Công cụ

Chu Dịch Hằng Giải, tập 1 (周易恒解)

✍ (清)劉沅撰 🏷 Miễn phí
© Sách còn bản quyền. Học quán chỉ giới thiệu thông tin, lời giới thiệu và mục lục — không cung cấp bản đọc trực tuyến hay tải về. Xin bạn tìm mua bản chính thức để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản.
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.

Giới thiệu

原書有些字跡不清、有些頁殘 古籍

Tác giả: (清)劉沅撰 Số trang (bản quét): 83 Chủ đề: 中國 · 古代 · 易類

Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/02072353.cn/02072353.cn.pdf

Đánh giá

周易恒解 là bộ chú giải Kinh Dịch của Lưu Nguyên (劉沅), hiệu Nguyễn Đường (沅唐), người đất Song Liêu thời Thanh. Lưu Nguyên sống vào giai đoạn Càn Long – Hàm Phong, từng đỗ cử nhân và để lại một hệ thống trước tác về Nho học khá đồ sộ, trong đó phần Dịch học chiếm vị trí riêng. Cần nói ngay rằng việc quy thuộc tác phẩm này cho Lưu Nguyên là căn cứ theo tên ghi trên bản lưu đang xét, chứ giới nghiên cứu về Dịch học Thanh đại nhìn chung vẫn xếp 周易恒解 vào nhóm trước tác mang tính tổng hợp Nho – Đạo, pha lẫn tư tưởng Tống Nho và những yếu tố tâm linh, nên vị trí chính thống của nó trong dòng chú giải quan phương còn phải bàn.

Về đường lối, sách thuộc loại "hằng giải" (解 thường, giảng theo lối thông thường, không theo lệ chú sớ cũ), tức là lối bình giảng lấy ý nghĩa luân lý làm trọng tâm hơn là khảo chứng huấn hỗ. Đây là dòng sách phổ biến ở Quan Trung và Tây Nam cuối Thanh, thường được dùng trong giới đọc Nho ngoài khoa cử. Tên sách có số thứ tự "一" trong nguồn, hàm ý đây là quyển hoặc tập đầu của một bộ nhiều phần, song dữ kiện hiện có không cho phép xác định tổng số quyển của toàn bộ.

Bản đang lưu 83 trang, nguyên bản có chỗ chữ mờ và có trang tàn khuyết, là tình trạng điển hình của các bản in gỗ lưu truyền qua nhiều tay. Mức độ dị văn giữa các bản 周易恒解 trong các thư viện Trung Quốc và bản số hoá này chưa được đối chiếu đầy đủ; người tra cứu nên coi đây là một bản lưu hành phổ thông hơn là bản thiện để khảo dị.

Với người học Dịch, 周易恒解 đáng chú ý ở chỗ nó đứng giữa hai dòng: một bên là các bộ nghĩa lý Tống Nho, một bên là những bộ tượng số và bốc phệ đương thời. Nắm được vị trí giao thoa ấy giúp định vị được sách trong bối cảnh Dịch học dân gian và Dịch học học thuật cuối Thanh, vốn thường bị tách rời trong thư mục.