và giữa các bản in nếu có thì dị văn ra sao. Cách hành văn của phần tựa lại mang dấu vết của văn giáng bút và đàn khuyến thiện, tức loại văn bản thường được truyền qua các đàn hoặc cơ sở tôn giáo, nên con đường lưu hành của nó có thể khác với sách in thương mại thông thường, dù chưa có gì xác nhận.
Với người học Kinh Dịch, giá trị tham chiếu của cuốn này nằm ở chỗ nó cho thấy Dịch lý được tiếp nhận như thế nào trong môi trường tu đạo đương đại, chứ không ở chỗ cung cấp một bản chú giải có uy tín văn bản học. Ai muốn dùng nó để tra cứu huấn hỗ kinh văn nên tìm song song các bộ chú giải thuộc dòng Nho học truyền thống.