Công cụ

Cổ Chu Dịch Đính Cổ, quyển 12–16 (古周易訂詁)

✍ (明)何楷 🏷 Miễn phí
© Sách còn bản quyền. Học quán chỉ giới thiệu thông tin, lời giới thiệu và mục lục — không cung cấp bản đọc trực tuyến hay tải về. Xin bạn tìm mua bản chính thức để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản.
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.

Giới thiệu

本书16卷,拆分成8冊。 影印古籍 欽定四庫全書·經部一·易類

Tác giả: (明)何楷 Số trang (bản quét): 195 Chủ đề: 四庫全書 · 經部 · 易類 · 明

Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/06062976.cn/06062976.cn.pdf

Đánh giá

古周易訂詁 của Hà Khải (何楷, 1585–1646) là một trong những bộ Dịch học quy mô nhất đời Minh, thuộc nhóm trước tác lấy lại tên gọi 古周易 mà học giả đời Tống–Minh dùng để chỉ văn bản Kinh Dịch trước khi bị trộn lẫn truyện vào kinh. Công trình này đứng trong mạch ấy, tìm cách phục hồi diện mạo cổ bản thay vì theo lối bản hành thế. Đây là phần quyển mười hai đến mười sáu của toàn bộ mười sáu quyển, tức nửa sau tác phẩm; bản đang lưu là ảnh ấn của bộ 欽定四庫全書, kinh bộ Dịch loại.

Việc quy soạn cho Hà Khải tương đối vững. Ông tự Hi Nguyên, người Chương Châu, đỗ tiến sĩ đời Sùng Trinh, làm quan đến Lễ bộ Thượng thư, tuẫn tiết khi nhà Minh mất; ngoài 古周易訂詁 còn có 詩經世本古義. Sách được tứ khố toàn thư thâu lục, và mục lục quan phương ghi rõ tác giả. Tuy vậy giới nghiên cứu vẫn lưu ý rằng văn bản tứ khố đã qua tay quán thần hiệu đính và có thể bị cắt gọt hoặc sửa tự hình, nên không hẳn đồng nhất với bản gốc.

Toàn bộ 訂詁 có hai mươi một quyển theo một số nguồn thư mục, trong khi hệ thống bản in phân chia lại thành mười sáu quyển; chi tiết dung lượng và sự tách gộp giữa các bản là điểm còn chưa thật nhất trí trong thư tịch học. Bản số hoá này có 195 trang cho đoạn quyển mười hai tới mười sáu. Chữ Hán ở đây thuộc hệ tứ khố, cách viết và kiêng tự khác những bản khắc tư gia đời Minh, nên ai đối chiếu dị văn cần phân biệt rõ giữa bản cung đình và các bản khắc tự.

Với người học Dịch, 古周易訂詁 là mắt nối giữa truyền thống chú sớ Hán–Đường và lối khảo chứng đời Minh–Thanh; tác phẩm cho thấy cách người đương thời tranh luận về bản kinh, nên thường được dẫn khi bàn về văn bản học Kinh Dịch hơn là như một chú giải tân kỳ.