Chu Dịch Kinh Truyện Tập Giải, quyển 11–13 (周易經傳集解)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
本书36卷,拆分成12册。 影印古籍 欽定四庫全書·經部一·易類
Tác giả: (宋)林栗 Số trang (bản quét): 146 Chủ đề: 四庫全書 · 經部 · 易類 · 宋
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/06070826.cn/06070826.cn.pdf
Đánh giá
Đây là phần Kinh bộ của bộ 周易經傳集解 do Lâm Lật người đời Tống soạn, được sao in trong 欽定四庫全書, xếp vào Kinh bộ nhất, Dịch loại. Bản đang lưu là tập tách rời gồm ba quyển mười một đến mười ba trong tổng số ba mươi sáu quyển của toàn thư; mô tả kho cho biết sách được chia thành mười hai sách nhỏ, và tập này là một trong số đó. Người biên soạn, Lâm Lật, sống vào khoảng giữa Nam Tống, từng giữ chức quan và có tiếng về học thuật, nhưng tiểu sử của ông còn nhiều chỗ chép khác nhau giữa các nguồn, nên việc quy thuộc tác phẩm này cho ông tuy được các thư mục truyền thống ghi nhận, vẫn nên đọc như một quy thuộc có cơ sở nhưng không miễn tranh luận.
Bộ 周易經傳集解 thuộc dòng chú giải Kinh Dịch theo lối tập hợp và dung hoà các nhà chú thích trước, kết hợp phần kinh với phần truyện thành một khối. Đây là dạng sách Dịch học khá phổ biến từ Bắc Tống trở đi, khi người soạn không dừng ở việc chú thích câu chữ mà muốn gom các truyền thống giải thích khác nhau lại trong cùng một bộ. Cách làm này đặt tác phẩm vào cùng mạch với những bộ Dịch loại đồ sộ được Tứ khố thu tập, đồng thời cho thấy tham vọng hệ thống hoá hơn là phát minh một lối đọc riêng.
Về truyền bản, những gì đang lưu hành chủ yếu qua bản khắc in trong Tứ khố toàn thư, vốn được biên tập từ các bản sách cũ thời Thanh. Con đường truyền của nó do đó không đi thẳng từ bản Tống mà qua ngả sách chép và sách in dưới triều Thanh, kèm theo những dị văn giữa các hệ bản mà người nghiên cứu văn bản Dịch học vẫn phải đối chiếu khi trích dẫn. Tập ba quyển ở đây là một đơn vị rời trong toàn thư, nên khi dùng cần xác định rõ vị trí của nó trong bố cục ba mươi sáu quyển thay vì coi như một tác phẩm độc lập. Với người học Dịch, giá trị của bộ sách nằm ở việc nó là một mắt lưới trong mạng chú giải thời Tống, giúp thấy được cách người đương thời tập hợp và chọn lọc các lối hiểu kinh điển trước đó.