Dịch Kinh Bàng Huấn (quyển 3)
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.
Giới thiệu
Cuốn sách 'Dịch Kinh Bàng Huấn (Quyển 3)' là một tác phẩm cổ thuộc thể loại Kinh Dịch của Trung Quốc, nằm trong bộ sách chú giải về 'Dịch Kinh'. Nội dung chính của sách tập trung vào việc giảng giải và bổ sung những lời bàn luận bên cạnh kinh văn gốc, nhằm hỗ trợ người đọc hiểu sâu hơn về triết lý âm dương, biến dịch. Dù là bản in cổ và có phần chữ viết bị mờ hay một số trang bị rách, tác phẩm vẫn mang giá trị tham khảo cho những ai nghiên cứu về tư tưởng cổ đại phương Đông. Sách hiện được lưu trữ tại Archive.org dưới dạng tệp có thể tải về và đọc trực tuyến miễn phí.
Nhan đề gốc: 易經旁訓(三) Tác giả: (明)李恕撰 Số trang (bản quét): 61 Chủ đề: 中國 · 古代 · 易類
Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/02071874.cn/02071874.cn.pdf
Đánh giá
Dịch Kinh bàng huấn là bộ chú giải Kinh Dịch, tên sách cho thấy lối "bàng huấn" — huấn giải đặt bên cạnh kinh văn, giải nghĩa từng chữ từng câu ngay tại chỗ thay vì bàn rộng thành thiên. Cách làm này phổ biến trong các bộ Dịch học thời Minh Thanh, vốn nặng về khảo văn và huấn hỗ. Bản đang lưu là quyển ba, 61 trang, thuộc mục Kinh Dịch trong kho, do Archive.org cung cấp.
Tác giả đề trên bản là Lý Thứ (李恕) đời Minh. Việc quy thuộc cần dè chừng: họ Lý tên Thứ có nhiều người trùng danh tính trong thư mục cổ, và các bộ Dịch chú thời Minh thường được ghi tác giả lỏng lẻo, khi thì đặt tên người soạn, khi đặt tên người hiệu đính hay khắc in. Cho tới khi đối chiếu được với các thư mục như Tứ khố toàn thư tổng mục hay Minh sử nghệ văn chí, nên xem phần đề tác giả là thông tin của bản in hơn là kết luận dứt khoát. Niên đại cụ thể của bản khắc cũng chưa rõ.
Bản lưu có tình trạng chữ mờ và rách trang, lại chỉ còn một quyển lẻ trong bộ nhiều quyển, nên người dùng cần biết đây không phải toàn bộ. Các bộ bàng huấn thường được khắc lại nhiều lần, giữa các lần in có thể sai khác chữ nghĩa; muốn dùng cho khảo cứu văn bản phải đối chiếu thêm bản khác. Giá trị của nó nằm ở chỗ cho thấy một lối đọc Dịch gắn với ngữ văn và chú thích, đặt cạnh truyền thống nghĩa lý của Trình Di hay tượng số của Lý Đỉnh Tộ.