“TIỂU MINH ĐƯỜNG” TRONG PHONG THỦY HỌC CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

Phàm là bốn hình huyệt oa (ổ), kiềm (kìm), nhũ (vú), đột (lồi), xung quanh huyệt có phần đất hơi trũng thấp, khi mưa xuống có nước chảy từ trên cao xuống, chia hai dòng về bên phải, bên trái, tụ hợp tại phần chính giữa bên dưới huyệt vị, thì khu vực này được gọi là tiểu minh đường.

Các chuyên gia phong thuỷ nhận định rằng, phàm là nơi chân long kết huyệt, là nơi sinh khí tụ tập, ắt có tiểu minh đưòng. Hình thế của tiểu minh đường đa dạng phức tạp. Đại khái là nơi long mạch kết huyệt, bên cạnh có hai sa long, hổ, cùng mạch ở chính giữa hợp thành hình chữ cá, thuỷ trước phân mà sau hợp ở phía trước long, hổ hai bên, mạch ở giữa phục dưới đất nên hơi lồi lên, bên cạnh lại sinh sa núi ngầm ẩn, có vẻ bao bọc ngấm ngầm như đôi cánh mỏng khi ve lột xác, đó gọi là sư thiển dực (sa cánh ve). Lại có thuỷ phân làm hai bên mà hợp tại giao điểm của cánh ve, gọi là chữ bát lớn. Mạch giữa sinh ra khối đất cứng như chiếc mũ tròn, gọi là cầu diêm (mái tròn). Bên dưới cầu diêm có khoảnh đất lòng chảo bằng phẳng được gọi là táng khẩu. Phía dưới táng khẩu sẽ có tiểu minh đường, lại có hai sa ngầm ẩn hợp ở hai bên, hình như vạt áo giao nhau, gọi là hợp khâm (vạt áo khép). Đồng thời lại có hai thuỷ ngầm ẩn giao nhau tại đầu hai vạt áo, gọi là hà tu (râu tôm). Như vậy, cánh ve (thiền dực) kèm bên, râu tôm (hà tu) bao bọc, thuỷ ba phân ba hợp, tích tụ sinh khí tại tâm huyệt, đó là chân hình của tiểu minh đường.

Mâu Hy Ung trong “Táng kinh dực” viết rằng: “Đại khái huyệt có bốn dạng là oa (ổ), kiềm (kìm), nhũ (vú), đột (lồi), tự nhiên sẽ có ba dạng dòng nước nhỏ là mắt cua, cá vàng và râu tôm, đều từ cầu diêm (mái tròn) phân chia chảy xuống, tại nơi tụ hợp có thể đủ cho một người nằm nghiêng, gọi là tiểu minh đường. Hai bên ắt phải có sa cánh ve (thiền dực), như có mà lại như không, bao bọc ở bên ngoài”.

(st)