Chu Dịch Hàm Thư Ước Chú, quyển 13–14 (周易函書約註)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
本书18卷,拆分成10冊。 影印古籍 欽定四庫全書·經部一·易類
Tác giả: (清)胡煦 Số trang (bản quét): 152 Chủ đề: 四庫全書 · 經部 · 易類 · 清
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/06064490.cn/06064490.cn.pdf
Đánh giá
周易函書約註 của Hồ Hú đời Thanh, bản đang lưu là quyển mười ba và mười bốn, rút từ bộ toàn thư mà triều đình biên tập, xếp vào Kinh bộ, Dịch loại. Đây là sách chú giải Kinh Dịch, như tựa cho thấy: "ước chú" nghĩa là lược chú, tức bản tinh giản so với trước tác đầy đủ của cùng tác giả là 周易函書. Việc triều đình thu nhận vào bộ sách quy phạm cho thấy nó từng được xem là một trong những bộ chú Dịch đáng lưu của thời Thanh, chứ không phải trước tác tư nhân bị bỏ ngoài.
Hồ Hú, tự Hiểu Thương, người Quang Sơn, Hà Nam, sống qua các đời Khang Hy, Ung Chính, từng giữ chức quan văn; ông để lại một hệ trước tác về Dịch học khá đồ sộ. Việc quy thư về Hồ Hú căn cứ vào đề tên trên bản và mục lục của bộ toàn thư, hầu như không có gì phải nghi ngờ, khác với không ít sách Dịch đời Thanh mà tác giả còn bị tranh cãi. Niên đại thành sách thường được đặt trong khoảng nửa đầu thế kỷ mười tám, nhưng căn cứ trực tiếp từ chính văn bản thì không đủ để chốt năm cụ thể.
Về truyền bản, đây là ảnh chụp của bản in trong bộ sách quy phạm, không phải bản khắc riêng lẻ. Một điều cần lưu ý với người đọc hôm nay: bản toàn thư gồm mười tám quyển, được chia thành mười tập, và tập đang lưu chỉ chứa hai quyển giữa. Muốn đối chiếu dị văn hay tra cứu toàn bộ lập luận của Hồ Hú, phải tìm đủ các tập còn lại; hai quyển này tự chúng không đứng độc lập về mặt văn bản. Ngoài ra, các bản in lại đời sau và các bản điện tử hiện hành có thể sai khác chữ nghĩa đôi chỗ, nhất là ở những đoạn bị mờ hoặc rách trong bản gốc.
Đặt trong dòng Dịch học đời Thanh, sách của Hồ Hú thuộc nhóm trước tác chịu ảnh hưởng lối chú giải lấy tượng số làm trọng, kết hợp với khảo cứu văn bản – một hướng khác với phái chuyên trị nghĩa lý. Người học Kinh Dịch hoặc tìm hiểu Dịch học triều Thanh cần biết tới nó như một mốc trong bộ sách quy phạm, đồng thời như một ví dụ về cách soạn lược chú trong thời đại mà việc tập hợp, hệ thống hóa trước tác được triều đình đẩy mạnh.