Dịch Kinh Toản Ngôn - Quyển 2 (易经纂言·卷二)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
Cuốn sách này là tập thứ hai của bộ 易经纂言, thuộc hệ thống Tứ khố toàn thư hội yếu, chuyên về kinh điển Dịch học thời Nguyên. Sách được chia làm hai quyển, tương ứng với hai tập ảnh in. Tác phẩm nằm trong phần 'Kinh bộ - Dịch loại' của bộ sách tổng hợp này, phản ánh việc nghiên cứu và chú giải Kinh Dịch. Nội dung chính tập trung vào việc phân tích các quẻ, hào và ý nghĩa triết học của Dịch học cổ đại. Tài liệu được sao chụp từ bản in trong kho tàng cổ thư, phục vụ cho việc tra cứu và nghiên cứu.
Nhan đề gốc: 易经纂言·卷二 Tác giả: (元)吳澄 Số trang (bản quét): 171 Chủ đề: 四庫全書薈要 · 经部 · 易類 · 元
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/06075275.cn/06075275.cn.pdf
Đánh giá
Dịch Kinh Toản Ngôn là bộ chú giải Kinh Dịch do Ngô Trừng (1249–1333) biên soạn, gồm hai quyển. Ngô Trừng tự Ấu Thanh, hiệu Thảo Lư, người Sùng Nhân (nay thuộc Giang Tây), là học giả lớn cuối Tống đầu Nguyên, nổi tiếng ở cả kinh học lẫn lý học; việc quy thuộc bộ này cho ông căn cứ trên đề tác giả ghi ngay trong bản lưu. Tuy vậy mức độ chắc chắn không hoàn toàn như nhau: các trước tác lớn của Ngô Trừng từng bị người đời sau nghi ngờ hoặc gán ghép đôi phần, nên khi dùng bản này cần đối chiếu với thư mục Nguyên sử và các sách đề yếu của Tứ khố.
Bản đang lưu là tập thứ hai, sao chụp từ bản in trong Tứ khố toàn thư hội yếu, phần Kinh bộ – Dịch loại, do đường Chỉ Tảo đường (摛澡堂) ấn hành. Cần phân biệt hội yếu với toàn thư: toàn thư và hội yếu là hai tuyển tập khác nhau, thành hình ở hai thời điểm khác nhau, và bản hội yếu nói chung giữ được tình trạng văn bản riêng của nó. Một bộ hai quyển bị tách thành hai tập ảnh in là chuyện thường gặp ở dạng sao chụp, nên tập đang có không tự chứa đủ để phán đoán toàn bộ truyền bản.
Người học Dịch đi vào bộ này thường vì muốn biết cách người Nguyên đọc Kinh Dịch sau thời Tống: Ngô Trừng đứng trong mạch chú giải lấy nghĩa lý làm trục, đối thoại với các nhà Dịch học Tống – Nguyên cùng thời và trước đó. So với các bộ chú giải cùng loại được thu vào Tứ khố, Dịch Kinh Toản Ngôn là một mắt lưới trong hệ thống ấy hơn là một đỉnh cao biệt lập, và giá trị tra cứu của nó nằm ở chỗ cho thấy một phương cách giải quái, hào của một học giả có thẩm quyền triều Nguyên.