Khâm Định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 16–17 (欽定協紀辨方書)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
本书36卷,拆分成23冊。 影印古籍 欽定四庫全書·子部七·術數類
Tác giả: (清)允祿; (清)梅榖; (清)何國宗 Số trang (bản quét): 207 Chủ đề: 四庫全書 · 子部 · 術數類 · 清
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/06067690.cn/06067690.cn.pdf
Đánh giá
钦定协纪辨方书 là bộ sách về trạch nhật và thuật số do triều đình nhà Thanh tổ chức biên soạn, mang hàm "ngự định" nên được xếp vào loại quan thư. Sách nằm trong Tứ khố toàn thư, bộ Tử, loại Thuật số, và bản đang lưu là phần quyển mười sáu đến mười bảy tách riêng theo cách chia nhỏ của bản ảnh ấn, trong khi toàn bộ có ba mươi sáu quyển. Đây là một trong những trước tác then chốt của truyền thống lịch pháp và trạch cát thời Thanh, đối tượng chủ yếu là các quy tắc chọn ngày lành theo can chi, lục thập giáp tý và các thần sát.
Ba tên đứng trên bản là Doãn Lộc, Mai Cốc và Hà Quốc Tông, đều là quan viên, học giả dưới triều Càn Long. Việc quy thuộc cho nhóm này nhìn chung được học giới chấp nhận, song cần lưu ý đây là công trình tập thể đặt dưới sự chỉ đạo của triều đình, không phải trước tác cá nhân thuần túy; sách hoàn thành vào khoảng giữa thế kỷ mười tám, gắn với dự án biên soạn Tứ khố toàn thư. Vai trò cụ thể của từng người trong nhóm biên soạn ít khi được phân định rạch ròi trong các bản mục lục.
Về truyền bản, bản lưu hành phổ biến là bản khắc trong Tứ khố toàn thư và các bản ảnh ấn về sau; ngoài ra còn có những bản in riêng và bản chép tay khác nhau, dẫn đến dị văn không đáng kể nhưng có thật giữa các hệ bản, nhất là ở phần đồ biểu và chú thích. Người đọc bản ảnh ấn cần phân biệt phần chính văn với phần khảo chứng, vì sách có kèm phần biện luận nhằm chỉnh lý những ngụy thuyết lưu truyền trong thuật trạch nhật dân gian.
Trong dòng thuật số, đây là bộ có tính hệ thống hóa cao, đặt cạnh các trước tác cùng loại như Hiệp kỷ biện phương thư thời Minh mà nó kế thừa và uốn nắn. Với người nghiên cứu lịch pháp, trạch cát hoặc lịch sử tư tưởng thời Thanh, việc biết tới bộ sách này là cần thiết vì nó phản ánh quan điểm chính thống của triều đình đối với một lĩnh vực vốn phổ biến trong dân gian, đồng thời cho thấy cách thức học thuật cung đình tiếp nhận và chuẩn hóa thuật số truyền thống.