Chu Dịch Hào Vật Đương Danh, tập 2 (周易爻物當名)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
原書有些字跡不清、有些頁殘 古籍
Tác giả: (明)黎遂球撰 Số trang (bản quét): 213 Chủ đề: 中國 · 古代 · 易類
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/02072134.cn/02072134.cn.pdf
Đánh giá
黎遂球 (Lê Toại Cầu, 1602–1647) là văn nhân cuối đời Minh, quê Quảng Đông, nổi tiếng văn chương và khí tiết, tử tiết khi quân Thanh nam hạ. Ông để lại trước tác trải nhiều lĩnh vực, trong đó phần về Dịch học thường được nhắc tới với 周易爻物當名. Đây là sách chuyên luận về Dịch, thuộc dòng "dĩ tượng giải Dịch" — lấy vật tượng và danh nghĩa của hào để truy tìm ý nghĩa quẻ hào, chứ không nghiêng về số thuật hay nghĩa lý thuần tuý. Cách đặt tựa cho thấy tác giả muốn buộc tên gọi của sự vật vào đúng vị trí của hào, tức lấy danh để định vật, một lối tiếp cận quen thuộc trong Dịch học đời Minh.
Việc quy thuộc sách này cho Lê Toại Cầu căn cứ vào đề tác giả ghi trên bản lưu, và nhìn chung học giới không đặt vấn đề lớn về điểm ấy, song cần lưu ý rằng các trước tác Dịch học của ông ít được khảo cứu kỹ so với thơ văn, nên mức độ chắc chắn về quyền tác giả tuy cao nhưng không tuyệt đối. Niên đại thành thư khó xác định chính xác, chỉ có thể đặt trong khoảng nửa đầu thế kỷ XVII, trước khi tác giả mất năm 1647.
Bản đang lưu là bản tiếng Trung, 213 trang, có tình trạng nguyên thư một số chữ mờ và một số trang khuyết — điều thường gặp ở những bản Dịch học đời Minh được số hoá từ bản in cũ. Tựa có ghi "(二)", nhiều khả năng đây là một phần hoặc một tập trong bộ nhiều quyển, nên khi tra cứu cần đối chiếu với các tập còn lại để tránh nhầm. Truyền bản và dị văn giữa các bản in chưa được khảo sát đầy đủ trong giới nghiên cứu; người đọc nên coi bản số hoá này là một dị bản khả dụng chứ không phải bản chuẩn.
Vị trí của sách nằm trong nhóm Dịch học đời Minh–Thanh, bên cạnh các tác phẩm lấy tượng số làm đường vào Kinh Dịch. Người học Dịch muốn hiểu cách người Minh đọc hào từ qua vật tượng có thể tìm tới nó như một ví dụ tiêu biểu cho lối giải Dịch ấy, đồng thời là tư liệu về trước tác của một sĩ phu cuối Minh ít được biết đến ngoài văn nghiệp.