Chu Dịch tập chú (quyển 3~4)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
Cuốn sách này là bản in lại từ bộ Tứ Khố Toàn Thư, thuộc phần Kinh Bộ, loại Dịch học. Nội dung gồm các quyển từ quyển thứ ba đến quyển thứ tư của tác phẩm 'Chu Dịch tập chú', chuyên bàn về Kinh Dịch. Sách được biên soạn dưới triều Minh và hiện được lưu trữ dưới dạng ảnh chụp bản cổ.
Nhan đề gốc: 周易集註·卷三~卷四 Tác giả: (明)來知德 Số trang (bản quét): 183 Chủ đề: 四庫全書 · 經部 · 易類 · 明
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/06062892.cn/06062892.cn.pdf
Đánh giá
Chu Dịch tập chú của Lai Tri Đức là một trong những bộ Dịch học đồ sộ và có ảnh hưởng lâu dài của đời Minh. Lai Tri Đức (1525–1604), tự Hĩnh Tiên, hiệu Cù Đường, người Lương Sơn, Tứ Xuyên, đỗ cử nhân rồi lui về ở ẩn ba mươi năm chuyên tâm nghiên cứu Kinh Dịch; sách của ông thuộc khuynh hướng lấy tượng số làm trọng tâm, chủ trương "xem tượng mà luận lý", khác với lối chú giải nặng nghĩa lý của phái Trình Chu đương thời. Việc quy thuộc tác phẩm cho Lai Tri Đức được giới nghiên cứu nhất trí, ít có tranh cãi, tuy niên đại thành thư cụ thể vẫn chỉ suy đoán trong khoảng nửa sau thế kỷ XVI.
Bản đang lưu là ảnh chụp bản cổ in lại từ Tứ Khố Toàn Thư, phần Kinh bộ, loại Dịch, gồm các quyển thứ ba đến thứ tư của nguyên tác, tổng cộng mười sáu quyển và đã được chia thành chín tập trong lần ấn hành này. Cần lưu ý rằng Tứ Khố Toàn Thư là bộ sách do triều Thanh biên tập, nên văn bản ở đây là bản đã qua xử lý của thế kỷ XVIII, không phải bản in đời Minh; giữa các hệ bản còn có thể có dị văn, và người đọc nên đối chiếu với các bản khắc đời Minh nếu cần khảo dị.
Vị trí của bộ sách trong truyền thống Dịch học Trung Hoa khá đặc biệt: nó đại diện cho khuynh hướng tượng số dung hợp Ngu Phiên, Kinh Phòng với tư tưởng Tống Nho, và từng được các nhà Dịch học đời Thanh như Vương Phu Chi, Tiêu Tuần chú ý. Việc Tứ Khố Toàn Thư thu nhận trọn bộ cho thấy nó được triều đình nhà Thanh đánh giá là tác phẩm trọng yếu của Dịch học đời Minh, dù trong phần Đề yếu các biên tập viên cũng có lời phê bình về tính phức tạp của phương pháp tượng số mà tác giả áp dụng.