Chu Dịch Bản Nghĩa Thông Thích quyển 2 (Chu Dịch Bản Nghĩa Thông Thích·quyển nhị)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
Cuốn sách này là một phần của bộ 'Chu Dịch Bản Nghĩa Thông Thích', cụ thể là quyển thứ hai. Tác phẩm thuộc về lĩnh vực Kinh Dịch, được biên soạn trong khuôn khổ bộ 'Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư', thể loại Kinh Bộ, nhóm Dịch Loại. Đây là ấn bản ảnh chụp từ bản in cổ, toàn bộ sách gồm 12 quyển và được chia thành 5 tập. Nội dung chủ yếu liên quan đến việc giải thích và thông giải nguyên nghĩa của Kinh Dịch từ góc nhìn của các học giả đời Nguyên.
Nhan đề gốc: 周易本義通釋·卷二 Tác giả: (元)胡炳文 Số trang (bản quét): 313 Chủ đề: 四庫全書 · 經部 · 易類 · 元
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/06062870.cn/06062870.cn.pdf
Đánh giá
Hồ Bỉnh Văn (胡炳文, 1250–1333) là học giả đời Nguyên, quán Vụ Nguyên, người theo dòng Chu Hi, từng làm quan dưới triều Nguyên và để lại một số tác phẩm kinh học, trong đó bộ Chu Dịch Bản Nghĩa Thông Thích (Thông thích nghĩa gốc Chu Dịch) là bộ lớn nhất. Sách giảng giải và làm sáng nghĩa Chu Dịch Bản Nghĩa của Chu Hi, nên thuộc dòng Dịch học tôn Chu, nhưng có đối chiếu, mở rộng thêm các nhà chú giải khác. Việc quy thuộc tác phẩm cho Hồ Bỉnh Văn được các thư mục truyền thống như Tứ Khố Toàn Thư thừa nhận, ít thấy tranh cãi.
Bản đang lưu là ảnh chụp bản in cổ, quyển 2 trong tổng số 12 quyển, được chia thành 5 tập theo cách phân tập của bộ ảnh. Toàn bộ nằm trong Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư, Kinh bộ, Dịch loại. Cần lưu ý đây là ảnh của một phần bộ sách, không phải một trước tác độc lập. Ấn bản Tứ Khố có thể đã được hiệu đính, sao chép lại trong quá trình biên tập, nên bản in lưu hành hôm nay không đồng nhất với bản gốc đời Nguyên; các dị bản nếu có thường thuộc loại sai lệch chữ nghĩa hoặc thứ tự quyển.
Người nghiên cứu Dịch học đời Nguyên và Dịch học dòng Chu Hi thường tìm tới sách này như một mắt nối giữa Chu Dịch Bản Nghĩa và các bộ thông thích, bản nghĩa đời sau. Bộ Tứ Khố xếp nó vào Kinh bộ Dịch loại cùng các tác phẩm đồng thời như Dịch bản nghĩa phụ lục của Đổng Khải, Dịch triện ngôn của Ngô Trừng, cho thấy vị trí của nó trong phả hệ chú giải Kinh Dịch thời Nguyên.