Uyên Hải Tử Bình

🏷 Tử Vi ✍ Học quán Sơn Chu 🕒 18/06/2026
Uyên Hải Tử Bình

Uyên Hải Tử Bình Tác giả: Từ Đại Thăng (Trung Quốc) Tựa Lý lẽ Uyên Hải Tử bình, bắt đầu có từ Đại phu Lý Công Hư Trung thời nhà Đường, lấy năm tháng ngày giờ người sinh, sinh khắc vượng tướng, hưu tù chế hóa, quyết định cả đời, ứng nghiệm như thần vậy. Cùng với các chư vị họ Công…

Uyên Hải Tử Bình

Uyên Hải Tử Bình

Tác giả: Từ Đại Thăng (Trung Quốc)

Tựa

Lý lẽ Uyên Hải Tử bình, bắt đầu có từ Đại phu Lý Công Hư Trung thời nhà Đường, lấy năm tháng ngày giờ người sinh, sinh khắc vượng tướng, hưu tù chế hóa, quyết định cả đời, ứng nghiệm như thần vậy. Cùng với các chư vị họ Công, Hoăng, Xương, Lê, Hàn, Công làm ra tác phẩm Mộ chí để ghi nhớ, sau đến Lữ Tài đại phu lại chế định, cũng không kể ra ai là tác giả. Đến thời Tống có Từ Đại Thăng lại lấy nhật chủ con người sinh phân ra làm lục sự, nghị luận tinh vi, ý là tập hợp lại nhiều nhà nho làm ra sách 《 Uyên Hải 》, truyền bá cho đến nay, biết tất cả tổ tông. Về sau có nhiều nhà, sao lục tập Uyên Nguyên, phụ họa nghĩa lý văn chương, cho đến nay đã mấy trăm năm rồi. Bản tịch sai lầm có Hợi heo lỗ ngư, nghĩa lý học giả ít biết. Thời Kim Đường vua khen ngợi làm nghi lễ thỉnh cầu tinh thông lý lẻ này, lấy hai sách hợp lại, thêm khẩu quyết, đúng là sai lầm bịp bợm. Ôi! không treo bình mà hóa gậy, ai có thể dễ dàng thay đổi. Hành khắc hậu thế, để kẻ học sau, không thể phạm tới người xưa. Thành sách, chỉ có thời Đường, ghi chép ngoài còn lại để dẫn.

Sùng Trinh (niên hiệu của Vua Tư Tông thời nhà Minh bên Trung Quốc, công nguyên 1628-1644), Đầu mùa Đông năm thứ 7, ngày tốt khắc trùng.

***********************

Quyển một (1).

Luận Bắt nguồn chỗ sinh ra ngũ hành

Bởi do trời đất chưa phân ra, lúc đang còn hỗn độn; Càn Khôn chưa phân chia, gọi là Phôi thai; chưa sinh ra Nhật Nguyệt Tinh Thần, âm dương nóng lạnh cũng chưa phân ra vậy. Ở bên trên thì không có mưa sương, không có mây gió, không có sương tuyết, không có sấm chớp, chẳng qua chỉ là một màn u tối. Ở bên dưới thì không có cây cỏ, không có sông núi, không có cầm thú, không có con người, chỉ là cảnh tượng tối đen âm u. Lúc kết thành Nhất Khí, vì vậy Thái Dịch sinh thủy ( chưa có khí gọi là Thái Dịch ), Thái Sơ sinh hỏa ( có khí nhưng chưa có hình gọi là Thái Sơ ), Thái Thủy sinh mộc ( có hình chưa có chất gọi là Thái Thủy ), Thái Tố sinh kim (có chất chưa có thể gọi là Thái Tố ), Thái Cực sinh thổ ( chính là hình thể đã có đầy đủ gọi là Thái Cực ). Do đó, thủy số 1, hỏa số 2, mộc số 3, kim số 4, thổ số 5. Đến lúc này Tam Nguyên đã Cực, hỗn độn nhất phán, chính là phôi thai chia ra. Thanh nhẹ là Thiên, Trọc nặng là Địa. Nhị khí cùng hỗ trợ nhau, đã phát sinh Lưỡng Nghi, hóa mà thành thiên, bắt đầu từ chỗ này vậy. Hoặc đầu chim mà hình người, hoặc là đầu người mà thân rắn. Không có thèm muốn, không có danh tính, không có quốc gia, không có quân thần. Sống thành đàn, ăn lông ở lỗ, cho dù mưa gió, thân sơ họ hàng như nhau, không biết cha con. Không ăn ngũ cốc, ăn lông uống máu, cùng sống vui vẻ. Đến khi thánh hiền xuất hiện ( xưng là Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế ), phân ra hai ngôi trí tuệ và ngu dốt, rồi nảy ra quân thần phụ tử, quy định nghi lễ áo quan. Than ôi! bỏ Đại đạo mà sinh gian trá, yêu quái xuất hiện. ( là lúc trời mở ra ở Tý, đất mở ra ở Sửu, người sinh ra ở Dần, nghĩa là bắt đầu lập ra trời đất. Vạn vật thì sinh ra, gian trá cũng bắt đầu, yêu quái cùng xuất hiện. )

Lời giải thích: “Hỗn độn phôi thai”, là lời nói ví von giống như con gà con, chưa rõ thanh hay trọc.”Hợp lại chồng chất”, hình thù hỗn độn đều không phân biệt.”Nhất phán, nãi phân”, ý là đã có trời đất. “Trác”, là miệng con chim vậy.”Sào xứ huyệt cư”, là kết tổ ở trên cành cây, thân thể là theo ở trên trời.”Ẩm huyết như mao”, không có lửa, phải ăn vật tươi sống. “Yêu quái”, gọi là thần Xuy Vưu. 】

Luận chỗ sinh ra thiên địa can chi

Thiết nghĩ sinh ra gian trá, sinh ra yêu quái. Thời Hoàng đế có thần Xi Vưu nhiễu loạn, lúc này là, Hoàng Đế rất khổ cựa lo lắng cho dân, liền chiến đấu với Xi Vưu ở nơi Trác Lộc ( Trác Lộc, là tên một Quận). Máu chảy trăm dặm, không thể cai trị ( thời Đế thủy chế tạo binh khí ), Hoàng Đế bèn lập đàn trai giới cúng tế trời đất, lễ nghi ở trên gò đất. Trời bèn giáng xuống Thập Can ( tức là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý ), Thập nhị Chi ( tức là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi ). Vua bèn đem hết Thập can sắp xếp thành hình tròn, tượng hình là trời; thập nhị chi đem xếp thành hình vuông, tượng hình là đất. Mới lấy can là trời, chi là đất, hợp lại làm cửa ải để dựa vào đó mà cai quản, sau đó liền cai trị được vậy ( chỗ này là sinh ra Thập Can, Thập nhị Chi vậy). Từ đó về sau có họ Đại Nạo, là người đời sau lo âu nói: Ô hô! Hoàng Đế là Thánh nhân, không thể không chú trọng trừng trị ác sát, vạn nhất hậu thế sẽ thấy tai họa mà bị khổ, phải làm sao đây! Vì thế nói đem Thập Can, Thập nhị Chi phân phối thành Lục thập Giáp Tý.

Thập thiên can chỗ thuận âm dương:

Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý

Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm

Giáp Bính Mậu Canh Nhâm thuộc dương, Ất Đinh Kỷ Tân Quý thuộc âm.

Lời giải thích: “Vua bèn đem Thập can xếp thành vòng tròn, tượng hình là trời; thập nhị chi xếp thành hình vuông, tượng hình là đất”, ở chỗ này bắt đầu nói đến trời tròn đất vuông. 】

Chú thích: Chỗ này có đồ hình thiên can và địa chi.

Thiên can tương hợp

Giáp và Kỷ hợp ( Giáp thuộc mộc, Kỷ thuộc thổ, mộc lấy thổ làm thê tài, cho nên được hợp ), Ất và Canh hợp, Bính và Tân hợp, Đinh và Nhâm hợp, Mậu và Quý hợp ( ý tương hợp giống như ở trên).

Lời giải thích: Giáp đếm thuận tới Kỷ, được hợp thành Lục Âm, nói số đảo nghịch thuận, còn lại làm theo chỗ này. 】

Luận Thập can chỗ thuộc phương vị chỗ thuộc thập nhị chi

Giáp Ất mộc thuộc Đông phương ( Vị trí Dần Mão Thìn là Đông phương, tượng là Thanh Long), Bính Đinh hỏa thuộc Nam phương ( vị trí Tị Ngọ Mùi là Nam phương, tượng là Chu Tước), Mậu Kỷ thổ chủ Trung Ương ( vị trí Thìn Tuất Sửu Mùi, tượng là Câu Trần, Đằng Xà), Canh Tân kim thuộc Tây phương ( vị trí Thân Dậu Tuất là Tây phương, tượng là Bạch Hổ), Nhâm Quý thủy chủ Bắc phương (vị trí Hợi Tý Sửu là Bắc phương, tượng là Huyền Vũ).

Đúng thời Đại Nạo tuy là lấy Giáp Ất thuộc mộc, Bính Đinh thuộc hỏa, Mậu Kỷ thuộc thổ, Canh Tân thuộc kim, Nhâm Quý thuộc thủy. Còn lấy chi Dần Mão thuộc mộc, Tị Ngọ thuộc hỏa, Thân Dậu thuộc kim, Hợi Tý thuộc thủy, Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ, lý này nghĩa là sao vậy?

Hoặc viết: Đông phương có thần Thái Hạo, nhận cung Chấn nắm giữ quy tắc điều khiển mùa Xuân, sinh ra lòng nhân ái và hòa thuận, vạn vật phát sinh, cho nên mộc bắt đầu từ ở chỗ này, cùng với Giáp Ất Dần Mão vậy.

Nam phương có vua Thần Nông, nhận cung Ly nắm giữ mùa Hạ, sinh ra mặt trời xinh đẹp khốc khí, vạn vật đến chỗ này đều như nhau, cho nên lý do hỏa ở đây, cùng Bính Đinh Tị Ngọ vậy. ( mùa Hạ chủ nuôi dưỡng vạn vật, cây cối xanh tốt rậm rạp, tất cả đều nhờ công đức của hỏa vậy. )

Tây phương có thần Thiếu Hạo, nhận cung Đoài nắm giữ mùa Thu, khí sinh yên tĩnh mà xơ xác tiêu điều, vạn vật đến chỗ này đều thu lại, cho nên lý do kim ở đây, cùng Canh Tân Thân Dậu vậy. ( khí mùa Thu là kim như đao, khí khái tiêu điều xơ xác, cây cỏ đều điêu tàn, lúc khí thành thục thu vào. )

Bắc phương có thần Chuyên Đế, nhận cung Khảm nắm giữ mùa Đông, khí phát sinh ngưng kết chặt chẽ, vạn vật đến chỗ này đều ẩn tàng, cho nên lý do thủy ở đây, cùng Nhâm Quý Hợi Tý vậy.

Trung Ương có thần Hoàng Đế, nhận cung Khôn thổ nắm giữ ở giữa, huống chi mộc hỏa kim thủy tất cả đều không thể không có thổ, cho nên đem Mậu Kỷ ở Trung Ương, Thìn Tuất Sửu Mùi phân tán ra bốn góc, chiếm lấy tất cả. ( Tứ Duy ( là bốn góc), tháng 3 mùa Xuân, tháng 6 mùa Hạ, tháng 9 mùa Thu, tháng 12 mùa Đông. )

Hà Công luận viết: Nếu trời không có thổ, không thể tròn che chở ở trên; nếu đất không có thổ, không thể dày lớn mà tải đầy đất, mà không sinh ngũ cốc; người nếu không có thổ, ở trong không thể di chuyển, không lập ngũ hành ( nói Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín là ngũ thường, kim mộc thủy hỏa thổ là ngũ hành ). Chỗ này Tam Tài không thể thiếu thổ vậy (Tam Tài còn gọi là Thiên Địa Nhân ). Mộc nếu không có thổ, không có lực tái bồi; hỏa nếu không có thổ, không thể chiếu sáng khắp bốn phương; kim nếu không có thổ, khó thành khí sắc nhọn; thủy nếu không có thổ, sóng không thể ngập tràn đê; thổ nếu không có thủy, vạn vật không thể nuôi dưỡng. Cho nên chỗ này ngũ hành đều không thể không có thổ. Bởi thế thổ ở Trung Ương, phân tán ra bốn góc, mà thành lập ngũ hành vậy.

Lời giải thích: Giáp Ất mộc màu xanh, Bính Đinh hỏa màu đỏ, Mậu Kỷ thổ màu vàng, Canh Tân kim màu trắng, Nhâm Quý thủy màu đen. Mộc chủ Nhân, hỏa chủ Lễ, kim chủ Nghĩa, thủy chủ Trí, thổ chủ Tín.”Thái Hạo”, là vua Phục Hi.”Chuyên Đế”, là vua Cao Dương, xưng là Hoàng Đế. Thổ màu vàng, Hoàng Đế lấy đức tín cai trị thiên hạ, cho nên xưng là Hoàng Đế. Chỗ này là luận về Thập Can vậy. 】

Luận chỗ thuộc về âm dương Thập nhị Địa chi

Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi

Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm

Luận Thập nhị Chi lục hợp

Tý và Sửu hợp thổ, Dần và Hợi hợp mộc, Mão và Tuất hợp hỏa, Thìn và Dậu hợp kim, Tị và Thân hợp thủy, Ngọ và Mùi hợp hỏa, Ngọ là Thái Dương, Mùi là Thái Âm vậy.

Luận Thập nhị Chi tam hợp

Thân Tý Thìn thủy cục, Hợi Mão Mùi mộc cục, Dần Ngọ Tuất hỏa cục, Tị Dậu Sửu kim cục, Thìn Tuất Sửu Mùi thổ cục. ( thông thường xem mệnh lấy tam hợp thủ dụng làm cục nhập cách. )

Lời giải thích: Hợp cục là quý, nhưng ngũ hành phải thuận nhau. 】

Luận Thập nhị Chi tương Xung

Tý Ngọ tương xung, Dần Thân tương xung, Mão Dậu tương xung, Thìn Tuất tương xung, Tị Hợi tương xung, Sửu Mùi tương xung. ( Tý cung Quý thủy, Ngọ cung Đinh hỏa, cho nên thủy có thể khắc hỏa vậy. Dần cung Giáp mộc, Thân cung Canh kim, cho nên kim khắc mộc vậy. Lấy trong chi có ám hại là xung, còn lại theo chỗ này mà suy. )

Lời giải thích: Tương xung nhưng có được gặp hợp thì không thể xung.】

Luận Thập nhị Chi tương Xuyên( còn gọi là Hại)

Tý Mùi tương xuyên, Sửu Ngọ tương xuyên, Dần Tị tương xuyên, Mão Thìn tương xuyên, Thân Hợi tương xuyên, Dậu Tuất tương xuyên.

【Lời giải thích: Tương xuyên là hại, phạm chỗ này là tổn hại lục thân, không lấy khó khăn trở ngại mà luận. 】

Luận Thập nhị Chi Tương Hình

Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Dần, gọi là hình thế; Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, gọi là hình vô ân; Tý hình Mão, Mão hình Tý, gọi là hình vô lễ; Thìn Ngọ Dậu Hợi, gọi là tự hình.

Luận ý nghĩa Can Chi

Quần Thư Khảo Dị》 viết: Giáp là nứt ra vậy, là nói giải phẩu vạn vật mà ra chữ Giáp vậy. 《 Dịch 》 viết: Trăm loại quả của cây cỏ đều nứt ra từ Giáp. Ất là nói lúc vạn vật mới sinh ra bị cong lại mà không duỗi ra thẳng vậy. Bính là nói vạn vật sáng chói mà thấy rõ ràng. Đinh là nói hình dạng vạn vật đầy đặn khỏe mạnh, cho nên 《 Bang Quốc Đồ Tạ 》 viết: là con trai trưởng thành. Mậu, xum xuê vậy, là nói vật rất hưng thịnh, cho nên 《 Hán Chí》 viết: tội nghiệt nhiều là do ở Mậu vậy. Kỷ, là kỷ luật vậy, nói vạn vật đã có hình, có thể biết kỷ luật vậy. Canh, là tướng mạo kiên cường, là nói vạn vật thu lại mà có hạt vậy. Tân, là nói phương vạn vật hưng thịnh mà lấy chế tạo, cho nên vất vã đau đớn vậy. Nhâm, là mang thai vậy, âm dương giao nhau, là nói vạn vật từ khi mang thai cho đến khi ra đời vậy. Quý là lúc mùa Đông thổ đã yên ổn, vạn vật có thể tính toán đo lường vậy. Tý, là lớn thêm vậy, khí dương bắt đầu nảy sinh nghiệt ngã, ở dưới mọc lên vậy. Sửu, là buộc, thắt vậy, khí lạnh tự co vào vậy. Dần, là xương đầu gối vậy, khí dương muốn phát ra, khí âm còn mạnh mà ở dưới phát triển xương đầu gối. Mão là bốc lên vậy, vạn vật bất chấp mặt đất mà đi ra. Thìn, kéo duỗi ra vậy, tất cả mọi vật đều duỗi ra. Tị, là dừng lại vậy, khí dương đã dừng lại vậy. Ngọ, xác chết vậy, âm dương giao nhau kinh sợ mà giống như xác chết vậy. Mùi, là che dấu, là mơ hồ, là me muội vậy, quá trưa thì mặt trời ngã về tây, mặt trời xế dần hướng về đêm vậy. Thân, là duỗi ra trói buộc lại đã hoàn thành, cho nên 《 Tấn Chí 》 viết: Tất cả thân thể vạn vật đã hoàn thành vậy. Dậu, là thành tựu vậy, vạn vật đã thành thục. Tuất, là tiêu diệt vậy, vạn vật đã bị tận diệt. Hợi, là hạt vậy, vạn vật thu tàng, tất cả thành hạt cứng vậy.

Luận cầm tinh của Thập nhị Chi

Tý dương, Sửu âm, Dần dương, Mão âm, Thìn dương, Tị âm, Ngọ dương, Mùi âm, Thân dương, Dậu âm, Tuất dương, Hợi âm.

Thất Tu Loại Toản 》 viết: Nhân Hòa Lang Hán nói: Địa chi thuộc 12 loài vật, lấy tính cách không được đầy đủ. Lấy Tý mà nói, lại sao không có đủ 12 chăng? Lấy ở dưới địa chi, đều lấy vuốt chân theo âm dương mà phân chia. Như Tý dù thuộc là dương, trước 4 khắc là ban đêm là âm, sau 4 khắc là ngày hôm nay là dương. Cho nên 4 móng chân trước của Chuột tượng là âm, 5 móng chân sau của Chuột tượng là dương vậy. Sửu thuộc âm, trâu bò cũng là 2 móng chân vậy; Dần thuộc dương, Cọp có 5 vuốt chân; Mão thuộc âm, Thỏ khuyết môi mà có 4 móng chân vậy. Thìn thuộc dương, Rồng đúng có 5 vuốt chân. Tị thuộc âm, lưỡi Rắn chia làm hai vậy. Ngọ thuộc dương, móng Ngựa hình tròn vậy. Mùi thuộc âm, móng chân con Dê cũng chia hai vậy. Thân thuộc dương, Khỉ có 5 móng chân. Dậu thuộc âm, chân Gà có 4 móng vậy. Tuất thuộc dương, Chó có 5 móng chân vậy. Hợi thuộc âm, Móng chân Heo cũng chia hai vậy.

Lại viết: Tý là cực âm, chỗ âm u mờ mịt vậy, lấy Chuột phối nhau, Chuột ẩn giấu kín đáo vậy. Ngọ là cực dương, lộ rõ tính mạnh mẽ, lấy Ngựa phối nhau, Ngựa đi nhanh vậy. Sửu cũng là âm, chỗ này nơi sinh sản hiền lành, lấy Trâu bò phối nhau, trâu bò có con bê con hiền lành. Mùi cũng là âm, ngửa mặt cung kính nghi lễ, lấy Dê phối nhau, Dê khi sinh sản quỳ xuống. Dần là tam dương, dương thắng thì hung bạo, lấy Cọp phối nhau, tính Cọp là hung dữ vậy. Thân là tam âm, âm thắng thì xảo quyệt, lấy Khỉ phối nhau, tính Khỉ ranh mãnh vậy. Mặt trời sinh ở hướng Đông mà hướng Tây có Dậu Gà, mặt trăng sinh ở Dậu mà hướng Đông có Mão Thỏ, chỗ này nghĩa là âm dương giao cảm, cho nên nói Mão Dậu là cánh cửa riêng của Nhật Nguyệt vậy. Nói Thỏ liếm lông con đực mà có mang thai, Gà phối hợp đạp lên nhau mà không nhìn thấy, đều có tình cảm mà không giao nhau, cho nên Mão Dậu thuộc Gà và Thỏ. Thìn Tị khởi từ dương mà làm việc cần mẫn, Rồng là mạnh mẽ, tượng hình là Rắn, cho nên lấy Rồng Rắn phối chỗ này, Rồng Rắn là vật biến hóa vậy. Tuất Hợi khởi là âm mà thu lại ẩn náu, Chó chủ về đêm, Heo thì điềm tĩnh, cho nên Chó Heo phối chỗ này. Chó Heo, là vật trông giữ vậy. Chỗ này nhà nho luận cũng rõ ràng, cho nên phải nhớ kĩ càng.

Lời giải thích: Lấy 5 là dương, 4 là âm. Tròn là dương, vuông là âm. Gọi là “Bất toàn” vì: Chuột không có con ngươi, Trâu không có răng, Cọp không có gáy, Thỏ không có nhìn, Rồng không có tai, Rắn không có chân, Ngựa không có túi mật, Dê không có con ngươi, Khỉ không có quai hàm, Gà không có quả thận, Chó không có bao tử, Heo không có gân. 】

Luận nạp âm Lục thập hoa Giáp Tý cùng chú giải

Nói đến Giáp Tý, bắt đầu bởi họ Đại Nạo, còn nạp âm là từ Quỷ Cốc Tử, thành tượng bởi Đông Phương Mạn Thiến Tử. Thời Mạn Thiến Tử đã thành tượng, hiệu viết là: “Hoa Giáp Tý” . Nhưng Giáp Tý, từ Tý đến Hợi, 12 cung đều thuộc về kim mộc thủy hỏa thổ. Bắt đầu khởi ở Tý, là Nhất Dương. Cuối cùng ở Hợi, là Lục Âm. Chỗ thuộc về ngũ hành, giống như thế sự của con người vậy. Tại sao gọi là thế sự? Đại để Ngũ Hành kim mộc thủy hỏa thổ, ở trên trời gọi là Ngũ tinh, ở dưới đất gọi là Ngũ Nhạc, ở đạo đức gọi là Ngũ Thường, ở con người gọi là Ngũ Tạng, ở sinh mệnh cũng gọi là Ngũ Hành. Do đó Giáp Tý là ứng với ở mệnh, mệnh là chuyện cả đời, cho nên Giáp Tý là tượng nạp âm. Lúc Thánh nhân thuyết minh, cũng như sự tình của một đời người vậy. Sự việc một đời, chỗ Thánh nhân truyền lại là Tam thập nhi lập, Tứ thập nhi bất hoặc, Ngũ thập nhi tri thiên mệnh, Lục thập nhi nhĩ thuận, Thất thập nhi tòng tâm ( Ý là, 30 tuổi lập nghiệp, 40 tuổi biết đúng sai mà không lầm lỡ, 50 tuổi mới biết mệnh trời, 60 tuổi mới biết thuận theo mệnh, 70 tuổi mà theo tâm ý). Tượng Giáp Tý, từ Tý cho đến Hợi, lý lẽ rõ ràng vẫn có thể nhìn thấy vậy. Còn như hai vị Tý, Sửu, âm dương mở đầu có mang thai, người đang ở bào thai, vật tàng ở hạt cây, chưa có ranh giới vậy. Hai vị Dần Mão, âm dương dần dần thông suốt, người dần dần sinh trưởng, vật theo Giáp tách ra, bầy hoa dần dần nở rộ, như con người sinh ra mà lập thân vậy. Hai vị Thìn Tị, khí âm dương hưng thịnh, vật nở hoa rộ, con người đến 30, 40, mà có đất lập thân, tượng tiến thủ. Hai vị Ngọ Mùi, âm dương lộ ra rõ ràng, tìm tọi cùng nhau mà hợp thành, con người đến 50, 60, phú quý bần tiện có thể biết ngay, phàm việc hưng suy có thể thấy vậy. Hai vị Thân Dậu, âm dương xác xơ tiêu điều, vật dừng lại thu nhoạch, người đã chùn chân rụt cổ, tất cả phải yên tĩnh vậy. Hai vị Tuất Hợi, âm dương đã bế tắc, khí vật trở về gốc cội, người cũng ngừng nghĩ, tất cả đều trở về gốc vậy. Nhưng chỉ tường thuật rõ ràng trước sau 12 vị mà vẫn có thể nhìn thấy, ở Lục thập Giáp Tý theo thứ tự mà biết rõ vậy.

Lời giải thích: Thời nhà Chu có Vương Hủ hiểu đạo, ẩn ở thanh khê Quỷ cốc, thế gian gọi là Quỷ Cốc Tử. “Ngũ tinh”, là kim tinh, mộc tinh, thủy tinh, hỏa tinh và thổ tinh.”Ngũ thường”, là Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. “Ngũ hành”, là kim mộc thủy hỏa thổ. “Thủy dựng”, giống như người đàn bà mới mang thai ở trong bụng. “Chiết Giáp”, giống như nói tách cây măng vẫn có võ ở bên ngoài. “Quần ba”, giống như nói hoa có hoa gạo, có hoa cỏ. “Lập thân” giống như thắt đai lưng ở triều đình, thịnh vượng mà hành đạo vậy. Người 50, 60 tuổi có thể thấy quý tiện, đến khi con người 70 tuổi, tinh thần suy nhược, cũng đã hết số, là bất lực vậy. 】

+ Giáp Tý, Ất Sửu là Hải Trung kim —— vì Tý thuộc thủy, lại là hồ nước, lại là đất thủy vượng. Gồm cả kim tử ở Tý, mộ ở Sửu, thủy vượng mà kim tử mộ, cho nên viết là Hải Trung kim ( vàng trong biển) vậy. Lại viết: Khí ở ẩn tàng, vật cực thì tiềm ẩn.

Lời giải thích: hình thể kim đi ở đường thủy, là tính nhược mà thể hàn. 】

+ Bính Dần, Đinh Mão là Lư Trung hỏa —— vì Dần là Tam Dương, Mão là Tứ Dương, hỏa đã đắc vị, lại lấy Dần Mão mộc sinh. Lúc này trời đất mở ra bếp lò lửa, vạn vật bắt đầu phát sinh, cho nên viết là Lư Trung hỏa ( lửa trong bếp lò) vậy. Trời đất là lò lửa, âm dương là than củi.

Lời giải thích: Hình hành dương, mà thế lực dần tăng, núi cao dựng thẳng mà dừng. 】

+ Mậu Thìn, Kỷ Tị là Đại Lâm mộc —— vì Thìn là vùng quê, Tị là Lục Dương. Thủy tới Lục Dương thì càng tốt lá xanh rậm rạp, vì đại lâm mộc xanh tốt mà sinh trưởng ở giữa vùng quê, cho nên viết là Đại Lâm mộc vậy (rừng cây cổ thụ). Âm thanh lan truyền lên chín tầng mây, khuynh hướng âm sinh vạn vật.

Lời giải thích: Rồng Rắn giấu hình, khí đang thành hình, vật đã lộ ra cây. 】

+ Canh Ngọ, Tân Mùi là Lộ Bàng thổ—— vì mộc có ở trong Mùi, vượng hỏa sinh ở bên trong Ngọ, hỏa vượng thì thổ nhận hình phạt ở chỗ này. Chỗ sinh thổ, chưa thể nuôi dưỡng vật, giống như Lộ Bàng thổ vậy ( thổ bên đường). Cùng với thời gian cường tráng, đủ dày mới tải mộc, mộc nhiều không thích.

Lời giải thích: hình thổ có chất, có vật thì có hình. 】

+ Nhâm Thân, Quý Dậu là Kiếm Phong kim —— vì là chính vị Thân Dậu kim, bao gồm cả Thân ở lâm quan, dậu là đế vượng. Kim đã sinh vượng, thì trở thành cương cứng vậy. Cương thì không vượt qua khỏi thanh kiếm, cho nên viết là Kiếm Phong kim ( Thanh gươm vàng) vậy. Hai ngôi sao Đẩu và Ngưu phát ra ánh sáng cầu vòng, gươm sắc ngưng tụ sương tuyết.

Lời giải thích: Nắm tính kiên cường, vật cần sinh vượng, chính là công thành không thoái lui sẽ tổn thương hòa khí. 】

+ Giáp Tuất, Ất Hợi là Sơn Đầu hỏa—— Vì Tuất Hợi là Thiên Môn, ngọn lửa chiếu sáng ở Thiên Môn, ánh sáng lên cao, cho nên viết là Sơn Đầu hỏa vậy (Ngọn lửa trên đỉnh núi). Ánh tà dương ở chân trời, mặt trời lặn ở đỉnh núi, tản ra đẹp đẽ vì phản chiếu, mây màu nở ra vốn là từ ánh sáng dư thừa còn lại.

Lời giải thích: Khí như khói mù che lấp ngọn lửa, như ánh sáng bay đáp lại quẻ Càn, quay lại trong ngưng nghĩ. 】

+ Bính Tý, Đinh Sửu là Giản Hạ thủy —— Vì thủy vượng ở Tý, suy ở Sửu, vượng mà trái lại suy, thì không thể thành sông lớn, cho nên viết là Giản Hạ thủy vậy ( đưa nước xuống khe suối). Dòng suối nhỏ chảy quanh núi, tuyết phun ra mà nước chảy xiết, khuynh hướng đổ sâu vào eo sông (chỗ hai quả núi kẹp dòng sông ở giữa), cho nên ví von như khe suối vậy.

Lời giải thích: hung ác ở lúc sinh vượng, địa vị đã nghĩ ngơi, khí đã thành vật.】

+ Mậu Dần, Kỷ Mão là Thành Đầu thổ —— Vì thiên can Mậu Kỷ thuộc thổ, Dần là Cấn là núi, thổ tích tụ mà thành núi, cho nên viết là Thành Đầu thổ vậy ( đất ở trên bức thành). Đá ngọc chồng chất ở kinh đô, Hoàng Đế ở trong lầu vàng, hình thể như Rồng uốn lượn bay đi nghìn dặm, thế lực dũng mãnh bốn phương vậy.

Lời giải thích: Thổ thích mộc khai thông, chắc chắn thành công. 】

+ Canh Thìn, Tân Tị là Bạch Chá kim —— Vì kim dưỡng ở Thìn, sinh ở Tị, thể chất mới thành, chưa có thể kiên cố, cho nên viết là Bạch Chá kim vậy (kim bạch lạp, đèn cầy). Khí dần dần phát sinh, kim suy nhược ở mỏ quặng, ánh sáng đến nghĩ ở Nhật Nguyệt ( mặt trời và mặt trăng), tượng khí âm dương ngưng tụ.

Lời giải thích: Kim bắt đầu bỏ đất Sửu, nên mẫu tử phân chia, tất nhiên thành lập, cần có hỏa để thành hình. 】

+ Nhâm Ngọ, Quý Mùi là Dương Liễu mộc —— Vì mộc tử ở Ngọ, mộ ở Mùi. Mộc đã bị tử mộ, dù có được thiên can Nhâm Quý thủy để sinh trưởng, cuối cùng vẫn là nhu mộc, cho nên viết là Dương Liễu mộc (cây Dương liễu). Vạn sợi dây tơ tằm nối nhau liên tiếp, như nghìn sợi tơ không có khâu lại.

Lời giải thích: Vật dương khí thịnh, thủy tế thành công. 】

+ Giáp Thân, Ất Dậu là Tuyền Trung thủy—— Kim lâm quan ở Thân, đế vượng ở Dậu, kim đã sinh vượng, thì thủy cũng được sinh, nhưng ranh giới giữa phương sinh, lực lượng không lớn, cho nên viết là Tỉnh Tuyền thủy vậy ( nước ở trong giếng). Khí dừng mà yên tĩnh, quá mà không kiệt, ra mà không tận.

Lời giải thích: Ổn định là tĩnh mà Thanh, rối loạn là động mà Trọc. 】

+ Bính Tuất, Đinh Hợi là Ốc Thượng thổ—— Vì Bính Đinh thuộc hỏa, Tuất Hợi là Thiên Môn, hỏa đã viêm thượng, thì thổ không ở dưới mà sinh, cho nên viết là Ốc Thượng thổ vậy ( Đất ở trên nhà ở). Do hỏa mộc còn sinh vượng, là theo thế mà tăng thêm, tới chỗ tử tuyệt, mừng để yên ổn.

Lời giải thích: Bởi thành quả che đậy tuyết sương, sự nghiệp chấn động lấn gió mưa. 】

+ Mậu Tý, Kỷ Sửu là Phích Lịch hỏa —— Sửu thuộc thổ, Tý thuộc thủy. Thủy ở chính vị mà nạp âm là hỏa, hỏa ở trong thủy, không phải Rồng thần thì không có, cho nên viết là Phích Lịch hỏa ( Lửa sấm sét). Thế điện chớp giật như kim xà, ý nói đội quân tinh nhuệ chạy rất nhanh, tượng biến hóa.

Lời giải thích: Khí ở Nhất Dương, hình cư ở mộc. 】

+ Canh Dần, Tân Mão là Tùng Bách mộc —— Vì mộc lâm quan ở Dần, đế vượng ở Mão, mộc đã sinh vượng, so sánh thì không có nhu nhược, cho nên viết là Tùng Bách mộc vậy. Khinh tuyết mà lấn sương, bao phủ đất mà che ngút trời cao, gió lay động biểu diễn tấu khúc nhạc, sau mưa bày cờ ra xem.

Lời giải thích: Hỏa vượng thì mộc ẩn tàng, chính là thích thủy để thấm nhuận.】

+ Nhâm Thìn, Quý Tị là Trường Lưu thủy —— Thìn là thủy khố, Tị là đất kim trường sinh, kim thì sinh thủy, tính thủy đã tồn tại, lấy khố thủy mà kim được sinh, cuối cùng nguồn nước không bị khô kiệt, cho nên viết là Trường Lưu thủy vậy (dòng nước chảy dài). Thế ở Đông Nam, quý ở yên tĩnh.

Lời giải thích: Đến bất tận, nạp vô tận. 】

+ Giáp Ngọ, Ất Mùi là Sa Trung kim —— Ngọ là đất hỏa vượng, hỏa vượng thì kim bại. Mùi là đất hỏa suy, hỏa suy thì kim quan đới, bại mà phương ở quan đới, không thể đốn chặt, cho nên viết là Sa Trung kim vậy ( Vàng trong cát).

+Bính Thân, Đinh Dậu là Sơn Hạ hỏa —— Thân là Địa Hộ, Dậu là Mặt trời đi vào cửa ngõ. Mặt trời đến chỗ này là ánh sáng bị dập tắt vậy, cho nên viết là Sơn Hạ hỏa ( lửa dưới chân núi). Dậu chìm ở ngôi Đoài, lại hỷ Đông Nam, xuất ra cung Chấn sáng ở cung Ly, ánh sáng càng mạnh, lửa ám hung, thích được cứu sáng.

Lời giải thích: Rùa rụt đầu ở cung Đoài, thể lực suy nhược. 】

+ Mậu Tuất, Kỷ Hợi là Bình Địa mộc —— Tuất là vùng quê (đồng bằng), Hợi là đất mộc sinh. Nói mộc sinh ở vùng quê, thì một cây không thể so với một cánh rừng, cho nên viết là Bình Địa mộc vậy (Cây ở đất đồng bằng). Duy chỉ có công quý ở Vũ lộ (mưa sương), không hỷ tích lũy tuyết sương.

Lời giải thích: Kim vượng thì tổn hại, thổ dày thì vun bồi. 】

+ Canh Tý, Tân Sửu là Bích Thượng thổ—— Sửu tuy là thổ gia ở chính vị, còn Tý là đất thủy vượng, thổ thấy thủy nhiều thì thành nê nước vậy, cho nên viết là Bích Thượng thổ vậy (đất trên vách). Khí ở lúc bế tắc, vật còn ẩn giấu, che hình ngăn thể, cho nên trong ngoài đều không đủ vậy.

Lời giải thích:Thế chưa hữu dụng, Sửu chưa thể sinh. 】

+ Nhâm Dần, Quý Mão là Kim Bạc kim —— Dần Mão là đất mộc vượng, mộc vượng thì kim thừa. Mà kim tuyệt ở Dần, thai ở Mão, kim đã không có lực, cho nên viết là Kim Bạc kim ( kim mỏng manh). Khí ở Dần, thì kim là tuyệt địa, mới nói suy nhược mà buộc lụa.

Lời giải thích: Mộc nhiều phí công tổn lực, kim trợ thì cương nghị quả cảm. 】

+ Giáp Thìn, Ất Tị là Phúc Đăng hỏa—— Thìn là giờ ăn, Tị là ban trưa, mặt trời ở Ngọ, cảnh sắc tươi đẹp, chiếu sáng khắp thiên hạ, cho nên viết là Phúc Đăng hỏa (ngọn đèn dầu bao phủ). Ly vàng lung linh tỏa sáng, bục ngọc xinh đẹp, Nhật Nguyệt chiếu nơi không chiếu, lúc trời đất không sáng tỏ.

Lời giải thích: khí hình cùng địa thế thành lập mới cao. 】

+ Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên Hà thủy —— Bính Đinh thuộc hỏa, Ngọ là đất hỏa vượng, mà nạp âm là thủy, thủy từ hỏa xuất ra, không phải dãi Ngân hà nhà Hán thì không có vậy, cho nên viết là Thiên Hà thủy ( nước sông Ngân Hà). Khí đang lên xuống, sung túc nhưng đang mưa dầm, có công cứu giúp sinh vượng.

Lời giải thích: Kim có thể giúp đỡ ở bên trong tất dày, mộc hỏa cùng hành, thế hỏa khó đảm nhận. 】

+ Mậu Thân, Kỷ Dậu là Đại Dịch thổ—— Thân là Khôn, Khôn là đất; Dậu là Đoài, Đoài là đầm, ao hồ. Mậu Kỷ thổ thêm ở Khôn ở trên đầm, hồ, thổ không phải chỗ khác mỏng manh xốc nỗi, cho nên viết là Đại Dịch thổ (nơi đất rộng lớn). Khí đã trở lại ngừng nghĩ, cho nên nói chỗ vật đang thu vào.

Lời giải thích: Thổ yên tĩnh âm u mà vững chắc, như con rùa rụt cổ mà thoái lui, đẹp mà vô tích sự. 】

+Canh Tuất, Tân Hợi là Thoa Xuyến kim—— kim tới Tuất mà suy, tới Hợi mà bệnh, kim đã suy bệnh, thì thành nhu nhược vậy, cho nên viết là Thoa Xuyến kim (cây trâm cài của phụ nữ). Hình đã thành khí, vật trang sức phát sáng, thỏa mãn ở sinh vượng, quý ở hình thể ẩn giấu, hỏa thịnh làm tổn thương hình, cuối cùng là không tốt.

Lời giải thích: Khí mới ẩn náu, hình thể đã tàn, nung luyện trang sức mà thành hình. 】

+ Nhâm Tý, Quý Sửu là Tang Chá( âm thanh giống như bị gãy ) mộc —— Tý thuộc thủy, Sửu thuộc kim, phương mộc sinh hỏa, kim thì khắc phạt, giống như phương sinh cây dâu tằm, người liền lấy để đốn chặt, cho nên viết là Tang Chá mộc vậy (cây dâu tằm). Khí ở cong queo, ở vào thủy vậy, không làm phiền đao phủ thi hành.

Lời giải thích: Hỷ thủy nuôi dưỡng, thấy kim không có công. 】

+ Giáp Dần, Ất Mão là Đại Khê thủy—— Dần là phương Đông vượng, duy chỉ có Mão là chính hướng Đông. Nước chảy chính hướng Đông, thì tính thuận, mà tất cả sông nước ao hồ đều hợp lại mà quy tụ, cho nên viết là Đại Khê thủy. Khí đến dương minh, thế thủy nhờ gốc, cho nên nói nước cuồn cuộn mà chảy về hướng Đông.

Lời giải thích: Thế hành hướng Đông, nếu nói sông khe suối ao hồ, gặp ác thổ ngăn chặn, thích có kim trợ giúp thêm. 】

+ Bính Thìn, Đinh Tị là Sa Trung thổ—— khố thổ ở Thìn mà tuyệt ở Tị, mà thời gian hỏa Bính Đinh đến Thìn là quan đới, mà lâm quan ở Tị, quân vừa khố tuyệt, vượng hỏa sinh phục hưng, cho nên viết là Sa Trung thổ. Khí thổ khai thông cho nên không thích hợp.

Lời giải thích: Khí đã nhận dương, đã qua phát sinh, ác hỏa ngại kim. 】

+ Mậu Ngọ, Kỷ Mùi là Thiên Thượng hỏa —— Ngọ là đất hỏa vượng, trong Mùi có mộc lại hồi sinh, tính hỏa viêm thượng lại gặp sinh địa, cho nên viết là Thiên Thượng hỏa. Khí đi qua cung dương, lại gặp cung Ly, kết thành ánh sáng rực rỡ, cho nên nói trên rất nóng mà phát ra ngọn lửa.

Lời giải thích: Thuận thì cát, nghịch thì họa. 】

+ Canh Thân, Tân Dậu là Thạch Lựu mộc —— Thân là tháng 7, Dậu là tháng 8, lúc này mộc ở tuyệt địa vậy, duy chỉ có quả cây Thạch Lựu mộc lại đầy, cho nên viết là Thạch Lựu mộc. Khí trở về yên tĩnh nghiêm túc, vật dần dần thành quả, thành hạt, mộc ở bên trên kim, cho nên nói là thu hoạch quả trái cây.

Lời giải thích: Kim nhiều thì tổn, thủy nhuận thì vinh. 】

+ Nhâm Tuất, Quý Hợi là Đại Hải thủy —— thủy quan đới ở Tuất, lâm quan ở Hợi, thủy thì lực dày vậy. Bao gồm cả Hợi là sông lớn, không so với nước ở ao hồ kênh rạch, cho nên viết là Đại Hải thủy. Cho nên nói xu thế ở Thiên Môn, trải qua sự việc đã xong, sinh vượng không lộ ra, tử tuyệt không khô cạn.

Lời giải thích: Trăm sông đổ vào biển, trút hết vào biển cả, Tuất gọi là Thiên Môn, Hợi Tý là sông biển lớn. 】

Luận Thiên can sinh vượng tử tuyệt

Trường sinh Mộc dục Quan Đới Lâm quan Đế vượng Suy Bệnh Tử Mộ Tuyệt Thai Dưỡng

Giáp Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất

Ất Ngọ Tị Thìn Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi

Bính Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu

Đinh Dậu Thân Mùi Ngọ Tị Thìn Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất

Mậu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu

Kỷ Dậu Thân Mùi Ngọ Tị Thìn Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất

Canh Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn

Tân Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tị Thìn Mão Dần Sửu

Nhâm Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi

Quý Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tị Thìn

【Ghi chú 】

+ Trường sinh là nói vật ở lúc phát sinh mà ra, như người được máu huyết của cha mẹ mang thai trong 10 tháng mà sinh ra vậy.

+ Mộc dục chính là mới sinh ra, trên mặt đất là đúng lúc suy nhược, như người smới inh ra được tắm rửa ở trong chậu, chưa có thể nói tốt.

+ Quan đới là vật trưởng thành, có thể được vận dụng, như con người đội nón thắt lưng, đã dùng gánh nhận sự việc.

+ Lâm quan là nói vật thịnh, như con người trưởng thành lớn lên đã có mưu kế mà lập nghiệp được vậy.

+ Đế vượng là nói vật có thể thành lập và duy trì sự nghiệp bền vững, như con người nhận được bổng lộc của vuac, thừa nhận quyền hành đảm nhân vị trí to lớn, tinh thần khỏe mạnh bình an, cho nên hoàn thành.

+ Suy là nói vật đã lão luyện, như tinh huyết con người vị hao tán mà thân thể mệt nhọc vậy.

+ Bệnh là nói vật có ham thích, như mang bệnh trong người mà không thể phục hồi để sử dụng vậy.

+ Thai là nói vật ẩn náu ở bên trong mà chưa nảy sinh, như con người đã nhận khí có thai ở trong bụng mẹ.

+ Dưỡng là nói vạn vật sinh trưởng, như con người ra khỏi bụng mẹ bắt đầu thành người vậy.

Nhưng chỉ nói kim mộc thủy hỏa thổ, ngụ ý là lấy con người vậy.

Nhưng mà gặp trường sinh, quan đới, lâm quan, đế vượng là cát, còn gặp mộc dục, suy, bệnh là không cát vậy. Về phần tử, tuyệt, giống như không có cứu trợ nói thẳng là hung vậy. Bào thai thụ khí cũng là nửa cát, dưỡng cũng giống quay trở lại ban đầu, lý lẽ có thể suy ra.

Thiên can Ngũ Dương thông biến( chỉ xem nhật chủ )

Giáp Bính Mậu Canh Nhâm, 5 can thuộc dương hỷ hợp;

Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là loại Tỉ kiên huynh đệ.

Ất Đinh Kỷ Tân Quý là Kiếp tài là Bại tài, khắc cha cùng vợ.

Bính Mậu Canh Nhâm Giáp là Thực Thần, là Thiên Trù thọ tinh, là nam;

Đinh Kỷ Tân Quý Ất là Thương quan, là Thoái tài, là Hao khí, là cháu trai.

Mậu Canh Nhâm Giáp Bính là Thiên Tài, là thiên thê là thiên thiếp, khắc con trai.

Kỷ Tân Quý Ất Đinh là Chính Tài, Chính Thê, khắc mẫu, là Hợp thần;

Canh Nhâm Giáp Bính Mậu là Thiên Quan, Thất Sát, Quan Quỷ, Tướng tinh.

Tân Quý Ất Đinh Kỷ là Chính Quan, là Lộc Mã, là Vinh thần, là phụ mẫu.

Nhâm Giáp Bính Tuất Canh là Đảo thực, Thiên ấn, Kiêu thần, khắc con gái;

Quý Ất Đinh Kỷ Tân là ấn thụ, chính nhân quân tử, sản nghiệp;

Trong chi Nguyệt lệnh chỗ tàng can chi lấy ngày là chủ, lấy chi tháng kim mộc thủy hỏa thổ làm dụng thần, trong đó lại thủ lấy vượng suy. Như cung Tý nhiều thủ Quý thủy, phải xem ngày sinh như thế nào, nếu sinh từ ngày 1 đến ngày 10, nên lấy Nhâm thủy, từ ngày 11 đến ngày 30 mới lấy Quý thủy, để luận đoán lệnh thần dụng sự, không thể đồng loạt áp dụng, nếu không sẽ không có chuẩn xác. Đưa ra một ví dụ, còn lại theo đó mà suy.

Khắc Ta là Chính Quan Thiên Quan, sinh Ta là Chính ấn Thiên ấn, Ta khắc là Chính Tài Thiên Tài, Ta sinh là Thương quan Thực thần, đồng với Ta là Kiếp tài Bại tài.

Lời giải thích: Giáp mộc chính là dương mộc, vậy Giáp thấy Giáp là Tỉ kiên, thấy Canh kim là Sát, Tân kim là Quan, Quý thủy là Chính ấn, Nhâm thủy là Thiên ấn, Bính hỏa là Thực thần, Đinh hỏa là Thương quan, Mậu thổ là Thiên Tài, Kỷ thổ là Chính Tài, đều lấy dương thấy âm là Chính, dương thấy dương là Thiên. Đưa ra ví dụ này, còn lại cứ suy ra. 】

Thiên can Ngũ Âm thông biến ( chỉ xem nhật chủ)

Ất Đinh Kỷ Tân Quý 5 can thuộc âm, thì thích xung.

Ất Đinh Kỷ Tân Quý là Tỉ kiên, huynh đệ, bằng hữu.

Bính Mậu Canh Nhâm Giáp là Thương quan, tiểu nhân, cướp khí, là cháu.

Đinh Kỷ Tân Quý Ất là Thực thần, Thiên trù Thọ tinh, con cháu;

Mậu Canh Nhâm Giáp Bính là Chính Tài, chính thê, khắc mẫu.

Kỷ Tân Quý Ất Đinh là Thiên Tài, Thiên thê, thiên thiếp, khắc con trai;

Canh Nhâm Giáp Bính Tuất là Chính Quan, Lộc Mã, khắc cha mẹ;

Tân Quý Ất Đinh Kỷ là Thiên Quan, Thất Sát là quan quỷ, người mai mối.

Nhâm Giáp Bính Mậu Canh là ấn thụ, chính nhân quân tử, kị sát;

Quý Ất Đinh Kỷ Tân là Đảo thực, Thiên ấn, Kiêu thần, khắc mẹ.

Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là Bại tài, là Trục mã, khắc vợ.

Lời giải thích: Ngũ âm là phép thông biến, Tử Bình lấy chỗ ngày sinh con người làm chủ, như ngày Ất mộc thấy Canh là Quan, thấy Tân là Sát, thấy Bính là Thương quan, thấy Đinh là Thực thần, thấy Mậu là Chính Tài, thấy Kỷ là Thiên Tài, thấy Nhâm là Chính ấn, thấy Quý là Kiêu thần, thấy Giáp là Kiếp tài, thấy Ất là Tỉ kiên, đưa ra ví dụ như vậy, còn lại suy ra. Dương thấy dương là Thiên, dương thấy âm là Chính, âm thấy âm là Thiên, âm thấy dương là Chính. 】

Luận quy tắc khởi tháng từ năm

Năm Giáp Kỷ thủ lấy Bính,

Năm Ất Canh lấy Mậu làm đầu,

Năm Bính Tân tìm ở trên Canh,

Năm Đinh Nhâm lấy Nhâm thuận hành,

Nếu nói Mậu Quý khởi phương nào?

Ở trên Giáp Dần tìm là đúng.

Phép này như sinh năm Giáp Kỷ, ở trên tháng khởi từ Bính Dần, lấy tháng giêng là tháng Bính Dần, tháng hai là Đinh Mão, cứ đếm thuận mà đi, tới chỗ tháng sinh thì dừng lại, một tháng một vị mà thuận hành.

Luận quy tắc khởi giờ theo ngày

Giáp Kỷ hoàn gia giáp,

Ất Canh Bính tác sơ,

Bính Tân tòng Mậu khởi,

Đinh Nhâm Canh Tý cư,

Mậu Quý hà phương phát?

Nhâm Tý thị chân đồ.

Phép này lấy ngày Giáp Kỷ theo giờ khởi từ Giáp Tý, đếm tới giờ sinh dừng lại. Còn lại theo đó mà suy.

Lời giải thích: Lấy ngày sinh Giáp Tý khởi ở Tý, như ngày Giáp Tý giờ Ngọ ở trên Tý khởi Giáp Tý, ở trên Sửu khởi Ất Sửu, ở trên Dần khởi Bính Dần, còn lại giống như vậy mà tính. 】

Luận phép khởi Thai Nguyên

Thai Nguyên, là tháng thụ thai vậy.

Tử Bình có viết: Trước tiên suy từ Thai tức, tiếp theo là đoán lẽ biến thông, sinh mệnh không thể không dùng chỗ quy tắc này vậy. Phép suy vốn chỉ có dựa theo trước tháng sinh bốn vị là đúng vậy. Phép này như tháng Kỷ Tị, thì ở trước Thân là Thai, lại đếm lui một vị, ở trên Mùi đem chữ Kỷ thiên can tháng sinh, hoán đổi khởi là Kỷ Mùi, đếm tới Canh Thân, chính là tháng thụ thai vậy. Còn lại theo cách này suy ra.

Luận phép khởi Thai tức

Lấy ở trên thiên can nhật chủ chỗ xứ hợp, xứ địa chi hợp là đúng.

Ví dụ như người sinh ngày Giáp Tý, thiên can trụ năm tháng giờ có chữ Kỷ, chính là Giáp và Kỷ hợp. Lại lấy địa chi trụ năm tháng giờ có chữ Sửu, tức là Kỷ Sửu vậy. Còn lại theo chỗ này mà suy ra, chính là Thai Tức vậy.

Ghi chú: Như suy đoán quý mệnh trước tiên suy đoán Thai Tức tốt hay xấu, nếu sinh phù là quý, tương khắc là bần. 】

Luận khởi biến pháp

Lấy thiên can trụ giờ chỗ hợp xứ, địa chi ở dưới trụ giờ hợp xứ.

Ví dụ như giờ Bính Dần, lấy thiên can Bính và Tân hợp, địa chi Dần và Hợi hợp, tức là Tân Hợi vậy. Như trong trụ thiên can không có chữ Tân, địa chi không có chữ Hợi, chỉ đúng là Hư Yêu, bất tất phải câu nệ.

【Ghi chú: Phương pháp này, thầy thời nay hiếm thấy, không biết ý nghĩa này, sao có thể cùng sĩ phu đoán mệnh chứ. 】

Luận khởi thông pháp

Ví dụ như sinh tháng Giáp Tý giờ Dần, an mệnh ở trên Mão. Lấy năm Giáp Kỷ lấy chữ Bính là tháng Bính Dần, tức Đinh Mão là thông. Phương pháp này lấy Dần Mão tương thông, Thìn Tị tương thông, Ngọ Mùi tương thông, Thân Dậu tương thông, Tuất Hợi tương thông, Tý Sửu tương thông là đúng vậy.

【Ghi chú: Thông, là thông khí ở trong tháng, mà xuyên suốt nhau, vậy Dần Mão Mùi là khí tương thông. 】

Luận khởi Ngọc Đường Thiên Ất quý nhân

Giáp Mậu kiêm Ngưu Dương,

Ất Kỷ Thử Hầu hương,

Bính Đinh Trư Kê vị,

Nhâm Quý Thỏ Xà tàng,

Canh Tân phùng Mã Hổ,

Thử thị Quý nhân phương,

Mệnh trung như ngộ thử,

Định tác Tử vi lang.

Thập can đến thập chi đều là phương chỗ đến Quý nhân, duy chỉ có hai cung Thìn Tuất là không đến phương Quý nhân, không biết rằng Thìn Tuất là đất của ác tinh Khôi Cương, Thiên Ất quý nhân không đến, cho nên không là quý vậy.

【 Ghi chú: Quý nhân chính là thần ở trên trời, cho nên viết là Thiên Ất, chỗ phương đến có Ác sát là hỗn tạp, xung lạc đất Không Vong, cho nên không quý vậy. 】

Chú thích: Ngưu (là Sửu), Dương (Mùi), Thử (Tý), Hầu (Thân), Trư (Hợi), Kê (Dậu), Thỏ (Mão), Xà (Tỵ), Mã (Ngọ), Hổ (Dần), Long (Thìn), Khuyển (Tuất).

Khởi Thiên Quan quý nhân

Thiên Quan độn Giáp nhập Dương quần,

Ất hối Thanh Long sự khả trần,

Bính kiến Tị hề vi Quan quý,

Đinh kiến Dậu hề Mậu Tuất tầm,

Kỷ dụng Mão hề Canh nghi hợi,

Tân hỉ Thân hề Nhâm ái Dần,

Lục Quý chi nhân phùng kiến Ngọ,

Tất tác triêu đình hiển đại nhân.

Phương pháp này lấy can năm sinh mà luận. Sinh năm Giáp Thân thấy đúng Mùi, nếu thấy ở trụ giờ là rất tốt.

Ghi chú: Thiên Quan cần Thiên nguyên thanh tú, không phản thương, cùng nạp âm mà có phúc thần trợ giúp, đúng là tốt vậy. Phúc thần là Tài Quan Ấn vậy. Gặp ác sát là không tốt. 】

Luận Thái Cực quý nhân

Giáp Ất sinh nhân Tý Ngọ trung,

Bính Đinh Kê Thỏ định hanh thông,

Mậu Kỷ lưỡng can lâm tứ quý,

Canh Tân Dần Hợi lộc doanh phong,

Nhâm Quý Tị Thân thiên hỉ mỹ,

Trị thử ứng đương phúc khí chung,

Canh tu quý cách tương phù hợp,

Phong hầu vạn hộ liệt tam công.

Phương pháp này là lấy năm sinh làm chủ, không lấy can thì không phải vậy.

Ghi chú : Thái Cực là lúc khởi đầu vậy. Vật tạo ra ở lúc ban sơ nói là Cực, là thu lấy thành quả vậy. Vật có trở về viết là Cực, quý ở giữ gìn thủy chung cho nhau vậy. 】

Luận Tam Kỳ quý nhân

Trên Thiên Tam Kỳ Giáp Mậu Canh,

Dưới ĐịaTam Kỳ Ất Bính Đinh,

Giữa Nhân Tam Kỳ Nhâm Quý Tân.

Giáp Mậu Canh lấy Giáp là ngày, lấy Mậu là tháng, lấy Canh là Tinh, đã có Nhật Nguyệt Tinh, địa chi cần gặp Tuất Hợi là Thiên Môn, phương mới thành. Nếu không có Tuất Hợi, cần có Nhật Nguyệt Tinh mà không có Thiên Môn, thì không thành vậy. Còn có Thiên Môn, nếu có Sửu Mão Dậu Tị lại không thành. Trong Dần có sao Ki chủ về gió, trong Dậu có sao Tất chủ mưa, Sửu Mão là sấm gió, thì Tam Kỳ mất sáng, là không gặp thời vậy. Dưới Địa có Tam Kỳ, Ất là âm mộc Khôi tinh, Bính là vua dương hỏa, Đinh là sao âm hỏa, chỗ này Địa có thành kỳ. Phải dụng Ất, Ất thuộc Khôn thổ, nếu không có thì không tốt.

【Ghi chú : Trình Tư viết “Tam tinh phải thuận, đảo loạn là không phải, thì Thái dương sẽ thành mục nát vậy” . 《 Hồ Trung Tử 》 viết: “Tam Kỳ đảo loạn, Lã Vọng là vua đầu óc chuyên danh lợi” . 】

Nhật là Mặt trời, Nguyệt là Mặt Trăng, Tinh là các vì sao.

Luận Nguyệt Đức quý nhân

Tháng Dần Ngọ Tuất ở Bính; tháng Thân Tý Thìn ở Nhâm; tháng Hợi Mão Mùi ở Giáp; tháng Tị Dậu Sửu ở Canh.

Phương pháp này khởi từ Dần, Bính Giáp Nhâm Canh, tháng lần lượt đếm thuận, xoay vòng mà trở lại ban đầu, cũng cần thấy ở trên ngày, lại có Phúc thần trợ giúp là tốt.

Ghi chú : Dần Ngọ Tuất Bính là hòa thuận, tháng 1, 5, 9; Thân Tý Thìn Nhâm là hòa thuận, tháng 3, 7, 11; Hợi Mão Mùi Giáp là hòa thuận, tháng 2, 6, 10; Tị Dậu Sửu Canh là hòa thuận, tháng 4, 8, 12. 】

Luận Nguyệt Đức hợp

Tháng Dần Ngọ Tuất ở Tân, tháng Thân Tý Thìn ở Đinh, tháng Hợi Mão Mùi ở Kỷ, tháng Tị Dậu Sửu ở Ất.

Phép này khởi từ Dần, vị trí Tân Kỷ Đinh Ất lần lượt đếm thuận.

Luận Thiên Đức quý nhân

Chính Đinh nhị Khôn trung,

Tam Nhâm tứ Tân đồng,

Ngũ kiền lục giáp thượng,

Thất Quý bát Dần đồng,

Cửu Bính thập quy Ất,

Tý Tốn Sửu Canh trung.

( 1 Đinh 2 thấy Khôn, 3 Nhâm 4 Tân đồng,5 Càn 6 đến Giáp,7 Quý cùng 8 Dần,9 Bính 10 quy Ất,Tý Tốn Sửu Canh thành).

Phép này lấy tháng sinh phân ra, người sinh tháng 1 thấy Đinh, tháng 2 thấy Thân là đúng vậy ( Thân thuộc cung Khôn).

Ghi chú: Quý nhân ở trụ năm tháng, là có lợi cho cha mẹ, ở trụ ngày giờ thì có lợi cho bản thân. 】

Luận Thiên Trù quý nhân

Giáp Bính ái hành Song Nữ du,

Ất Đinh Sư Tử Kỷ Kim Ngưu,

Mậu tọa Mộc Dương Canh ngư Phúc,

Nhị thiên thạch lộc tọa hoàng châu,

Quý dụng Thiên Hạt Nhâm nhân Mã,

Tân đáo Bảo Bình lộc tự do,

Thử thị Thiên Trù chú Thiên Lộc,

Lệnh nhân phúc tuệ lưỡng ưu du.

Ghi chú : Chỗ này là lúc lấy Giáp mộc sinh Bính là Thực, Bính lộc ở Tị, cho nên lấy Tị là lộc, giống như con ăn lộc của cha vậy. 】

Luận Phúc Tinh quý nhân

Giáp Bính tương yêu nhập Hổ hương,

Canh du Thử huyệt tối cao cường,

Mậu Hầu Kỷ Mùi Đinh nghi Hợi,

Bính nhân duy hỉ Tuất trung tàng.

Canh sấn Mã đầu Tân đáo Tị,

Nhâm kỵ Long bối hỉ phi thường,

Canh hữu Đinh nhân ái tầm Dậu,

Quý Ất nghi Ngưu Mão tự xương.

Ghi chú : Chỗ này là lấy Giáp Thực Bính, lấy Giáp độn mộc, nếu được Bính Dần tức là Phúc tinh quý nhân, chủ đại lợi. Còn lại theo chỗ này mà suy. 】

Luận Tam Nguyên

Ví dụ như Giáp Tý, lấy Giáp mộc là Thiên nguyên, Tý là Địa nguyên, trong Tý chỗ tàng Quý thủy là Nhân nguyên.

Luận Thập Can Lộc

Giáp Lộc ở Dần, Ất lộc ở Mão, Bính Mậu lộc ở Tị, Đinh Kỷ lộc ở Ngọ, Canh lộc ở Thân, Tân lộc ở Dậu, Nhâm lộc ở Hợi, Quý lộc ở Tý.

Nói về Lộc là lấy chỗ thiên can địa chi ở đất vượng. Như Giáp lộc ở Dần, là địa chi ở Đông phương Giáp Ất; Thìn, Dần, Mão phối hợp, còn lại đều như vậy mà suy. Thìn Tuất Sửu Mùi là Thiên Cương ác sát, lộc thần không đến vậy.

Phàm mệnh người mang lộc, hoặc hung hoặc cát, hoặc quý hoặc tiện, lấy gì mà luận?

Thiên ất Diệu chỉ》nói:

Lộc Mã quý nhân vô chuẩn thác,

Khảo cứu ngũ hành chi thiện ác,

Thiên nguyên luy nhược vị vi tai,

Địa khí kiên lao túc hoan nhạc.

Nguyên Tủy ca 》nói:

Lộc Mã canh hữu đa bàn thuyết,

Tự suy tự tử kiêm bại tuyệt.

Nhược vô cát sát gia trợ thì,

Định tri phá tổ đa phù liệt

Ghi chú : Lộc là có được tước lộc vậy, được giàu có chính gọi là Lộc. Tối hỷ sinh vượng, tối kị hưu tù, như có lộc thì cần phải có Dương Nhận để bảo vệ mới nói là phúc. 】

Luận Dịch Mã

Thân Tý Thìn Mã ở Dần; Dần Ngọ Tuất Mã ở Thân; Tị Dậu Sửu Mã ở Hợi; Hợi Mão Mùi Mã ở Tị.

Phương pháp này lấy thủy sinh ở Thân, bệnh ở Dần mộc. Thủy sinh mộc, mộc là chỗ thủy tử, chỗ này chính là xứ bệnh thấy tiếp đến tử. Như người bệnh không thể tiến, chờ đón tiếp tử, giống như đến tiếp Dịch Mã. Còn lại theo chỗ này mà suy.

Ghi chú: Có Ngựa thì cần phải có An (yên Ngựa), tất phải có Lan mới tốt. Không có An thì không thể cưỡi, không có Làn thì không thể dừng lại, đều là vô dụng vậy. Trước Mã là Lan, sau Mã là An. 】

Luận Thiên Xá

Mùa Xuân là Mậu Dần, mùa Hạ là Giáp Ngọ, mùa Thu là Mậu Thân, mùa Đông là Giáp Tý. Phàm can ngày người sinh gặp là phương đắc dụng.

Ghi chú: Sao này chuyên giải cứu tai họa. 】

Luận Hoa Cái

Dần Ngọ Tuất thấy Tuất, Tị Dậu Sửu thấy Sửu, Thân Tý Thìn thấy Thìn, Hợi Mão Mùi thấy Mùi.

Hoa Cái vốn là tốt, phàm trong mệnh con người gặp, đa số là chủ cô quả, dù có quý cũng không tránh khỏi cô độc vậy, đa số gặp là luận là tăng đạo. 《 Hồ Trung Tử》nói: Hoa Cái là sao nghệ thuật, chủ cô quả.

Ghi chú: Sao này giống như cái lộng dù che cho vua chúa. 】

Luận Thập Can Học Đường

Mệnh Kim thấy Tị, chính là Tân Tị; mệnh Mộc thấy Hợi, chính là Kỷ Hợi; mệnh Thủy thấy Thân, chính là Giáp Thân; mệnh Thổ thấy Thân, chính là Mậu Thân; mệnh Hỏa thấy Dần, chính là Bính Dần.

Ghi chú : Người có sao này chủ thông minh, thông đạt, đăng khoa cập đệ. Phạm Không Vong, là làm nghề dạy học. 】

***********************

Quyển một (2)

Luận Thập Can Thực Lộc

Giáp Thực là Bính, Ất Thực là Đinh, Bính Thực là Mậu, Đinh Thực là Kỷ, Mậu Thực là Canh, Kỷ Thực là Tân, Canh Thực là Nhâm, Tân Thực là Quý, Nhâm Thực là Giáp, Quý Thực là Ất.

Ca viết:

Đương thời muốn biết tên Thực thần,

Người Giáp Thực Bính, người Ất Đinh,

Bính Thực Mậu này Đinh Thực Kỷ,

Kỷ Thực Tân này Mậu Thực Canh,

Canh Nhâm Tân Quý hỷ Thiên tướng,

Nhâm Giáp Quý Ất nhất vinh quang,

Nếu gặp Thực thần kỵ Lộc Mã,

Tất chỗ hào phú lập công danh.

Thực đừng Không Vong, Dương Nhận, Sát,

Thực đừng hưu tù cùng tử tuyệt.

Thực sinh Thực vượng, Thực quý thần,

Thực Ấn Thực Tài càng ưu việt.

Nếu như tìm hiểu được chính xác,

Thực Lộc Thiên Trù không dừng lại.

Ghi chú: Thực Thần là con do Ta sinh ra vậy, như Giáp mộc sinh Bính hỏa gọi là Thực thần, vượng thì chủ thân thể mập mạp rất thích ăn uống. 】

Luận Kim Dư Lộc

Thập can trước Lộc hai vị là đúng. Như Giáp lộc ở Dần, ở trên Thìn là đúng, còn lại suy ra.

Ghi chú: Gặp sao này chủ mang đến cho vợ của cải, tiền tài. 】

Luận Củng Lộc

Ví như người sinh Mậu Thìn thấy Bính Ngọ, người sinh Bính Ngọ thấy Mậu Thìn; người sinh Đinh Tị thấy Kỷ Mùi, người sinh Kỷ Mùi thấy Đinh Tị. Trước sau củng nhau, chỗ này chỉ có bốn vị, còn lại thì không phải.

Ghi chú : Mậu Bính lộc ở Tị, Thìn Ngọ hư củng Tị lộc, kị thấy điền thực, chỉ cần Hư là quý. 】

Luận Giao lộc

Ví như người sinh Giáp Thân thấy Canh Dần, người sinh Canh Dần thấy Giáp Thân, vì Giáp lộc ở Dần, Canh lộc ở Thân, hoán đổi qua lại với nhau.

Luận Ám lộc

Ví như người sinh Giáp gặp Hợi, vì Giáp lộc ở Dần, Dần và Hợi hợp. Người sinh Ất gặp Tuất, vì Ất lộc ở Mão, Mão và Tuất hợp là đúng. Còn lại theo chỗ này mà suy.

【Ghi chú : Chỗ này tứ trụ không có lộc, lại thành quý mệnh, là bởi vì ám tàng Lộc Mã, con người không thể thấy, là đại quý. 】

Luận Giáp lộc

Ví như người sinh Giáp gặp đúng Sửu Mão. Vì Giáp lộc ở Dần, trước có Sửu, sau có Mão. Người sinh Ất gặp đúng Dần Thìn, Ất lộc ở Mão, trước có Thìn, sau có Dần. Còn lại theo chỗ này mà suy.

Luận Viên Thành

Viên Thành chủ cung Thê cùng hợp với Dịch Mã, chủ dâm dục. Phương pháp này lấy ở trên thiên can ngày trường sinh là đúng. Như sinh ngày Giáp Thìn trường sinh ở giờ Hợi, Giáp trường sinh ở Hợi, Thân Tý Thìn Mã ở Dần, tức là Hợi và Dần hợp vậy.

Ghi chú: Tử Bình nói rằng: Viên Thành hợp Mã là vợ phạm pháp, chủ có vợ bỏ nhà theo trai, không thể không truy cứu. 】

Luận Đế Tọa

Phương pháp này lấy trụ giờ nạp âm đúng ở xứ vượng vậy. Như giờ Giáp Tý, nạp âm thuộc kim, kim vượng ở Dậu, tức là ở trên Dậu vậy. Còn lại theo đó mà suy. Đế tọa chủ ở cung Tử tức vậy.

Ghi chú: Tử Bình nói: Đế Tọa gặp Hư thì con cái không ra gì, cho nên là nói như vậy.】

Luận Lục Giáp Không Vong

Trong tuần Giáp Tý không có Tuất Hợi; trong tuần Giáp Tuất không có Thân Dậu; trong tuần Giáp Thân không có Ngọ Mùi, trong tuần Giáp Ngọ không có Thìn Tị; trong tuần Giáp Thìn không có Dần Mão; trong tuần Giáp Dần không có Tý Sửu.

Không Vong, còn gọi là Thiên Trung Sát. Giáp Tý thuộc kim, đến Dậu mà đủ 10 can vậy, vì độc nhất không có Tuất Hợi, nên gọi là Không Vong. Dương Không gọi là Không, âm Không gọi là Vong. Tuất gọi là Không, Hợi gọi là Vong, đối cung Thìn Tị gọi là Cô Hư. Còn lại theo chỗ này mà suy.

Ghi chú: Không Vong đối cung là Cô Hư, hỏa Không thì phát, thủy Không thì bỏ, kim Không thì vang, mộc Không thì gãy, thổ Không thì sụp. 】

Luận Tiệt lộ Không Vong

Giáp Kỷ Thân Dậu ưu sầu nhất,

Ất Canh Ngọ Mùi không nên cầu,

Bính Tân Thìn Tị hỏi sao phiền?

Đinh Nhâm Dần Mão công dã tràng,

Mậu Quý Tý Sửu vua phải nhớ,

Cuộc đời chỗ này nhiều ưu phiền,

Đột nhiên lại được gặp phải Thai,

Trâm cài tóc bạc khổ không ngừng.

Lấy ngày áp dụng thấy ở trụ giờ là đúng, lấy năm luận ở ngày giờ là không phải vậy. Ngày Giáp Kỷ độn trong 12 giờ, Nhâm Quý là thủy thấy ở trên 2 giờ Thân và Dậu, cho nên Giáp Kỷ thấy Thân Dậu là vậy, còn lại suy ra theo chỗ này. Ví dụ như ngày Giáp Tý thấy giờ Thân Dậu chính là đúng phạm, còn lại đều là không phải vậy. Chỗ này không phải là Không Vong nhưng thấy ở trong mệnh là không tốt, cho đến trăn việc, cầu tài quan đều bất lợi vậy.

Ghi chú: Tiệt lộ giống như con người ở trên đường lộ, gặp nước thì không thể tiến lên phía trước, không thể có cứu giúp, cho nên viết là Tiệt lộ Không vong. 】

Luận Tứ Đại Không Vong

Giáp Tý cùng Giáp Ngọ, trong tuần thủy tuyệt chảy, Giáp Dần cùng Giáp Thân, khí kim khó cầu.

Trong Lục Giáp chỉ có trong hai tuần Giáp Thìn, Giáp Tuất, có đủ kim mộc thủy hỏa thổ. Ở bên trong tuần Giáp Tý, Giáp Ngọ đơn độc không có thủy, tuần Giáp Dần, Giáp Thân không có kim. Ở trong bốn tuần này, ngũ hành không đủ, gọi là Tứ Đại Không Vong. Như tuần Giáp Tý, Giáp Ngọ, chủ người thấy thủy gọi là chính phạm. Như ở trong mệnh không phạm, hành vận đến đất thủy thỉ cũng là phạm vậy. Tuần Giáp Thân, Giáp Dần cũng luận giống như vậy.

Ghi chú: Chỗ này chủ là chết yểu, 《 Hồ Trung Tử》 viết: Nhan Hồi chết yểu, chỉ vì gặp Tứ đại Không vong. 】

Luận Thập ác Đại bại

Giáp Thìn, Ất Tị cùng Nhâm Thân; Bính Thân, Đinh Hợi cùng Canh Thìn; Mậu Tuất, Quý Hợi thêm Tân Tị, Ất Sửu đều đến 10 vị thần.

Dụng binh cứu quốc nên đại kị,

Rồng Rắn rời hang cũng khó thân,

Sinh mệnh nếu vẫn gặp ngày này,

Kho tàng vàng bạc hóa thành tro.

Thập ác là hung vậy. Đại bại là sợ địch vậy. Nói trong tuần lục Giáp, có 10 ngày lộc gặp nhập Không Vong, 10 ngày này gọi là Đại bại, cho nên viết là Thập ác Đại bại. Trong mệnh phạm, phương nên lấy nhật chủ thấy là đúng. Còn lại nếu thấy, không có thể liền lấy Thập Ác luận. Nếu có cát thần phù trợ thì hơi tốt. tại sao gọi là Lộc nhập Không vong? Như Giáp Thìn, Ất Tị, Giáp lấy Dần là lộc, Ất lấy Mão là lộc, vì Giáp Thìn lộc lấy Dần Mão mộc là Không vong, gặp chỗ này gọi là Lộc nhập Không vong, là lấy bại vậy. Nhâm Thân, Nhâm lấy Hợi là lộc, tuần Giáp Tý lấy Hợi là Không vong, là lấy bại vậy. Còn lại theo chỗ này mà suy ra.

Ghi chú: Lấy ở trên can ngày thấy là đúng phương, tứ trụ có nhiều cát thần, thân vượng vẫn hơi có tốt, không thể liền lấy Thập Ác mà luận. 】

Luận ngày Tứ Phế

Mùa Xuân có Canh Thân ( Kim tù tử ), mùa Hạ có Nhâm Tý ( Thủy tù tử ), mùa Thu có Giáp Dần ( Mộc tù tử ), mùa Đông có Bính Ngọ ( hỏa tù tử ).

Bởi vì vị trí tử, tù mà phế bỏ, vô dụng. Mùa Xuân là mộc thần dụng sự, kim tù mà vô dụng, cho nên lấy Canh kim là Phế. Mùa Hạ dụng hỏa mà Nhâm thủy là Phế. Mùa Thu dụng kim mà Giáp mộc là Phế. Mùa Đông dụng thủy mà Bính hỏa là Phế. Phàm trong mệnh có gặp, chủ sự việc không thành, cần phân ra bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông xem mới chuẩn.

Ghi chú: mệnh kim lấy Xuân thấy Canh Tân, mùa Hạ thấy Nhâm Quý, mùa Thu thấy Giáp Ất, mùa Đông thấy Bính Đinh đều gọi là Phế, đều phạm vậy. 】

Luận Thiên Địa chuyển Sát

Xuân Mão Hạ Ngọ Thiên địa chuyển,

Thu dậu Đông Tý liền thành tai.

Người đi trên đường phải lo chết,

Làm nhà chưa thành lo tang trước.

Vật cực mà phản gọi là Chuyển,

Vượng ở thiên can viết Thiên chuyển,

Vượng ở nạp âm viết Địa chuyển.

Gọi là Thiên Địa chuyển. Như mùa Xuân mộc vượng, thấy Ất Mão chính là Thiên nối Thiên, gọi là Thiên chuyển. Thấy Tân Mão chính là nạp âm vượng liên tục, gọi là Địa chuyển. Mùa Hạ là hỏa vượng, thấy Bính Ngọ gọi là Thiên chuyển, thấy Mậu Ngọ là Địa chuyển. Mùa Thu chính là kim vượng, thấy Tân Dậu gọi là Thiên chuyển, thấy Quý Dậu là Địa chuyển. Mùa Đông là mùa thủy vượng, thấy Nhâm Tý gọi là Thiên chuyển, Bính Tý gọi là Địa chuyển. Địa chuyển lấy nạp âm là chính, là ngày tối kị, kiến quan nhận chức, xuất hành, mua bán, tạo việc làm, giá thú, chắc chắn sẽ gặp hung. Mệnh gặp ngày này, tất chủ chết yểu.

Ghi chú: Xuân Ất Mão là Thiên chuyển, mùa Hạ Bính Ngọ, mùa Thu là Tân Dậu, mùa Đông là Nhâm Tý; mùa Xuân Tân Mão là Địa chuyển, mùa Hạ là Mậu Ngọ, mùa Thu là Quý Dậu, mùa Đông là Bính Tý. Kinh viết: Hàn Tín bị thương, chỉ vì do Thiên Địa chuyển Sát. 】

Luận Thiên La, Địa Võng

Thìn là Thiên La, Tuất là Địa Võng, lại là chỗ chiếm của Khôi Cương, là đất Thiên Ất quý nhân không đến vậy.

Tại sao thấy Tuất và Hợi gọi là Thiên La, Thìn và Tị gọi là Địa Võng?

Phàm người mệnh hỏa gặp Tuất Hợi thì gọi là Thiên La, người mệnh thủy thổ gặp Thìn Tị thì gọi là Địa Võng, chính là xứ ngũ hành mộ tuyệt vậy, chính là vị trí ám muội không rõ ràng. Nếu mệnh kim mộc, không có nói là Thiên la Địa võng. Nam kị Thiên La, nữ kị Địa Võng. Phần đa chủ trì trệ, thêm ác sát chắc chắn dẫn tới tử vong.

Ghi chú : Tuất Hợi gọi là Thiên La, Thìn Tị gọi là Địa Võng. Duy chỉ có mệnh thủy hỏa thổ là kị, mệnh kim mộc thì không phạm. Nam kị Thiên la, nữ kị Địa võng. 】

Luận Dương Nhận Âm phi Nhận, đối cung Dương Nhận tức là Phi Nhận

Người sinh Giáp, Dương Nhận ở Mão, Dậu là Phi Nhận; người sinh Ất, Dương Nhận ở Thìn, Tuất là Phi Nhận; người sinh Bính, Dương Nhận ở Ngọ, Tý là Phi Nhận; người sinh Đinh, Dương Nhận ở Mùi, Sửu là Phi Nhận; người sinh Mậu, Dương Nhận ở Ngọ, Tý là Phi Nhận; người sinh Kỷ, Dương Nhận ở Mùi, Sửu là Phi Nhận; người sinh Canh, Dương Nhận ở Dậu, Mão là Phi Nhận; người sinh Tân, Dương Nhận ở Tuất, Thìn là Phi nhận; người sinh Nhâm, Dương Nhận ở Tý, Ngọ là Phi Nhận; người sinh Quý, Dương Nhận ở Sửu, Mùi là Phi Nhận.

Dương, là chủ cương. Nhận là chủ hình. Qua Lộc thì sinh Nhận, công thành nên thoái, không thoái chính là mê muội mà tiến vậy. Nói tiến mà gặp Thương quan, nên Dương Nhận ở trước lộc một thần, gọi là vật cực thì suy vậy.

Ghi chú : 《 Hồ Trung Tử》nói: Phàm người có Lộc tất phải dựa vào Nhận để bảo vệ.

Nhất Hành thiện sư viết: Dương Nhận trùng trùng lại kiến lộc, phú quý đầy vàng ngọc. Vì lấy ở thiên can năm mệnh chủ chinh chiến, sinh mệnh chủ ở chiến phạt, kẻ tiểu nhân chủ hành nghề đồ tể. 】

Luận phép khởi đại vận

Phàm khởi đại vận, đều theo chỗ ngày sinh, dương nam âm nữ thì thuận hành, đếm tới Tiết sắp đến. Dương nữ âm nam thì nghịch hành, đếm đến tiết đã qua, nhưng chia cho 3 ngày thành một năm.

+ Dương nam âm nữ thì thuận vận, ví dụ như năm Giáp Tý, năm Giáp Kỷ lấy Bính thủ, tháng giêng là thấy Bính Dần, nam sinh sau một ngày, đếm thuận tới tháng 2 là tiết Kinh Chập, mà được 30 ngày, khởi vận lúc 10 tuổi, thuận hành là Đinh Mão. Như năm Ất Sửu, năm Ất Canh lấy đầu là Mậu, tháng giêng khởi từ Mậu Dần, mùng 1 là Lập Xuân, nữ sinh ngày 18, đếm thuận tới tháng 2 tới tiết Kinh Chập dừng lại, được 4 lần 3 là 12 ngày, khởi vận lúc 4 tuổi, thuận hành đến Kỷ Mão. Còn lại suy theo cách này.

+ Âm nam dương nữ thì nghịch vận. Ví dụ như năm Ất Sửu, tuổi Ất Canh lấy can đầu là Mậu, tháng giêng khởi ở Mậu Dần, sau ngày mùng 1 là Lập Xuân nam sinh ngày 15. Đếm nghịch tới ngày 1 tiết Lập Xuân, được 3 lần 5 là 15 ngày, khởi vận lúc 5 tuổi, vận hành Đinh Sửu. Như sinh năm Giáp Tý, tuổi Giáp Kỷ lấy Bính làm đầu, tháng giêng là Bính Dần, nữ sinh sau ngày Lập Xuân 10 ngày, đếm nghịch tới ngày mùng 1 Lập Xuân dừng lại, được 9 ngày, 3 lần 3 là 9 ngày, khởi vận lúc 3 tuổi, nghịch hành đến Ất Sửu. Còn lại theo chỗ này mà suy ra. Nếu thừa 1 ngày, trừ đi 1 ngày; thiếu một ngày, thêm một ngày.

Ghi chú : Như sinh giờ Ngọ ngày mùng 1, nếu giờ Mão là Lập Xuân, thì lấy tháng giêng; nếu sinh giờ Dần, giờ Mùi giao Xuân, vẫn còn tiết tháng 12 của năm trước mà suy đoán mệnh. Như sinh giờ Tý đầu tháng giêng, sinh giờ Tý ban đêm trước 4 khắc ( 1 khắc bằng 15 phút) vẫn lấy tháng 12 năm trước, giờ Tý sau 4 khắc suy ra lấy ngày đầu tháng giêng năm nay. Chính là nói thần tiên khó đoán giờ Tý ban đêm. 】

Luận phép hành Tiểu Vận

Phàm Tiểu Vận không nói 2 mệnh âm dương, nam một tuổi khởi ở Bính Dần, 2 tuổi thuận hành đến Đinh Mão. Tiệt pháp: 11 tuổi khởi Bính Tý, 21 tuổi khởi Bính Tuất, cứ xoay vòng mà trở lại ban đầu. Nữ một tuổi khởi từ Nhâm Thân, 2 tuổi nghịch hành khởi từ Tân Mùi. Tiệt pháp: 1 tuổi Nhâm Thân, 11 tuổi Nhâm Tuất, 21 tuổi Nhâm Tý, cứ xoay vòng mà trở lại ban đầu.

Ghi chú: Phép Tiểu Vận, nam theo phương Bính Dần, lấy nghĩa Tam Dương, nữ theo Nhâm Thân, là theo nghĩa Tam âm. Một năm 1 tuổi, nam thuận nữ nghịch, đếm hết một Hoa Giáp trở lại ban đầu. 】

Luận ngũ hành tương sinh tương khắc

+ Luận ngũ hành tương sinh: Kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim.

+ Luận ngũ hành tương khắc: Kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim.

Sinh Ta gọi là phụ mẫu, Ta sinh gọi là tử tôn, khắc Ta gọi là quan quỷ, Ta khắc gọi là thê tài, Tỉ hòa Ta gọi là huynh đệ. Tường thuật theo ngũ dương, ngũ âm thông biến đồ.

Ghi chú: Sinh Ta gọi là Ấn, Ta sinh gọi là Thương quan Thực thần, khắc Ta gọi là Quan quỷ Thất sát, Ta khắc gọi là thê tài, Tỉ hòa gọi là Tỉ kiên. 】

Luận Tiết khí ca

Tháng giêng Lập Xuân tiết Vũ Thủy,

Tháng 2 Kinh Chập cùng Xuân Phân,

Tháng 3 Thanh minh cùng Cốc Vũ,

Tháng 4 Lập Hạ Tiểu Mãn phương,

Tháng 5 Mang Chủng cùng Hạ Chí,

Tháng 6 Tiểu Thử còn Đại Thử,

Tháng 7 Lập Thu còn Xử Thử,

Tháng 8 Bạch Lộ và Thu Phân,

Tháng 9 Hàn Lộ còn Sương Giáng,

Tháng 10 Lập Đông giương Tiểu Tuyết,

Tháng Tý Đại Tuyết tiết Đông Chí,

Tháng Sửu Tiểu Hàn vượng Đại Hàn.

Luận thiên địa can chi ám tàng tổng quyết

Lập Xuân nhớ 3 dụng Bính hỏa,

Còn lại Giáp mộc vượng đề cương.

Kinh Chập Ất mộc chưa dụng sự,

Xuân Phân Ất mộc đúng thích hợp.

Thanh Minh Ất mộc quản 10 ngày,

Sau đến 8 ngày phương Quý thủy.

Cốc Vũ trước 3 Mậu thổ thịnh,

Trong đó thổ vượng phải tiêu tường.

Lập Hạ lại về phục Mậu thổ,

Tiểu Mãn quá trưa Bính hỏa sáng.

Mang Chủng Kỷ thổ vừa thích hợp,

Dừng đúng 7 ngày hỏa giương cao.

Hạ Chí âm sinh lợi dương cực,

Bính Đinh hỏa vượng có chủ trương.

Tiểu Thử 10 ngày Đinh hỏa vượng,

Sau đến 3 ngày Ất mộc phương.

Kỷ thổ 3 ngày uy phong thịnh,

Đại Thử Kỷ thổ 10 ngày vàng.

Lập Thu 10 ngày Nhâm thủy lên,

Xử Thử 10 ngày Canh kim tốt.

Bạch Lộ 7 ngày Canh kim vượng,

8 ngày chỉ độc hành Tân kim.

Hàn Lộ 7 ngày Tân kim quản,

8 ngày Đinh hỏa lại hàng thủy.

Sương Giáng Kỷ thổ 15 ngày,

Trong đó tạp khí thủ không sao.

Lập Đông 7 ngày Quý thủy vượng,

Nhâm thủy 8 ngày chớ vội chảy.

Tiểu Tuyết 7 ngày Nhâm thủy mạnh,

8 ngày Giáp thủy còn hương thơm.

Đại Tuyết 7 ngày Nhâm thủy quản,

Đông Chí Quý thủy càng chảy mạnh.

Tiểu Hàn 7 ngày Quý thủy dưỡng,

8 ngày Tân kim tàng Sửu khố.

Đại Hàn 10 ngày Kỷ thổ thịnh,

Thuật giả nghiên cứu nên kĩ càng.

Ghi chú: Chỗ này bắt đầu là Lập Xuân, hoặc là tháng giêng ngày mùng 1 là Lập Xuân, hoặc 1, 2,3,4,5,6 Lập Xuân, lại không nói Bính thêm 2 ngày, chỉ lấy bắt đầu từ tiết khí, mà Lập Xuân là Tiết, Vũ Thủy là Hậu, vừa thành tiết khí, lần lượt từng tháng giống như vậy. 】

Luận Ngày làm chủ

Tôi thường xem chỗ ghi lại trong sách thời nhà Đường, có Lý Hư Trung, luận mệnh con người lấy chỗ can chi sinh năm, sinh khắc tháng, ngày, giờ để nói quý tiện, thọ yểu vậy. Đến phần thời Tống, mới có thuyết Tử Bình. Lấy nhật can làm chủ, lấy năm làm gốc, lấy tháng làm mầm mống, lấy ngày làm hoa, lấy giờ làm quả, lấy sinh vượng tử tuyệt hưu tù, chế hóa quyết mệnh người tốt xấu, lý lẽ là tất nhiên vậy, lại có gì mà nghi ngờ nữa chứ!

+ Một, viết Quan phân ra âm dương, viết Quan, viết Sát, như Giáp Ất thấy Canh Tân vậy (Giáp thấy Canh là Sát, là dương thấy dương vậy. Thấy Tân là Quan, là dương thấy âm vậy. Ất mộc Canh là Quan, thấy Tân là Sát. ).

+ Hai, viết Tài, phân ra âm dương, viết Chính Tài, Thiên Tài, như Giáp Ất là thấy Mậu Kỷ vậy ( dương thấy âm là Chính Tài, âm thấy âm là Thiên Tài).

+ Ba, viết sinh khí âm dương, viết Ấn thụ, viết Đảo Thực, như Giáp Ất thấy Nhâm Quý là vậy ( Giáp thấy Quý, Ất thấy Nhâm gọi là Ấn thụ; Giáp thấy Nhâm, Ất thấy Quý gọi là Thiên Ấn. ).

+ Bốn, viết cướp khí âm dương, viết là Thực thần, viết là Thương quan, như Giáp Ất thấy Bính Đinh là vậy ( Giáp thấy Bính là Thực thần, thấy Đinh là Thương quan, Ất thấy Đinh là Thực thần, thấy Bính là Thương quan. ).

+ Năm, viết đồng loại âm dương, viết là Kiếp tài, viết là Dương Nhận, như Giáp Ất thấy Giáp Ất là vậy ( dương thấy dương gọi là Dương Nhận, âm thấy dương gọi là Kiếp tài.). Đại để quý tiện, thọ yểu, tử sinh, đều không thoát ra ở ngũ hành vậy. Nhưng mà có lập cách cục xằng bậy, theo bày ra tên gọi mà không có thực dụng, như Phi Thiên Lộc Mã, Đảo Xung, Tỉnh Lan Xoa tức là Thương quan. Tách ra mà lập thành, đưa ra một điểm này để biết, còn lại tự suy đoán vậy.

Ghi chú: Cho dù thấy Sát Quan, thân vượng, Sát chủ cao cường, Quan chủ lấy tốt đẹp. Tài là gốc dưỡng mệnh. Ấn là mẹ sinh ra ta. Thương quan, Thực thần là chỗ ta sinh ra, là cướp khí mẹ. Giáp thấy Ất là Giáp có thể so với bản thân của ta, Ất thấy Giáp là cướp tài của ta, cho nên lấy cường mà chứa đựng nhược. 】

Lấy ngày làm chủ, năm là gốc, tháng là đề cương, giờ là phụ tá. Lấy ngày làm chủ, đại để phải xem giờ đến ở mức độ nào, hoặc là thân vượng, hoặc là thân nhược. Lại xem địa chi có cách cục nào, đếm số kim mộc thủy hỏa thổ, sau đó xem trong nguyệt lệnh có kim mộc thủy hỏa thổ chỗ nào vượng. Lại xem tuế vận có chỗ nào vượng, sau lại xem tin tức ở dưới ngày, chỗ này không phải là nói gò bó, câu nệ vậy. Ví dụ như sinh ngày Giáp Tý, trong tứ trụ có chữ Thân, dùng hợp Tý Thìn là thủy cục. Sau đó xem các thần còn lại có tăng hay giảm, trong tứ trụ có chữ nào làm tổn hại, nhật chủ Giáp Tý tú khí. Có hại cho dụng thần, thì phải lấy mà chế, không nên tăng thêm. Luận mệnh nhất thiết không thể chấp nê. Nguyệt lệnh cần phải rõ, dấu hiệu làm ra sự việc.

Ghi chú : Lấy ngày làm chủ, như bản thân của mình. Can năm là tổ phụ, Chi là tổ mẫu, can tháng là cha, chi là mẹ cùng anh em vậy; can ngày là bản thân, chi ngày là thê thiếp, can giờ là con trai, chi giờ là con gái. Lấy Thai mệnh con người luận chính là xem khắc chế xem con người quý tiện. 】

Luận Nguyệt lệnh

Như lệnh năm là gốc, mang Quan tinh Ấn thụ, thì thiếu niên sớm làm quan xuất từ tổ tông. Tháng làm đề cương, mang Quan tinh Ấn thụ thì khảng khái thông minh, kiến thức hơn người. Giờ làm phụ tá, nắm bước đi cuộc đời. Như năm tháng ngày có cát thần, giờ là nơi quy về chỗ sinh vượng. Như hung thần tì tru giờ quy về chỗ chế phục. Trụ giờ có cát hay hung thần, thì năm tháng ngày phải sinh cát mà chế hung. Giả như nguyệt lệnh có dụng thần, thì được lực của phụ mẫu. Năm có dụng thần, thì được lực của tổ tông. Giờ có dụng thần, thì được lực của tử tôn. Trái lại chỗ này thì không đắc lực.

Ghi chú : Xuất ra từ cung tổ tông, là cung chủ có sự che chỡ của bề trên. 】

Luận Sinh Vượng

Phương pháp thông thường là lấy kim sinh ở Tị, mộc sinh ở Hợi, thủy sinh ở Thân, hỏa sinh ở Dần. Thổ sống ở trung ương gửi mẹ mà sinh, như Mậu ở Tị, Kỷ ở Ngọ. Thổ lại là tứ quý, tất cả đều vượng ở 18 ngày, cộng lại là 72 ngày, cùng kim mộc thủy hỏa thổ tất cả là 72 ngày, cộng được 360 ngày, lấy thành Tuế công, đây là phép đúng vậy.

Lại luận ngũ hành sinh vượng suy tuyệt cát hung

Xem các nhà âm dương có viết: sinh vượng có âm tử dương sinh, dương tử âm sinh. Ví dụ như Giáp mộc sinh ở Hợi mà tử ở Ngọ, Ất mộc sinh ở Ngọ mà tử ở Hợi, còn lại giống vậy mà suy. Cho nên suy mệnh 10 có 9 là sai, vừa không đúng phương pháp vậy. Như luận mệnh khởi đều có ở thuyết sinh vượng, còn Bính Dần thuộc hỏa mà tuyệt ở Hợi, vốn là không đúng, ai không biết trong Hợi có mộc là Ấn thụ mà sinh Bính hỏa, ngày Bính giờ Hợi chính là nhiều quý cách vậy. Mậu thuộc thổ mà vượng ở Tị, lại kiêm kiến lộc, vốn là quý cách, ai không hiểu Tị là đất lại sinh kim mà là Thương quan tinh, phàm ngày Mậu giờ Tị, làm quan cuối cùng là không hiển hách. Đưa ra 2 ví dụ, thì luận mệnh nhất thiết không thể chuyên chấp ở sinh vượng là tốt, suy bại là hung vậy, cần nên lấy phép linh hoạt mà suy đoán.

Ghi chú : Nhất Tử nhất Sinh, là luận định theo ngũ hành vậy. Nhật chủ thích có Mẫu đến phù Tử, tình huynh đến phù đệ , ân Tử đến cứu Mẫu, lý lẽ sinh sinh bất tận, hóa hóa vô cùng. Nên tỉ mĩ mới có thể luận mệnh. 】

Luận ngũ hành mộ khố Tài Ấn

Người sinh Bính Đinh lấy Thìn là khố Quan, bởi vì thủy thổ khố ở Thìn vậy. Nên ở trong năm tháng giờ có mộc hoặc có Hợi Mão Mùi cùng Dần lại là thanh. Như không có mộc thì thổ đoạt Quan của Bính Đinh, thì thành trọc mà không thanh, cũng không hiển.

Ghi chú : Có mộc thì sinh hỏa trợ lực cho Bính. Không có mộc thì hỏa sinh thổ là cướp khí, cho nên có mộc thì trợ giúp Ấn. 】

Luận Quan Sát hỗn tạp phải chế phục

Quan tinh cần thuần không nên tạp. Ví như Giáp mộc dụng Tân kim là Quan, nếu năm là Tân, tháng là Dậu, trụ giờ cũng là Tân Quan, tuy nhiều nhưng không ngại, vì thuần nhất là rất tốt. Nếu có kim hoặc có Canh Thân, thì hỗn tạp thành Sát, lấy tổn thương thân, cần hành đến đất hỏa chế phục thì phát phúc vậy. Còn lại như thế mà suy vậy.

Ghi chú : Ví như kim phế Tân vượng không có chế, thì không thể thành hại.】

Luận quy tắc Ngũ hành sinh khắc, chế hóa tất cả đều có chỗ hỷ chỗ hại

+ Kim vượng được hỏa, mới thành khí vật. Hỏa vượng được thủy, phương thành cứu nhau. Thủy vượng được thổ, phương thành hồ nước lớn. Thổ vượng được mộc, phương có thể khai thông. Mộc vượng được kim, phương thành trụ cột.

Ghi chú: Chỗ này chính là thân vượng gặp Quan Sát nhập cách thuần túy không hỗn tạp, vận lại không quay lưng, chỗ đã cứu nhau. 】

+ Kim dựa thổ sinh, thổ nhiều chôn kim. Thổ dựa hỏa sinh, hỏa nhiều cháy thổ. Hỏa dựa mộc sinh, mộc nhiều hỏa cháy. Mộc dựa thủy sinh, thủy nhiều mộc trôi. Thủy dựa kim sinh, kim nhiều thủy đục.

Ghi chú: Thân nhược gặp Ấn thụ thái vượng trùng điệp, tức thành chỗ hại. 】

+ Kim có thể sinh thủy, thủy nhiều kim chìm. Thủy có thể sinh mộc, mộc thịnh thủy co. Mộc có thể sinh hỏa, hỏa nhiều mộc cháy. Hỏa có thể sinh thổ, thổ nhiều hỏa mờ. Thổ có thể sinh kim, kim nhiều thổ thay đổi.

Ghi chú : Chỗ này chính là thân nhược gặp Thương quan Thực thần thái vượng, cho nên thành chỗ hại, chỗ này là đại kị. 】

+ Kim có thể khắc mộc, mộc cứng kim khuyết. Mộc có thể khắc thổ, thổ dày mộc gãy. Thổ có thể khắc thủy, thủy nhiều thổ vỡ. Thủy có thể khắc hỏa, hỏa nóng thủy sôi. Hỏa có thể khắc kim, kim nhiều hỏa tắt.

Ghi chú: Chỗ này thân nhược gặp Tài thái vượng trái lại có thể hại thân. Thân cường gặp Tài người đến phú quý. 】

+ Kim suy gặp hỏa, tất sẽ đốt chảy. Hỏa nhược gặp thủy, tất là bị diệt. Thủy nhược gặp thổ, tất là ứ tắc. Thổ suy gặp mộc, tất gặp sụp đổ. Mộc nhược gặp kim, tất là khắc gãy.

Ghi chú: Thân nhược gặp Quan Sát hỗn tạp thái vượng, phần đa là mệnh tàn khuyết bần mà tiện. 】

+ Cường kim gặp thủy, phương giảm đi bén nhọn. Cường thủy gặp mộc, phương tiết hao thế lực. Cường mộc gặp hỏa, phương cảm hóa ngu muội. Cường hỏa gặp thổ, phương dừng chiếu sáng. Cường thổ gặp kim, phương chế bớt hại.

Chỗ này chính là thân nhược gặp quỷ, được vật để hóa thì cát, như ngày Giáp bị kim Sát đến hại, nếu trụ giờ có một vị Nhâm Quý thủy hoặc là Thân Tý Thìn giải cứu, tức có thể hóa hung thành cát. Còn lại cứ theo chỗ này mà suy.

Ghi chú : Quan và Quỷ là một vậy, thân vượng gặp thì thành Quan, thân nhược gặp thì thành Quỷ. 】

Lý Nhị chí âm dương tương sinh

Trong một năm phân chia ra ngũ hành, phối hợp khí hậu ở trong 12 tháng, đều chủ vượng tướng, để định dụng thần. Trong đó ngũ hành lại phân ra hai âm dương, ở trong một năm khí đều chủ sinh vượng. Như Đông Chí nhất dương thì có lý lẽ mộc vượng. Tại sao vậy? Thí dụ như lấy người sinh nhật can là Giáp, Ất, ở trước Đông Chí, dương khí chưa động, phương mộc ở tử tuyệt, mộc không cát lợi. Nếu người sinh ngày Giáp, Ất, ở sau tiết Đông Chí, dương khí đã sinh, mộc nhận khí ấm, mệnh thọ lộc đều có đủ, chỉ cần dụng thần nhập cách. Lại như người sinh nhật can Bính Đinh, ở trước Đông Chí, gặp thủy tức bị diệt, nếu ở sau Đông Chí, không kị thủy. Vì Bính Đinh nhận khí mộc sinh vậy. Hạ Chí Nhất âm sinh, thì có lý lẽ dụng kim sinh thủy. Như chỗ sách nhà nước ghi lại. Sau Hạ Chí, gặp Canh là Tam phục, bởi vì ngôi vị Nhất âm sinh, sau khi kim sinh mà hỏa tù. Rõ ràng ở chỗ này thì Canh Tân sinh vào sau Hạ Chí, kim chiếm có khí không kị hỏa, lý là rất rõ ràng, học giả không thể không biết vậy.

Ghi chú: Sau Đông Chí là dương sinh, sau Hạ Chí là âm sinh, đều được khí ngũ hành, không phải thân nhược, phản thương luận trung hòa. 】

Tử Bình cử yếu ca

Tạo hóa tiên tu tường nhật chủ,

Tọa Quan tọa Ấn suy vượng thủ.

(Nếu thân sinh ngày Giáp Tý, dụng Quý thủy, thủy có thể sinh mộc là Ấn thụ, gọi là tọa Ấn, còn lại suy ra giống vậy).

Ghi chú : Chỗ ngày sinh nhật chủ, như ngày sinh Giáp Tý thì lấy ngày Giáp Tý làm chủ, lấy năm tháng giờ thủ luận Tài Quan. 】

Niên thời nguyệt lệnh hiệu đề cương,

Nguyên hữu nguyên vô khinh trọng cử.

(Đề cương, là chỗ vật tàng ẩn ở chi tháng, hoặc là kim hoặc là mộc, lấy vượng tướng mà thủ).

Đại để Quan tinh phải thuần túy,

Chính Thiên tạp loạn phản vô tình.

(Đã dụng Quan tinh, lại sợ xung phá, gọi là Vô tình).

Lộ quan tàng Sát phương vi phúc,

Lộ Sát tàng Quan thị họa thai.

(Quan lộ thì thanh cao, là người hiển đạt. Sát lộ thì hung ngoan, là người hung bạo).

Sát Quan câu lộ tương hà nghĩ,

Hỗn tạp Tài Quan thủ tài nghị.

(Lộ Sát lộ Quan, Sát có chế không hại Quan, hoặc có Tài sinh lại thành họa. Thí dụ như tiểu nhân hiệp lực chế quân tử không thể hành đạo).

Quan vượng phạ quan kị hình xung,

Quan khinh kiến tài vi phúc lợi.

(Quan vượng sợ Quan, như 2 Quan gặp nhau, vận lại gặp tiếp, thấy xung là bất lợi. Quan nhẹ mà thấy Tài, lấy Tài là Lộc thì cát).

Niên thượng Thương quan tối khả hiềm,

Trọng phạ Thương quan bất khả xúc.

(Trụ năm có Thương quan chủ khắc tổ hoặc hại tổ nghiệp, thấy trùng ở trụ tháng và giờ, tai họa không tránh khỏi).

Thương quan dụng Tài nãi vi phúc,

Tài tuyệt Quan suy phúc diệc nhiên.

(Thương quan chủ là người thích khoe tài, Quan vượng nếu không có Tài, chủ là người vô phúc).

Tham hợp vong Quan vinh không đủ,

Tham hợp vong Sát là thân phúc.

(Quan là thiện nhân là quân tử, đã hợp thì không là đại dụng. Sát là kẻ hung ác, tiểu nhân, kị mà hợp, nhận kị là được chỗ dùng).

Ghi chú : Giáp lấy Tân là Quan, có Bính hợp. Lấy Canh là Sát, dụng Ất hợp.】

Kham ta thân nhược sợ Tài đa,

Cánh lịch Quan hương họa tương trục.

(Như Giáp Thân, Giáp Tuất, tứ trụ thấy Mậu Kỷ chính là Tài đa thân nhược, không đảm nhận được. Nếu vận tới đất Quan, hai Quan tranh nhau tất có họa).

Tài đa thân nhược Thực thần đến,

Thực thần hội Sát tất thành tai.

(Thực thần, là con do Ta sinh ra, là thần cướp khí).

Hội thiên hợp địa có hình khắc,

Cánh nghi đạt sĩ tường suy tài.

Tường giải định chân luận

Nói đến ngày sinh là chủ, lệnh vua hành quân, phép vận bốn mùa, âm dương tình cương nhu, nội ngoại đạo phủ thái——

Lấy ngày là chủ, như lệnh cho người hành quân, tứ trụ tôn ngày làm chủ vậy. Phép vận tứ thời, là Xuân Hạ Thu Đông vậy. Ví như đầu xuân mộc vượng hỏa sinh, mộc có thể sinh hỏa vậy. Đầu hạ hỏa vượng thổ sinh, hỏa có thể sinh thổ vậy. Đầu thu kim vượng thủy sinh, kim có thể sinh thủy vậy. Đầu đông thủy vượng mộc sinh, thủy có thể sinh mộc vậy. Thổ vượng ở bốn mùa, là tháng Thìn Tuất Sửu Mùi vậy, cho nên là phép vận chuyển bốn mùa. Tình cương nhu, âm có cương nhu, dương có cương nhu. Nguyệt lệnh có khí viết là Cương, vô khí viết là Nhu. Nội ngoại đạo phủ thái, là năm tháng ngày giờ vậy, tam nguyên phối hợp với thiên can địa chi. Phàm thiên can địa chi thấu xuất ra ngoài ngày, ẩn tàng ở trong ngày. Phủ, là bế tắc vậy, Thái là hanh thông vậy. Xoay vòng trong một năm, 1 năm có 12 tháng, 1 ngày có 12 giờ, cho nên tích giờ thành năm, năm và ngày, chủ âm dương vậy. Tuế là triều vua, ngày theo triều vua, vua lệnh thần theo mệnh vậy. Thần bẩm mệnh cho vua, suy ra được ở thân vậy. Người xưa lệnh thần hành quân, thì có phân chia quý tiện cát hung. Cho nên có thể lừa dối Nhật mà không thể lừa dối Nguyệt vậy, Nhật có thể lừa Tuế, không thể lừa Nguyệt vậy, cho nên nói Nhật là chủ. Nhật chủ, phép vận chuyển bốn mùa, phép theo không đổi vậy. Bởi do khí trời đất có bốn mùa, thường dụng khí ngũ hành ở Xuân Hạ Thu Đông. Cho nên khí xuân ấm áp, mộc vượng 72 ngày; khí hạ viêm, hỏa vượng 72 ngày; khí Thu mát, kim vượng 72 ngày; khí Đông lạnh, thủy vượng 71 ngày; tháng tứ quý thổ mỗi cái vượng 18 ngày, cộng lại có 360 ngày để thành tuế công. Phú nói: Tuế công truyền bá, bốn mùa thành năm. Âm dương, Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là dương can, Ất Đinh Kỷ Quý Tân là âm can. Phàm suy ngũ hành, âm dương không phối hợp, trên dưới không thiên lệch nhau là quý mệnh vậy. Nếu trong trụ có được thiên âm thiên dương, là cương nhu vậy. Như thấy mộc dụng kim là Quan, kỳ kim thu sinh hoặc mang thủy hỏa, thì là kim cương vậy. Nếu kim sinh mùa xuân hạ mang Bính Đinh, thì mộc cường mà kim nhu vậy. Phàm âm dương thiên khô, phối ngẫu không thành, dù có kim là Quan quỷ mộc, không thấy thê tài, trái lại là nhân nghĩa đều không có, cương nhu không tốt. 【Ghi chú : Lấy mộc là Nhân, lấy Kim là Nghĩa 】cho nên thiên âm thiên dương gọi là bệnh tật, chỗ này gọi là Hữu tình Vô tình vậy. Phàm tường thuật lại cần phải rõ tình cương nhu vậy. Phú nói: Càn Khôn biết đực cái, kim mộc định chỗ cương nhu vậy. Phàm xem mệnh chuyên lấy Thiên nguyên ở trên trụ ngày làm chủ, lý lẽ định kỳ họa phúc vinh khô. Thiên nguyên ở trên Chi viết là Ngoại, chỗ tàng ở trong Chi là Nội. Thiên can cùng chỗ địa chi ẩn tàng Nhân nguyên, hoặc là Quan, là phúc, là họa, phương có định lý cát hung. Còn như sinh ngày Giáp, Giáp Tý là Ấn thụ, Giáp Dần là kiến lộc, Giáp Thìn là Tài khố, Giáp Ngọ là thê tài, Giáp Thân là Quan quỷ, Giáp Tuất là Tài Quan, nếu sinh tháng 8 chính khí Quan, mệnh đại quý vậy. Giáp lấy Tân Dậu kim là Quan tinh, nếu có Đinh hỏa hại Quan Tân kim, trụ có gặp Quý thủy thì chế Đinh hỏa, cho nên Quý thủy chính là Ấn thụ của Giáp vậy. 【Ghi chú: Tháng 8 Quan tinh, rất sợ Mão Đinh】. Lại cần suy đoán trong ngoài của tứ trụ mà nói cát hung. Trước mắt nói gốc có Tài Quan, đến vận Tài Quan, đa số là mệnh vinh đạt vậy. Gốc không có Tài Quan, phục hành Tài Quan mà không phát vậy.

***********************

Quyển một (3)

Tiến thoái tương khuynh —— Giả như Tân kim lấy Bính hỏa là Quan tinh, sinh Cửu Hạ thì là hướng Quan, chủ Quan thăng tiến vậy 【Ghi chú : Cửu Hạ, là tháng 4,5,6 vậy, tổng cộng là 90 ngày, gọi là Cửu Hạ 】. Sinh tháng 8, là khí thoái, Quan không thăng tiến vậy. Trụ dụng thần vượng tướng, thì có khánh vinh, nếu tử tuyệt hưu tù, thì không có khánh vinh. Phú nói: Tương lai là tiến, công thành là thoái vậy.

Động tĩnh tương phạt —— Bởi vì can là trời, có động mà không có tĩnh. Lấy chi là đất, có tĩnh mà không có động. Giáp chính là lấy ở thiên can, Tý chính là lấy ở địa chi, cuối cùng là Hợi mà trở lại là Tý, xoay vòng không ngừng, thập nhị chi tuần hoàn. Một động một tĩnh, một âm một dương, đem thay thế mà dùng, cuối cùng là tới Quý Hợi vậy. Không gặp ngũ thần tương khắc, tam sinh định mệnh 【Ghi chú : Ngũ thần, là kim mộc thủy hỏa thổ vậy; Tam Sinh, là thiên nguyên, địa nguyên và nhân nguyên 】, phân thành 60 hoa Giáp Tý. Nói người đời sau học tập phải biết động và tĩnh, là có thể biết yếu quyết vậy.

Thủ cố hanh xuất nhập chi hoãn cấp —— Cố là kiên vậy; Hanh là thông vậy. Muốn biết quý tiện cát hung, trước tiên cần phải xem ngày sinh, gốc bản thân phải kiên cố. Lại xem tứ trụ Tài Quan có hay không có phá hại, tự nhiên hanh thông. Xuất Nhập, là hành vận xuất nhập vậy. Chỗ này tức là loại dương nam âm nữ thuận hành xuất ra khỏi Tuất mà nhập vào Hợi. Như nam mệnh sinh ngày Nhâm Quý, vận ở Tuất, là phương tụ ở đất hỏa thổ, là Tài Quan cát vận. Xuất ra khỏi Tuất nhập vào Hợi là đất Tài Quan tử tuyệt, dù có đến đất thân vượng, cuối cùng vẫn là hung vận. Ta khắc gọi là Thê tài, ở xứ sinh vượng thì nhiều phúc khánh. Đều là cùng lấy thể dụng âm dương ngũ hành, dụng khắc thân là đất Quan quỷ, nhật can khắc vận là đất tài tụ. Khởi vận đều là từ tháng sinh, nếu như tứ trụ sinh loại Tài Quan, không ở đất hưu bại, vận đến đất Tài Quan, phàm đều là quan tiến vinh đạt mà cấp tốc. Hoặc nếu sinh không có Tài Quan, nhật can vô khí, lại hành đến đất Tài vượng, phàm lấy chỗ là Tài, đều là thoái tán mà không thành. Vận cần đến cát khánh, trái lại vì lấy phúc mà thành họa, họa đến và cấp tốc, tuy phát vinh cũng chậm chạp. Phú nói: Chính là đến hành xuất nhập mà phạm phương hung.

Cầu tể phục tán, liễm chi cự vi—— Tể là tiến vậy; Phục là thoái vậy; là công danh tiến thoái. Tán là phân tán vậy, Liễm là tụ vậy, là tài bạch tụ tán. Cự là nhiều vậy, Vi là ít vậy, là ngũ hành đang sinh, mệnh vận vâng lệnh, là dấu hiệu quý tiện họa phúc, phát hiện nhiều hay ít vậy. Luận tài bạch tụ tán, nếu tứ trụ tài bạch có khí, nhật can lại vượng, lại có Bại tài, Dương Nhận, vận đến đất tài, thì ở trong cục, Tài nhiều mà đại phát vậy. Nếu gốc có Tài bạch, lại bị cướp đoạt, nhật chủ lại suy, vận đến đất Tài vượng cũng không phát phúc, định là tổn tài thương thê. Cho nên căn nguyên là bạc nhược, chỗ phúc là ít vậy. Phú nói: Phúc tinh đến mà họa phát, dấu hiệu là hung nhân vậy.

Phương pháp lựa chọn có Tam yếu: Lấy can là trời, lấy chi là đất, trong chi chỗ ẩn tàng là nhân nguyên, mới phân ra tứ trụ 【Ghi chú : Tam yếu, là tam nguyên vậy; Tứ trụ, là năm tháng ngày giờ vậy 】. Lấy năm làm căn gốc, tháng là mầm mống, ngày là hoa, giờ là quả. Lại chọn trong tứ trụ, lấy năm là Tổ thượng, thì biết thế lẽ đại tông phái thịnh suy. Tháng là phụ mẫu, thì biết thân ấm có hay không có loại danh lợi. Lấy ngày làm bản thân, lấy can mà suy, suy xét tìm tòi mà sử dụng bát tự, gốc là trong ngoài sinh khắc mà lấy hay bỏ.

Can nhược thì dựa vào mưu cầu khí vượngGhi chú : Tạ là dựa vào vậy 】, có Dư (Thừa) thì muốn mưu cầu Bất cập (không đủ) —— Lấy ngày làm chủ, trong năm tháng xem có Quan hay không có Quan, có Tài hay không có Tài, có Ấn hay không có Ấn, thì quý tiện có thể biết. Cho nên trụ năm là gốc rễ, trước tiên xem trong năm tháng có Tài Quan Ấn thụ, trước tiên là gốc rễ phải có khí vậy, thì sau đó trong ngày giờ mới tượng khai hoa kết quả vậy. Kinh viết: Gốc ở trước mầm, quả ở sau hoa. Ngày là bản thân, sưu tầm sử dụng bát tự, có được loại cách cục cát thần, hung thần. Hỷ là lấy, Kị là bỏ.

Phú nói: Hỷ thì tích lũy, Kị thì vứt đi. Can ngày nếu dựa vào mưu cầu khí vượng, can ngày vượng lại sợ khí vượng, sợ thái quá trái lại là mệnh bất túc (không đủ), do chỗ này là tổn tài thương thê. Gốc là thiên nguyên địa chi, cho nên xem thuyết gốc mầm hoa quả, phải nghiên cứu kĩ càng cẩn thận. Tứ trụ năm tháng ngày giờ, quý tiện, cao thấy, thì có loại gốc mầm hoa quả. Như sinh mệnh vốn có Tài Quan, vận đến Tài Quan thì thành phúc. Nếu sinh ra không có Tài Quan, vận đến Tài Quan thì cũng không thành phúc. Là sinh gốc trước mà mầm có sau, hoa nở mà sau đó mới có quả. Nhìn ở điềm báo trước, để tra nguồn gốc, gốc ở trước mầm, quả ở sau hoa. Lại chọn lựa ở trong tứ trụ, lấy năm là tổ thượng là căn cơ điền trạch, cung vị các thế hệ cha ông, nếu cùng với năm tháng ngày hợp là phú quý, lại tháng và giờ sinh không đến hình hại năm sinh, thì căn cơ tổ tông vinh quang mà không suy yếu vậy. Lại được danh dự tổ thượng, có đầy đủ phúc ấm điền trạch tổ tiên để lại, là vinh hoa mà vĩnh viễn không suy vậy. Nếu trái lại chỗ này thì không phải vậy. 【Ghi chú: Ngũ hành phải hung thời mới có thể luận tổ tông, tháng mùa giờ cũng như vậy 】.

Lấy tháng sinh là cung phụ mẫu, nếu trong tháng có sao Tài Quan, vượng thịnh không bị xung phá, lại có Thiên nguyên ngày sinh ở đất sinh dưỡng, thì người nhận phúc của cha mẹ để lại. Can ngày ở đất suy tử, là người dù có phúc của cha mẹ, cuối cùng thân được che chỡ cũng không có lâu dài vậy. Lấy ngày là bản thân, thiên nguyên ngày sinh chính là bản thân vậy. Cung vị của bản thân, tất phải nắm rõ. Xem Thiên nguyên ngày sinh đến phân chia ở cung nào, lại xem trong năm tháng và giờ có cách cục nào. Nếu có loại Quý nhân Lộc Mã, cũng không có phá hại, chính là mệnh tốt. Gặp chỗ này sinh vượng không có hình hại, thì hỷ mà lấy thành phúc. Nếu như thần đang sinh, mà gặp tử tuyệt hưu bại, lại gặp hình xung phá hại, thì là kị là họa nên vứt đi. Can ngày suy mà dựa vào mưu cầu khí vượng. Ví như loại Nhâm Quý Tị Ngọ, đều là do Thiên nguyên ngày sinh lâm đất tử tuyệt là thân nhược vậy. Nhâm Quý lấy Bính Đinh là Tài tinh, lấy Mậu Kỷ là Quan tinh, Tị Ngọ hỏa đến sinh đất Quan sinh vượng, lại thêm sinh vào mùa Cửu Hạ ( tháng 4,5,6), thì có sao Quan tinh cùng Lộc Mã, là có khí khánh phúc, nên có việc quá vui vậy. Nếu người sinh Nhâm Quý sinh ở tháng mùa Đông, dù nhật can nắm vượng khí, cuối cùng không lấy được phú vậy. Nếu khí Tài Quan đều là vượng thủy, thì hỏa tử thổ tù vậy, nếu người gặp chỗ này, cả đời bôn ba gian truân trì trệ, người khó mà hưởng phúc vậy. Tuy vượng cũng có nhiều thành bại, thì cầm quan không thành, cầm tài không vững vậy. Ví như ngày Canh Dần, chính là khí thiên can suy nhược vậy.

Tam Mệnh 》nói: Là mệnh nhiều tước đoạt, phương gặp quỷ nhận Quan vượng, nên có địa vị Tài Quan vậy. Như Canh kim lấy Ất mộc là Tài, Đinh hỏa là Quan. Dần, Giáp mộc lâm quan, Bính hỏa trường sinh, là đất Quan vượng, nên là người lấy kim phân ra xem, Xuân Hạ thì phúc vậy. Người sinh Thu Đông phải gặp vượng, khí Tài Quan thoái tán, gặp đất tử tuyệt hưu tù, không có đầy đủ nên là người bình thường, gia đạo tịch mịch khó cai trị vậy, định là khắc thê hại tử vậy. Nhật can suy thì dựa vào mưu cầu khí vượng, dư thừa thì muốn mưu cầu bất túc vậy.

Can đồng dĩ vi huynh đệ. Như Ất dĩ Giáp vi huynh, kị Canh trọng dã; Giáp dĩ Ất vi đệ, úy Tân đa dã —— Chỗ này là luận tổn thương. Như Tân nhiều thì hại Ất mộc, Canh nhiều thì hại Giáp mộc, như vậy thì có khắc huynh đệ. Tứ trụ hữu dụng thì là quan quý vậy, không thể nhất lý mà suy. Can đồng là huynh đệ, bởi vì thiên nguyên ngày sinh tỉ hòa là loại tương đồng. Ngày sinh Giáp lấy Ất là em trai, trong trụ có Tân kim nhiều, khắc Ất mộc là không được lực của chị em gái vậy. Người sinh ngày Ất, lấy Giáp là anh em trai, trong bốn hướng có Canh kim trùng khắc Giáp mộc, thì cả đời không được lực của anh em trai vậy. Phàm xem anh em trai có hay không có, hiệu quả lấy chỗ ví dụ này mà suy ra.

Ghi chú : Dương can là anh trai, cũng lấy âm can là em gái, không thể chỉ lấy Tỉ kiên mà phân ra anh em trai, xem vận mệnh kiến thức là ở trong lòng vậy. 】

Can khắc dĩ vi thê tài, tài đa can vượng tắc xưng ý, nhược can suy tắc phản họa hĩ —— Tài nhiều can vượng, lực có thể đảm nhận Tài thì là phúc. Can suy nhược lực không thể đảm nhận Tài, lại thành họa vậy. Phú nói: Tài đa thân nhược, chính là nhà giàu có mà người thì nghèo khổ vậy.

Can dữ chi đồng, tổn tài thương thê —— Can và chi giống nhau, như Giáp Dần, Ất Mão. Lại nói: Nếu mệnh có địa chi đồng cục, thì tổn tài thương thê. Nguyệt lệnh khí lại vượng, năm và giờ không thấy Tài Quan, lại không có cách cục, nghèo rớt mồng tơi vậy. Phàm can vượng là Thê tài, Tài chính là can ngày sinh khắc nó là Tài tinh vậy. Nếu trong trụ có Tài nhiều mà nhật chủ vượng, phàm cử động không có không toại ý. Kinh nói: Xử thế an nhiên, Tài mệnh hữu khí. Nếu trái chỗ này Tài nhiều mà nhật can nhược, chỗ này định mệnh người vì thê tài mà gặp họa, thì vì lực suy không thể nhận phúc dày. Tài đa thân vượng, ví như: năm Kỷ Mùi, tháng Mậu Thìn, ngày Giáp Dần, giờ Quý Dậu. Như Giáp lấy Mậu Kỷ là Tài, chỗ năm tháng thấy ở Tài khố, năm sinh lại đang được Kỷ Mùi thổ trùng, chính là Thiên nguyên Quý nhân mang Tài. Hợp ngày Giáp Dần thấy lộc, là Quan Lộc Tài đa Quan vượng, thì nhiều toại ý vậy. Ví như một mệnh, năm Ất Dậu, tháng Nhâm Ngọ, ngày Nhâm Ngọ, giờ Quý Mão. Nhâm Quý lấy Bính Đinh là Tài, tháng Ngọ ỷ vào Tài vượng, Đinh gặp đất Lộc hỏa, Nhâm Quý Thai nguyên tuyệt địa, là thân nhược không thể đảm nhận Tài trọng. Thấy Nhâm Quý là Tỉ kiên phân chia Tài, cho nên vì vợ mà dẫn tới tai họa, đột tử trong lao ngục. Thuật kinh nói: “Lục Nhâm đến ngôi Ngọ, hiệu viết là Lộc Mã đồng hương,” chỗ này không phải là luận hư. Là năm tháng ngày giờ có chữ Mão khắc Tý Ngọ có Quan Kỷ thổ, cho nên viết ngày Lục Nhâm có Lộc Mã đồng hương là vậy. Phú nói: Phúc tinh đến mà phát họa, dấu hiệu là lấy hung nhân. Can và chi giống nhau, như loại Giáp Dần, mặc dù là cường kiện, nó không có tàn tật, phần đa là chủ tổn tài thương thê. Nếu ngoài năm tháng ngày giờ nó nhập cách, hoặc gặp trong tứ trụ có sao Tài Quan Ấn, là mệnh quý hiển có quyền hành vậy. Nếu tam nguyên không có cách khác, tứ trụ lại không có Tài Quan Ấn, trái lại khí tháng ngày sinh vượng, có sao Bối lộc Trục mã, chỗ này mệnh chủ nghèo tận xương cốt, đa số là khắc vợ, cuối cùng không có nơi nương tựa, thì là người tầm thường.

Phú nói: Nhỏ đầy đủ lớn lên gảy ngã, là sợ đất Kiếp tài. 【Ghi chú: Kỷ Mùi, Mậu Thìn, Giáp Dần, Quý Dậu, là Tài vượng thân cường; Ất Dậu, Nhâm Ngọ, Nhâm Ngọ, Quý Mão, là Tài vượng thân nhược. 】

Nam lấy can khắc làm con, nữ lấy sinh can làm con, còn hay mất đều có quy tắc, lấy giờ làm giới hạn, phải phân biệt mà suy bần tiện phú quý—— Ví dụ như người sinh Giáp Ất, lấy Canh Tân làm Tử tức. Nếu là Nữ mệnh người sinh là Giáp Ất, lấy Bính Đinh làm Tử tức. Lại xem trụ giờ giới hạn ở đâu, khinh trọng, sinh vượng, định ở nhiều hay ít. Xem ở tứ trụ hoặc có khắc sao Tử tức, có thể nói không có con vậy. Luận ngũ hành chân hay giả, 《Quỷ Cốc Tử》viết: Nam lấy can khắc làm con, ví dụ như ngày Lục Canh, sinh giờ Ngọ, chính là đếm nhiều Tử tức, nói là Canh lấy Ất là Tài, Ất mộc có thể sinh hỏa, hỏa khắc Canh kim là Tử tinh. Phân dã ( là giới hạn) giờ Ngọ chính là hỏa, Đinh hỏa đất kiến lộc, nên có con nhiều chủ hiển quý mệnh vậy. Nếu sinh ở giờ Tuất Hợi Tý, thì phân dã ( giới hạn) là kim thủy, hỏa ở đất tuyệt, thì chủ thiếu con cái vậy. Nên là con cái chủ cô độc bần tiện, không phải là tăng đạo, con nuôi, thì cũng là loại cho người khác nuôi dưỡng vậy. Nữ thủ can sinh diệc nhiên. Luận Tử tức nhiều hay ít, xem kĩ ở trong giờ sinh, vạn lần không mất một. Xem giờ sinh ở cung nào, nên Tử tinh lúc đó suy tính sinh ra rơi vào đâu, nếu cung phân ra ở đất trường sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng, định là nhiều con, nên con sinh ra đẹp đẽ phú quý. Nếu ở đất suy bệnh tử mộ tuyệt, vô khí, thai dưỡng, xung hình, định chủ ít con, nên con sinh ra cô khổ mà bần tiện. 《 Tam Mệnh》nói: Canh đến cung Khảm là suy, đời sau điêu linh; Giáp đến cung Ly là thu rơi vậy, con cháu đầy mắt. Là chỗ này vậy. 【Ghi chú: Nam lấy khắc can làm con, cổ ca viết: Nam Giáp Tân này nam Ất Canh, Bính Quý Đinh Nhâm Nhâm Kỷ hanh, Quý Mậu Mậu Kỷ sao Ất Giáp, Canh Đinh Tân Bính tự quang vinh. Nữ lấy can sinh làm con, cổ ca viết: Giáp có sinh Bính Ất sinh Đinh, Bính sinh Mậu này Đinh sinh Kỷ, Kỷ sinh Tân này Mậu sinh Canh, Canh Nhâm Tân Quý con tất nhiên, ngũ hành lại có Nhâm nhà Giáp, Quý Ất tương sinh rất hanh thông. 】

Lý Ngu ca 》nói: Ngũ hành chân giả ít người biết, biết thời cần phải lộ thiên cơ là vậy. Tục lấy Giáp Tý làm Hải Trung kim, tức là trước Lâu Cảnh, chưa biết luận kim ở trong biển——《 Lý Ngu ca 》chỗ gọi là “Ngũ hành chân giả thiểu nhân tri, tri thời tu thị tiết thiên cơ” . Ngũ hành chân giả chính là nạp âm vậy, chính là Thiên Địa đại diễn số vậy. Trước tiên luận Đại Diễn có 49 số, tiếp theo đem loại trừ ra số 9 là Giáp Kỷ Tý Ngọ, số 8 là Ất Canh Sửu Mùi, số 7 là Bính Tân Dần Thân, số 6 là Đinh Nhâm Mão Dậu, số 5 là Mậu Quý Thìn Tuất, số 4 là Tị Hợi, chia không hết, lại xem số trừ ngũ hành. Trừ là thủy 1, hỏa 2, mộc 3, kim 4, thổ 5, thủ dụng tương sinh, tức là nạp âm vậy. Tương sinh, dư 1 sinh mộc, dư 2 sinh thổ, dư 3 sinh hỏa, dư 4 sinh thủy, dư 5 sinh kim. Ví dụ như 4 chữ Giáp Tý Ất Sửu, tổng cộng can chi là 34 số, lấy 49 trừ đi còn 15 số, lấy 2 lần 5 là 10, còn dư 5 thuộc thổ, thổ có thể sinh kim, cho nên Giáp Tý Ất Sửu là kim vậy. Lại như 4 chữ Bính Dần Đinh Mão, tổng cộng can chi là 26 số, lấy 49 trừ đi còn lại là 23 số, lây 4 lần 5 là 20, còn dư 3 thuộc mộc, mộc có thể sinh hỏa, cho nên Bính Dần Đinh Mão là hỏa vậy. Còn lại tính toán như chỗ này. Khởi thuyết có được kim ở trong biển, hỏa ở trong lò. Thuyết nhân gian không ra gì, không gặp minh sư, nghe theo thuyết vĩa hè, luận sai đạo lý truyền thống, làm mê muội người đời sau, làm sao có được lý lẽ tốt. Cho nên mang Giáp Tý Ất Sửu kim, thuyết minh Tý Sửu kề Bắc phương đất thủy vượng, gọi là Hải Trung kim. Bính Dần Đinh Mão hỏa, Dần Mão kề Đông phương đất sinh hỏa, nói giống như trong lò bếp. Trước kia từ thời nhà Hán, Lâu Cảnh tiên sinh, cũng không có kim ở trong biển, hỏa ở trong lò bếp. Phép Tử Bình, không sử dụng Thai Nguyên, Tiểu Vận, không sử dụng nạp âm, chuyên lấy Thiên nguyên ngày sinh làm chủ, phối hợp can chi bát tự cùng trong chỗ tàng là nhân nguyên, hoặc sinh nhận là Tài, là Quan, là họa, là phúc, dựa vào chỗ này mà tham khảo tường thuật. Sinh mệnh quý tiện, được mất, vinh khô, hiền ngu có thể biết vậy.

Đầu trang

Phú nói: Do hiểu đạo, nói bậy vẫn còn thần linh, mới biết lẽ huyền diệu.

Cổ ca nói:

Ngũ hành chân giả ít người biết,

Đại diễn trước bày số 49,

Đem trừ Giáp Kỷ Tý Ngọ 9,

Sửu Mùi Ất Canh số 8 suy,

Bính Tân Thân Dần cùng trừ 7,

Mão Dậu Đinh Nhâm phép trực 6,

Thìn Tuất Mậu Quý đều trừ 5,

Tị Hợi mà đi đem trừ 4,

Sau đem số 5 truy cứu trừ,

Trừ là tương sinh chớ có ngờ.

Thủy 1 hỏa 2 mộc là 3,

Kim 4 thổ 5 rất huyền vi.

Đây là Càn Khôn chân Giáp Tý,

Biết thời cần phải lộ thiên cơ.

Cổ ca viết:

Lục tuần Giáp Tý rất huyền vi,

Bảy bảy trừ đi địa và thiên,

Chia 5 lấy lẻ sinh lý số,

Bản thân đây được truyền Nạp âm.

Trời đất không ngừng sát, nói đến vạn vật, nuôi dưỡng ở trời đất, vận động ở bốn mùa, vạn vật vào xuân, như trở lại sum xuê tươi tốt. Bởi vì quy tàng mà sinh, chớ xa cách rời ở thổ. Thổ, là Khôn Cấn vậy. 《 Dịch 》 viết: Cấn chính là chỗ bắt đầu của vạn vật, Khôn chính là chỗ cuối cùng của vạn vật. Giáp chính là lấy Thiên, Tý chính là lấy Địa. Nhị Nghi tuần hoàn, trở lại Nhất Dương, cho nên Giáp Tý đến Nhâm Thân là 9 số. Giáp Kỷ hợp nhau, Tý Ngọ tương xung, cho nên nói Giáp Kỷ Tý Ngọ là số 9. Ất Sửu đến Nhâm Thân là 8 số, Ất Canh tương hợp, Sửu Mùi tương xung, cho nên nói Ất Canh Sửu Mùi số 8. Bính Dần đến Nhâm Thân 7 số, Bính Tân tương hợp, Dần Thân tương xung, cho nên nói Bính Tân Dần Thân số 7. Đinh Mão đến Nhâm Thân 6 số, Đinh Nhâm tương hợp, Mão Dậu đối xung, cho nên nói Đinh Nhâm Mão Dậu số 6. Mậu Thìn đến Nhâm Thân 5 số, Mậu Quý tương hợp, Thìn Tuất đối xung, cho nên nói Mậu Quý Thìn Tuất số 5. Kỷ Tị đến Nhâm Thân 4 số, Tị Hợi tương xung, đặt riêng Tị Hợi là số 4. Phú nói: Sơ lược định thành một điểm, cho nên tìm tòi nghiên cứu thành vạn chữ vậy.

Hoặc lấy năm làm chủ, thì có thể biết vạn ức phú quý là giống nhau. Lấy năm sinh Giáp Tý, cảnh cáo liền có thể biết ngày giỗ của bản mệnh —— Thế gian nói mệnh không thể tin được, đều là phép xưa, đa số thường lấy năm làm chủ, thì có thể biết hàng triệu người là giống nhau vậy. Luận là Tiểu vận, nạp âm, thì thủy vỡ tràn mà không có nơi trở về vậy, phú quý có giống nhau là sai lầm vậy. Cho nên phép Tử Bình chuyên lấy thiên nguyên ngày sinh làm chủ, dưới ngày là cung thê, nói năm sinh là gốc là rễ, lại là cung tổ thượng, điền trạch. Như sinh Giáp Tý, liền là bản mệnh tôn thần Thái Tuế, kị can chi ngày sinh cùng Thái Tuế xung cùng đầu chiến khắc hại, gọi là Bản Chủ bất hòa, thì đời người không có dựa đến điền trạch tổ nghiệp, phá bại tông thân, ứng khó mà có nơi nương tựa. Nều tháng giờ sinh cùng với can chi bản mệnh hội hợp nhập cục, hoặc gặp Tài Quan quý khí, thì cả đời có nhận điền trạch tổ tông, căn cơ phong phú, danh dự tốt đẹp vậy.

Lấy tháng là cung Huynh đệ. Như hỏa mệnh sinh tháng Dậu Tuất Hợi Tý, đoán nói huynh đệ không đắc lực —— Tháng là cung huynh đệ, là nam lấy tỉ hòa cùng loại liền thành sao huynh đệ. Ví dụ như người sinh ngày Lục Bính, lấy Đinh hỏa là em gái; người sinh ngày Lục Đinh, lấy Bính hỏa là anh trai vậy. Nếu đến tháng Dậu Tuất Hợi Tý, luận nói là anh em trai không đắc lực. Nói tháng Dậu là hỏa tử, tháng Tuất hỏa nhập mộ, tháng Hợi khí hỏa tuyệt, tháng Tý hỏa mang thai, cho nên đoán nói là anh em trai không đắc lực. Còn lại suy theo chỗ này.

Ghi chú : Phương ngũ hành vượng tướng có thể lấy đoán là anh em trai đắc lực hoặc là phú hoặc là quý. 】

Lấy chi ngày là vợ, như ở đất xung hình khắc sát, đoán nói là khắc thê thiếp—— Luận thê thiếp, lấy ngày sinh thần làm cùng thê thiếp, không có chỗ vật khắc là cát. Nếu ở đất Không, hình, khắc, hại, thì khắc thê thiếp, nếu không cũng là trùng hôn tái thú, khắc nhẹ thì chủ tật bệnh. 【Ghi chú : Như Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Nhâm Tý, phạm ngày này lại chủ thê tự vẫn hoặc là tự sát. 】

Lấy giờ là Tử tức, đến đất tử tuyệt, đoán nói là thiếu con.

Luận Tử tức nhiều ít, nên lấy giờ sinh là cung Tử tức, nam lấy khắc can làm Tử tức, nữ lấy can sinh làm Tử tức, nếu đến đất tử mộ thai tuyệt suy nhược, Tử tức rất ít. Như nam mệnh ngày sinh Lục Ất giờ Thân, nên có nhều con cái. Ất mộc lấy Canh kim làm Tử tức, giờ Thân chính là giới hạn kim (còn gọi là phân dã), Canh kim đất kiến lộc, cho nên nói con nhiều vậy. Nếu sinh ở giờ Tý Sửu Dần Mão Tị Ngọ đoán là con ít, nói ở đất khắc mộ tuyệt thai là thụ chế. Hoặc trong tứ trụ ở trong giờ có hình phá khắc hại tổn, định là lớn tuổi ít con, dẫu có, cũng là tăng đạo con nuôi, bần tiện, chết yểu, thế hệ làm con nuôi người khác vậy.

Bởi vậy chỗ này luận không hợp lẽ, chỗ biết vật tạo âm dương. Xu thế thuật sĩ, vì thể chẳng biết lý lẽ mà loạn ngôn, không thể truyền lại, phải tìm hiểu chỗ thâm thúy huyền diệu vậy—— Người xưa luận năm sinh ở tổ thượng, chính là cung thế hệ ông cha phụ mẫu thịnh suy, thiết kị trong tứ trụ có vật hình xung phá hại nên tổn thương ở năm sinh, ứng chủ tổ tông mưu bại căn cơ, không có chỗ dựa thân ấm vậy. Lấy tháng sinh làm cung huynh đệ, nếu chỗ này tỉ hòa, là sao huynh đệ vậy. Nếu đến tháng tử tuyệt mộ thai, nói anh em trai không đắc lực vậy. Lấy nhật thần làm cung thê thiếp, nếu lâm đất Không, hình khắc hại, nói là khắc thê thiếp vậy. Lấy giờ làm cung Tử tức, Tử tinh nếu đến đất tử mộ tuyệt, nói Tử tức ít. Phú nói: Luận quyến thuộc, tra xét kĩ kỳ tử tuyệt. 《Tam Mệnh》nói: “Bên trong Tứ trụ thấy cửu tộc, trong tam nguyên luận lục thân. Phàm phụ mẫu tổ tông là chỗ nương tựa, anh em như chân tay, thê tử như tâm phúc, ai không có quyến thuộc thân ái chứ!” Cho nên lục thân nhiều ít, còn hay mất, quý tiện, vinh khô, suy vượng, tất cả không phải người trần đều có được, thực tế tạo hóa thiên địa, chỗ biết thành âm dương, quỷ thần không thể di dời vậy. Cổ ca nói: Từ xưa kẻ sĩ hiển đạt, uyên bác tinh thông kinh điển, hiểu được cổ thư, rất rõ vật tạo ban đầu, không có không thông hiểu ngũ hành. Ngô Phu tử nói: “không hiểu thiên mệnh, không phải là quân tử.” Ngày nay thuật sĩ không ra gì, không thể thông biến, rõ lý lẽ âm dương tạo hóa huyền vi, sai một ly, đi nghìn dặm. Xưng hô chỗ này, cũng là lấy đạo ngũ hành biện thông, nhiều cửa thủ dụng. Cho nên không thể truyền lại, nên tìm tòi áo diệu vậy. 【Ghi chú: Như năm tháng ngày giờ đếu thấy sao Tài Quan Ấn thụ, định chủ tổ tông phụ mẫu vinh quý, thê thục tử hiền. 】

Hỷ Kị thiên

(Hỷ là cát thần, Kị là ác thần vậy )

Tứ trụ bày định,Tam Tài thứ phân, Chuyên lấy ở trên thiên nguyên ngày, phối hợp can chi bát tự—— Phàm xem mệnh trước tiên xem tứ trụ năm tháng ngày giờ, sau phân ra tam nguyên Thiên Địa Nhân. Can là Thiên nguyên, Chi là Địa nguyên, lấy trong chỗ tàng kim mộc thủy hỏa thổ là Nhân nguyên. Năm là căn gốc, tháng là đề cương, ngày là mệnh chủ, giờ là phân dã (ranh giới). Cho nên lấy Thiên nguyên phối hợp ở trên ngày, thủ lấy Tài Quan Ấn thụ, có hay không có bại, thương, tranh khắc, mà luận bát tự vậy.

Ghi chú: Giáp Dần Giáp Tý là Hữu khí, sinh mùa xuân là tốt. Giáp Ngọ Giáp Thân là Vô khí, là người không có chí, mộc thần tử tuyệt ở đất Thân vậy. 】

Hữu kiến bất kiến chi hình, vô thời bất hữu ——

Bích Ngọc ca》 viết:

Giáp Quan Tân hề trụ vô hữu,

Chi Dậu nghi tinh cứu Mão xung,

Dậu hợp hỷ hợp Tị Dậu Sửu,

Như vô hỷ tuyệt suy vượng hưu.

Hoặc tam hợp lục hợp quý địa, dù là Lộc Mã, thê tài, tử tôn, phụ mẫu, huynh đệ đều là có thấy hình không thấy, vô thời mà không có vậy. Chỗ này luận sinh vượng chế khắc suy tuyệt, chỉ là trong chỗ tàng tạo hóa vậy, không có thời là không có. Trong Tứ quý có mộ tuyệt, trung dư khí vậy. Ngũ hành hưu vượng, phối hợp sinh tử vậy. Hình xung khắc phá, là biến hóa vậy.

Ghi chú : Một Chính Tài thì dễ lấy, hỗn loạn thì khó lấy. 】

Thần Sát tương bạn, khinh trọng giảo lượng—— Thần là quý nhân vậy. Sát là Thất Sát vậy. Nếu Thần Sát hỗn tạp, xem ở tiết khí nông hay sâu, hoặc có khử Quan lưu Sát, hoặc có khử Sát lưu Quan, tứ trụ hoặc tuế vận cũng nên biết cân đo khinh trọng ( nặng nhẹ). Giáp lấy Canh là Sát, Canh kim là hưu tù, thân vượng thì nhẹ. 【Ghi chú : Giáp lấy Canh là Sát, Xuân mộc Canh Sát Canh kim hưu tù, thân vượng thì Sát khinh. 】

Nếu đúng giờ gặp Thất Sát, thấy vị tất chưa phải là hung. Tháng chế can cường, Sát lại thành quyền ấn—— Chỗ này luận Thời Thượng nhất vị Quý cách. Chỉ có một vị, mới có thể thành quý, chỗ khác không nên thấy tiếp, mới là thanh quý. Nếu trên trụ năm tháng lại thấy thì là mệnh khó khăn gian khổ. Cần nhật can sinh vượng, không sợ hình hại, Dương Nhận. Là người trọng tính, cố chấp không khuất phục. Nếu torng tứ trụ gốc có chế phục, lại cần hành vận Quan vượng, về sau có thể phát phúc. Lại không thể chuyên nói chế phục, quý phải ở trong đó, chính là mệnh Tận pháp vô dân (Hết phép thì không còn dân). Ví dụ như mệnh khiến phải đi xa, Giáp Thân, Bính Dần, Ất Mão, Tân Tị, chỗ này dụng nhật can vượng, trụ giờ có Thiên Quan, chế phục trụ tháng, được trung hòa, cho nên là quý vậy. Canh Tý, Mậu Tý, Mậu Dần, Giáp Dần, trụ giờ có Thiên Quan, chế phục trụ năm, thiếu niên đăng đệ, trải qua nhận chức Thượng Thư. 【Ghi chú : Lục Giáp gặp giờ Canh Ngọ không hỷ Quan tinh, lại năm tháng giờ có Tân là hư danh lợi mà thôi. 】

Tài Quan Ấn thụ toàn bị, tàng trữ vu tứ quý chi trung ( Tài Quan Ấn thụ đầy đủ, tàng trử ở trong tháng Tứ Quý) —— Chỗ này luận Tạp khí Tài Quan Ấn thụ cách. Giờ Tứ quý là Thìn Tuất Sửu Mùi vậy, chính là khí trời đất không chính, gọi là Tạp khí vậy. Bởi vì trong Thìn có Ất mộc dư khí, Nhâm Quý khố mộ, có thổ Mậu Kỷ. Thìn Tuất Sửu Mùi đều lấy chỗ khí ẩn tàng mà nói, bốn chỗ này tàng trữ tạp khí, là Quan tinh, Tài khí, Lộc Mã, Ấn thụ của ta vậy. Phải xem Thiên nguyên tứ trụ chữ nào thấu ra là phúc. Thứ phân ra tiết khí nông sâu, nếu Sát vượng Quan ít thì cần chế phục, hỷ Tài. Nếu chủ vượng tướng xung, cần hành Tài vận khố vượng. Đại để đất phúc tụ không thể phá, như không có chỗ kị thì đại phát tài.

Ví dụ như mệnh Sử Thái sư: Bính Tuất, Mậu Tuất, Giáp Ngọ, Kỷ Tị, là Tạp khí Tài Quan cách, mệnh này dụng Tân Quan, Kỷ là Tài, trong Tuất có Tân kim dư khí, Mậu Kỷ thổ Tài vượng sinh Quan, cho nên phú quý lưỡng toàn.

Tân Sửu, Nhâm Thìn, Bính Tuất, Ất Mùi, bát tự này của Thiệu Song, hành vận Quan Ấn, thiếu niên đăng khoa, làm quan đến chức Ngự Sử.

Tân Mùi, Tân Sửu, Canh Tuất, Canh Thìn, người này dù cũng có đủ Thìn Tuất Sửu Mùi, do Tỉ Kiếp nhiều, vừa là thổ trọng vùi kim, hành vận Dậu thân vượng, đất Bối Trục, cho nên đao bút, công danh không thành, tự mình cô độc. Nhưng mà vật ở trong mộ khố, tự mở khóa để ẩn giấu, phải có hình xung phá hại, vật mở chìa khóa, thì nói quý mà phát Tài Quan vậy. Nếu tứ trụ vốn có vật hình xung phá hại, lại không cần gặp khí vận này, thì trái lại là quý thành tiện. Gốc nếu không có Tài lại hỷ hành vận này vậy. Học giả nên suy nghĩ cân nhắc kĩ càng. 【Ghi chú: Mậu Thìn, Nhâm Tuất, Đinh Sửu, Đinh Mùi, chỗ này là mệnh Hoàng đế Hồng Vũ . 】

Quan tinh Tài khí trường sinh, trấn cư ở Dần Thân Tị Hợi —— Tài Quan sinh ở đầu bốn mùa,Dần Thân Tị Hợi chính là đất ngũ hành trường sinh.

Ví dụ như Nhâm Thân, Tân Hợi, Kỷ Tị, Bính Dần, mệnh này trước vinh sau nhục, Kỷ dụng Giáp là Quan, trong Hợi có Giáp mộc trường sinh, Kỷ dụng Nhâm là Tài, trong Thân có Nhâm thủy trường sinh, Kỷ dụng Bính là Ấn thụ, trong Dần có Bính hỏa trường sinh, chỗ này là Tứ Mạnh, hung cục.

Nhâm Dần, Ất Tị, Quý Hợi, Canh Thân, bát tự này đầu hành vận Bính Ngọ Mùi tốt, một lúc đến Dậu Tuất, trong Tị có Bính Mậu Tài Quan tử ở Dậu, dụng thần tổn thương, gia đình tự tiêu tan thiếu kém, vợ chết.

Ghi chú : Bích Ngọc Ca viết: Ấn thụ Tài Quan nhật chủ cường, danh tiếng bốn bể. 】

Canh Thân thời phùng Mậu nhật, phương danh Thực thần chuyên vượng. Năm và tháng phạm Giáp Bính Mão Dần, chỗ này chính là Ngộ nhi bất ngộ( Giờ Canh Thân gặp ngày Mậu, gọi là Thực thần chuyên vượng. ) —— Chỗ này luận Chuyên vượng Thực thần cách. Mậu lấy Canh là Thực thần, trong đó có Canh kim kiến lộc. Mậu thổ dụng thủy là Tài, trong Thân có thủy trường sinh, chính là chỗ Tài vượng vậy. Mậu dụng Ất là Quan tinh, Canh có thể hợp Ất mộc trong Mão là Quan quý khí Mậu thổ. Nếu tứ trụ thấu ra 4 chữ Giáp Bính Mão Dần, thì hại Canh kim quý khí trong Thân, chỗ này chính là Ngộ nhi bất ngộ.

Ví dụ như Kỷ Mùi, Nhâm Thân, Mậu Tý, Canh Thân, chỗ này là Tạ Thừa tướng.

Bính Tý, Kỷ Hợi, Mậu Thìn, Canh Thân, bát tự này là một sinh viên, vì lộ ra chữ Bính, nhưng chỉ có ba lần là xếp lại, năm Giáp Tý được tiến cử, vận hành Giáp Thìn thủy thổ khố ở Thìn, dụng thần nhập mộ, chết ở Bắc Kinh. 【Ghi chú : Ca viết: “Ngày Mậu kỳ Ấn thụ Thực thần, Dần Mão Giáp Bính là kị, Dần Bính là Canh Sát, Giáp là quỷ của Mậu, Ất Mão lộ ra phá hại kỳ quý, Thực thần đều là can vượng. 】

Nguyệt sinh nhật can vô Thiên Tài, nãi Ấn thụ chi danh ( Tháng sinh nhật can không có Thiên Tài, chính tên là Ấn thụ) —— Chỗ này luận Ấn thụ cách, là thập can sinh Ta vậy. Là phụ mẫu, là Sinh khí, lại có thể hộ Quan tinh của Ta, cho nên Ấn thụ không có hại Thương quan vậy. Đại để cần sinh vượng, kị tử tuyệt, nếu trong tứ trụ gốc có Quan tinh càng tốt. Kị thấy Tài khí, cách hành Quan vận thì phát, nếu hành đến đất Tài vượng, là Tham Tài hoại Ấn, họa hoạn cả trăm điều, hành vận tử tuyệt tất bị tổn thương.

Ví dụ như Bính Thìn, Giáp Ngọ, Kỷ Mùi, Đinh Mão, mệnh này tháng sinh nhật can là Ấn thụ, gắn liền mệnh Cao Hòa thượng, đại vận Đinh Dậu, lưu niên Nhâm Ngọ, đang năm 30 tuổi, năm thứ 19 tháng 3 ngày 24 gặp đến mức cực hình, cho nên gọi là vận Ấn sinh phùng tử tuyệt, lại thấy Nhâm đến phá Ấn vậy, chỗ năm này dụng Thiên nguyên, đại vận dụng địa chi.

Nhâm Thân, Tân Hợi, Ất Mùi, Kỷ Mão, bát tự này Quảng Đông Lý Triệu Long thiếu trách nhiệm, hành vận Ất Mão, thủy đến cung Mão tổn thương, mất quan. 【Ghi chú: Giáp Ất Hợi Nhâm can Quý là không nên thấy Mậu Kỷ, là Tham Tài hoại Ấn thì phú quý trở thành tiện, như họ Thái là tham tài. 】(?).

Nhật lộc cư thời một quan tinh, hiệu thanh vân đắc lộ( Nhật lộc ở trụ giờ không có Quan tinh, hiệu là Thanh vân đắc lộ) —— Chỗ này luận Quy Lộc cách, trong tứ trụ phải không có một chút nào là Quan tinh, mới là cách này, gọi là Thanh vân đắc lộ. Nhật can sinh vượng là cần nhất, lại có cả hành vận đất Thực thần, Thương quan thì có thể phát phúc.

Nhưng mà Quy Lộc có 6 điều kị:

(1) Kị hình xung;

(2) Kị tác hợp;

(3) Kị Đảo Thực;

(4) Kị Quan tinh;

(5) Kị thiên nguyên tháng ngày giống nhau;

(6) Kị thiên nguyên năm tháng giống nhau.

Phạm 6 điều này, không thể lấy thành quý vậy.

Ví dụ như Giáp Tý, Bính Tý, Quý Sửu, Nhâm Tý, chỗ này là mệnh Trương Đô Thống, chính là Tý nhiều là Quy Lộc đất tụ phúc vậy.

Giáp Tý, Đinh Sửu, Ất Sửu, Kỷ Mão, là bát tự Thái Văn Huy, thuật sĩ đều tán dương tạo này đi học là có công danh, về sau học y, hành vận Tân Tị, năm Canh Tý mất lộc, chỗ này không phải là Nhật Lộc quy thời. 《 Độc Bộ 》nói: “Ất mộc vô căn, sinh lâm tháng Sửu. Kim nhiều chuyển quý, hỏa thổ thì gãy.”

Ghi chú: Bích Ngọc ca viết: Tân lộc ở Dậu là chân mỹ, ám hợp Bính là quý, trụ vận kị Quan, bản thân vượng Thực Thương, hỷ không có Quan Sát, thanh vân đắc lộc trèo lấy kim quế. 】

Dương thủy điệp phùng Thìn vị, là đất Nhâm kỵ Long bối —— Như ngày sinh Nhâm Thìn, gặp chữ Thìn nhiều là quý, chữ Dần nhiều là phú. Bởi vì Nhâm lấy Kỷ thổ là Quan tinh, Đinh hỏa là Tài tinh. Ngày Thìn ám xung Tuất trong có Quan khố, cho nên là Quý vậy. Chữ Dần nhiều có thể hợp Ngọ trong có Tài, cho nên phú vậy. Thi viết: Dương thủy nhiều gặp đất có chữ Thìn, là Nhâm kỵ Long bối tốt phi thường, trong trụ đều có chữ Nhâm Thìn, phú quý song toàn ở Miếu đường ( ý nói ở Triều đình).

Bính Tý, Giáp Ngọ, Nhâm Thìn, Giáp Thìn, chỗ này là một bát tự sinh viên, thuật sĩ thấy nói thiếu niên lợi thi khảo, đều lấy Nhâm kỵ Long bối cách, ca ngợi có thể làm quan áo tím ( chức quan cao). Còn lại chỉ lấy Tài cách mà xem, nói vận Dậu Tuất là không tốt, tới chỗ này quả là mất lộc, mà còn không có con cái.

Ghi chú: 《 Tứ Ngôn Độc Bộ》nói: Nhâm kỵ Long bối, thấy Tuất vô tình, Dần nhiều thì phú, Thìn nhiều thì vinh. 】

Âm mộc đơn độc gặp giờ Tý, gọi là đất Lục Ất Thử quý—— Chỗ này luận rất sợ chữ Ngọ xung, giờ Bính Tý rất tốt, gọi là tụ quý vậy. Hoặc trong tứ trụ có chữ Canh, chữ Tân, chữ Thân, chữ Dậu, chữ Sửu, bên trong thì có Canh Tân kim thì giảm nửa số, tuế quân đại vận cũng vậy. Như bên trong tháng có Quan tinh thì không dụng cách này, nếu trong tứ trụ gốc không có Quan tinh mới dụng cách này. Đinh Mão, Nhâm Tý, Ất Tị, Bính Tý, chỗ này là một bát tự quan lại họ Lộc, thuật sĩ đều gọi là Lục Ất Thử Quý cách, tán dượng có công danh, hành vận Thân rất được việc làm ở Bắc Kinh, tới vận Mùi thì bị mất việc, chỗ này chỉ tốt là lấy Ấn xem. 【Ghi chú: Chỗ này nói là đất Ất Tị Thân Tý, có con quý nhân. Kị thấy Quan tinh, thấy Quan tinh thì mất quý vậy. 】

Canh nhật toàn phùng Nhuận Hạ, kị Nhâm Quý Tị Ngọ chi phương, thời ngộ Tý thời, kỳ phúc giảm bán ( Ngày Canh gặp đủ Thân Tý Thìn, kị phương Nhâm Quý Tị Ngọ, giờ gặp giờ Tý thì phúc giảm một nửa) —— Chỗ này luận Tỉnh Lan Xoa cách, là chỉ Canh Tý, Canh Thân, Canh Thìn hợp thủy cục là quý, là sao vậy? Vì Canh dụng Đinh là Quan, Tý xung Ngọ. Canh dụng mộc là Tài, mà Thân xung Dần, trong Tuất có Mậu thổ là Ấn của Canh, mà có Thìn xung, Thìn Tuất lại là Tài Ấn, cho nên lấy 3 chữ Thân Tý Thìn đến xung Dần Ngọ Tuất là Tài Quan Ấn thụ. Nếu trong tứ trụ cần dụng đủ Thân Tý Thìn là quý, được 3 Canh kim là rất tốt. Hoặc là Mậu Tý, Bính Thìn cũng không ngại. Hỷ hành Đông phương Tài địa, Bắc phương Thương quan, Nam phương hỏa cách không phải quý, cho nên kị phương Nhâm Quý Tị Ngọ. Ví dụ như Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân, Đinh Sửu, chỗ này là mệnh Vương Đô Thống chế, Đinh Mão xuất quân bên Thổ, được 14 quan báo cáo. Canh Thân, Mậu Tý, Canh Thìn, Bính Tuất, chỗ này là bát tự của một sinh viên, chỉ có phát tài một chút mà không là quý. Sao vậy? Chỗ gọi là sinh Giang Nam tắc thành quất, sinh Giang Bắc tắc thành bưởi, là do thổ sản vậy.

Ghi chú: Lời nói này là do kim sinh thủy, Canh được Thân Tý Thìn thủy cục, kim lại sinh thủy là tượng Nhuận Hạ, cho nên không là quý. Nếu có Thân Tý hợp, Sửu hãm ở Giáp, thì Thiên Tài can vượng, thì can Bính tổn thương Canh gọi là Đoạt lộc. 】

Nhược phùng Thương quan nguyệt kiến, như hung xứ vị tất là hung ( Nếu tháng thấy gặpThương Quan, giống như chỗ hung chưa chắc đã là hung) —— Chỗ này luận Thương quan cách. Phép Thương quan, ắt phải thương tận mới không thành họa. Tứ trụ nếu gốc có Quan tinh, tổn thương càng nặng; gốc không có Quan tinh, thì tổn thương nhẹ. Nếu tam hợp hội khởi sát Thương quan cùng vận hành đất Thương quan, họa không thể nói hết vậy. Cho nên Thương quan kiến Quan, vi họa bách đoan. Nếu như năm sinh có Thương quan Thất Sát, là họa rất nặng, là gốc phúc thụ thương, cuối cùng thân không thể trừ khử. Nếu tháng giờ thấy đất Thương quan, có thể phát phúc vậy. Nếu mệnh nữ nhân có Thương quan, là chủ khắc phu. Nếu thấy hợp nhiều là ti tiện hoặc lạm dâm. Nếu không có chế là thành ni sư, hợp thì không phải phụ nữ tốt vậy. Nếu gặp sát quý nhân, cũng lấy mệnh phụ mà suy. Kỷ Mão, Quý Dậu, Mậu Dần, Canh Thân, bát tự này cha một học sinh, địa chi lục xung, ngày Mậu lấy giờ Canh Thân cách không thành, chỉ tốt là lấy Thương quan xem, hành vận Nam phương, đi thi bất lợi, khắc vợ không con, Kỷ vận chết.

Ghi chú: Cổ ca viết: “Ngày sinh Canh giờ gặp Tý thủy, năm giờ gặp Tý thủy Thương quan, Tuất Tị trong hung lại thành cát, trung hòa xem hung lấy cát.” 】

Nội hữu chính Đảo Lộc phi, kị Quan tinh diệc hiềm ky bán ( Bên trong có Đảo lộc bay, kị Quan tinh cũng kị hợp trói) —— Bên trong có chính Đảo Lộc phi, chính là Đinh Tị được chữ Tị nhiều, xung ra Nhâm thủy trong Hợi là Quan tinh của Đinh, là Chính Phi thiên Lộc Mã cách vậy. Nếu ngày Tân được chữ Hợi nhiều, xung ra Bính hỏa trong Tị là Quan tinh của Tân, chính là Đảo Phi thiên Lộc Mã vậy. Trong trụ có Nhâm Quý Thìn Tị, đều là hợp bán Quan tinh vậy, thì giảm phân nửa, tuế vận cũng như vậy. Thi viết: Lộc Mã phi thiên ít người biết, hai ngày Canh Nhâm quý vô nghi, trụ không hợp bán Quan tinh hiện, một bước lên mây đến Phượng trì. Lại viết: Phi thiên Lộc Mã ít người biết, Tân Hợi gặp nhiều Hợi là nên, không thấy Quan Sát không hợp bán, thiếu niên phú quý bái triều vua.

Ghi chú: Giả như mệnh Trương Hoàng Thân: Bính Tuất, Giáp Ngọ, Đinh Tị, Quý Mão. Bát tự Đô Đường Vương: Nhâm Thìn, Tân Hợi, Quý Hợi, Quý Hợi, là Đảo phi thiên Lộc Mã cách. Mậu Dần, Quý Hợi, Quý Hợi, Quý Hợi, chỗ này là do bát tự, lộ ra chữ Mậu là Quan tinh, vì thế là thấy vậy. 】

Ngày Lục Quý giờ gặp ngôi Dần, năm tháng sợ hai phương Mậu Kỷ —— Chỗ này luận Hình Hợp cách. Lấy ngày Lục Quý làm chủ tinh, dụng Mậu thổ là chính khí quan tinh, hỷ gặp giờ Dần, dụng Mậu thổ ở trong Tị, ngày Quý được Quan tinh. Như Canh Dần hình không thành, duy chỉ có giờ Giáp Dần là thành, hành vận cùng với Phi thiên Lộc Mã giống nhau. Nếu tứ trụ có chữ Mậu, chữ Kỷ, lại sợ Canh kim tổn thương chữ Giáp, hình hại chữ Dần, kị chữ Thân. Như Quý Dậu, Tân Dậu, Quý Mão, Giáp Dần, chính là mệnh Lâu Tham chính vậy. Kỷ Mão, Ất Hợi, Quý Mùi, Giáp Dần, bát tự này trụ năm lộ ra chữ Kỷ, cho nên công danh lận đận, thi cử nhiều lần không thành.

Ngày Giáp Tý lại gặp giờ Tý, sợ Canh Tân Thân Dậu Sửu Ngọ —— Chỗ này luận Tý diêu Tị cách. Giáp dụng Tân là Quan, Tân lộc ở Dậu, hai Tý là Ấn thụ của Giáp mộc. Trong Tý có Quý thủy hợp xa Tị trong có Bính Mậu, hợp động ngôi Dậu Tân là Quan tinh của Giáp, Tị Dậu Sửu tam hợp hội khởi Quan tinh. Hỷ tháng Nhâm Quý Hợi Tý, kị Canh Thân Tân Dậu, chính là kim đến tổn thương Giáp mộc. Chữ Ngọ đến xung chữ Tý, là hợp bán thì không thể khử hợp xa vậy. Giả như Giáp Thân, Giáp Tuất, Giáp Tý, Giáp Tý, chỗ này chính là mệnh của La Ngự Sử, mặc dù là Diêu Tị, nhưng trụ năm có Thân trong có Canh kim xung khắc Giáp, vận hành Mậu Dần, Dần hình Tị, trở thành họa vậy, lưu niên Ất Sửu thì bãi quan. Quý Sửu, Kỷ Mùi, Giáp Tý, Giáp Tý, bát tự này chính là một người rất thích đánh bạc, gia nghiệp hết sạch, trong đó sợ Canh Tân Thân Dậu Sửu Ngọ, chính lộ năm này xuất ra chữ Sửu, hành Đông phương là đất bối lộc, cho nên bần cùng. 【Ghi chú: Ngày Giáp Tý lại có nhiều Tý, Diêu Tị Tân Dậu chớ thấu lộ, Dậu có thể hợp khử Sửu, Sửu có thễ hợp khử Tị, không có vướng bước kim đều có thể bước lên thềm mây.】

Ngày Tân Quý gặp nhiều Sửu địa, không hỷ Quan tinh; tuế thời phùng hai cung Tý Tị, là hư danh hư lợi —— Chỗ này luận Sửu diêu Tị cách, có thể dụng chỉ có hai ngày Tân Sửu, Quý Sửu. Nhưng nếu trong tứ trụ không có một điểm Quan tinh mới dụng cách này. Bởi vì Tân dụng Bính là Quan, Quý dụng Mậu là Quan, Bính Mậu lộc ở Tị vậy. Sửu có thể phá Tị, xuất ra lộc Bính Ngọ vậy. Không nên điền thực chữ Tị, Tý Ngọ hợp trói không thể diêu hợp vậy. Nếu được một chữ Thân Dậu là tốt. Giả như Ất Sửu, Kỷ Sửu, Quý Sửu, Quý Sửu, chính là mệnh của Diệp Thị lang. Lại có Đinh Sửu, Quý Sửu, Tân Sửu, Kỷ Sửu, chính là mệnh Vương Thông phán. Quý Sửu, Ất Sửu, Quý Sửu, Quý Hợi, bát tự này tay trắng mà phát tài thành gia, chính là đúng Sửu diêu Tị cách vậy. 【Ghi chú: Cách này cần ám hợp Quan tinh, mà được hình hợp, tự luận lấy quý. Nếu tứ trụ thấy một điểm Quan tinh, chính là một tú tài. 】

Củng Lộc, củng Quý, Điền thực thì hung —— Chỗ này luận hai cách Củng Lộc, Củng Quý, chính là hai vị Hư Củng đất Quý Lộc, tứ trụ không thể chiếm cung Quý Lộc, thì điền thực vật không dung nạp vậy, là chỉ Quan tinh vinh hiển vậy. Củng lộc quý, khí mạnh vật thịnh, nếu có Không thì vật dung nạp, chính là quý lộc vinh hiển. Kinh viết: Quan sùng Lộc hiển, định là đất Giáp (kẹp) Lộc. Ngày giờ lại kị tổn thương, đều không củng chắc chắn vậy. Giả như Đinh Tị, Bính Ngọ, Giáp Dần, Giáp Tý, chỗ này là mệnh Vương Lang trung, chỗ này ngày giờ đến Giáp (kẹp) Sửu trong có Quý thủy dư khí, Tân kim khố mộ, ở trên Tị là thừa vượng, chính là tài của Giáp mộc, Quan trường sinh, xem sinh mệnh mà gặp, khởi không là quý, hậu vận hành Tân Sửu, ngoại trừ là Thông phán, nhập vận Canh Tý, Canh kim khắc Giáp mộc, năm tháng lại vừa xung phá Giáp Tý, chình là Thiên Trung Sát, tức là Không Vong, kẹp quý không vững, quý nhân chạy, chốc lát phá hủy.

Ghi chú : Củng Lộc không nên thấy có lộc, Củng Quý không nên thấy có quý, là chỉ ám trúng Hư Củng. Nếu thấy lộc chính là cách khác, không thể lấy cách này luận. Canh Tuất, Mậu Tý, Nhâm Thìn, Nhâm Dần, chỗ này chính là mệnh mang ngôi Hoàng đế, 11 tuổi hành Canh Dần trúng cử, 19 tuổi năm Mậu Thìn trúng Thám Hoa, hành vận Tân Mão điền thực mà chết. 】

Thời thượng Thiên Tài, cung khác kị thấy —— Chỗ này luận Thời thượng Thiên Tài cách, lại có tên là Thời Mã cách, cùng Thời thượng Thiên Quan là giống nhau. Dụng Thiên nguyên trụ giờ cùng bên trong Nhân nguyên, chỉ cần trụ giờ chỉ có một vị, mới là quý, nếu chỗ khác có một vị, nhiều tiện, khó lấy Thiên Tài mà luận. Cần thân vượng, không nên khắc phá, nếu Tài vận vượng tức phát vậy. Giả như Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Mậu Tý, Nhâm Tý, là mệnh Đô Thống chế vậy. Đinh Sửu, Kỷ Dậu, Đinh Sửu, Tân Hợi, bát tự này trụ giờ có Thiên Tài, chi tháng lại có Dậu Sửu hội cục, chỗ gọi là cung khác kị thấy vậy, gia nghiệp phá tận. 【Ghi chú : Giả như ngày Giáp thấy giờ Tuất, Giáp không nên tới tiếp Củng Lộc, vật kị năm tháng lại phân tài, so sánh nếu nặng thì tổn thất lục thân, hại thê tử. 】

Ngày Lục Tân gặp Mậu Tý, sợ ngôi Ngọ Mùi, vận hỷ Tây phương —— Chỗ này luận Lục Ấm triều Dương cách. Tân kim tới Hợi là đất Lục âm, còn được giờ Tý, cho nên viết: Lục âm hết chỗ Nhất Dương sinh, cho nên nói là Lục âm triều Dương cách, chính là vị trí âm đã hết trở lại dương. Tân dụng Bính Quan, Quý là Thọ tinh, chỉ cần có một chữ Tý, nếu nhiều thì không đúng. Hỷ can Mậu, Mậu đến hợp Quý, trong động Tị ám Bính, Bính là Quan tinh của Tân, trong tứ trụ kị thấy Ngọ xung phá lộc Tý. Tây phương chính là đất kim vượng, cho nên hỷ vậy. Đông phương Tài khí, thổ là bình thường. Không nên hành Nam phương đất hỏa, Bắc phương thủy là Thương quan vậy. Giả như Mậu Thìn, Canh Thân, Tân Mão, Mậu Tý, chỗ này mệnh tất vừa mới gặp, vận hành Tây phương. Lại như Kỷ Mùi, Tân Mùi, Tân Mùi, Mậu Tý, chỗ này là mệnh Vương Quận Ngọc, vận đất Đông phương. Giáp Dần, Giáp Tuất, Tân Mão, Mậu Tý, chỗ này là mệnh một sinh viên, thuật sĩ đều lấy Âm triều Dương cách suy đoán, hành vận Đông phương phá gia, đi thi mạo xưng quan lại, xem ra cần phải lấy Tham Tài phá Ấn mà luận là đúng.

Ghi chú: Ngày Lục Tân giờ gặp Mậu Tý, sợ Bính Đinh Tị Ngọ vận phương Nam Quan bị thương, không thể triều dương. Trụ không có hỏa, vào triều được ăn bổng lộc. 】

Ngũ hành gặp chi tháng Thiên Quan, trong năm tháng giờ cần có chế phục. Có loại khử Quan lưu Sát, cũng có loại khử Sát lưu Quan. Tứ trụ thuần tạp có chế, định cư nhất phẩm chi tôn. Nên có một vị Chính Quan, Quan Sát hỗn tạp lại thành tiện —— Chỗ này luận cách Thiên Quan. Nếu trong tứ trụ hoàn toàn không có một điểm Quan tinh, dụng Thất Sát là Thiên Quan. Nếu có Chính Quan, chỗ này gọi Thất Sát là Quỷ, chính là khắc thiên can vậy, cho nên gọi là Hữu kiến bất kiến chi hình. Hoàn toàn cần nhật can sinh vượng, cho nên hỷ thân vượng, sợ xung động Dương Nhận, chỉ cần chế phục, tứ trụ không nên thấy Chính Quan, nói là có anh thì không nên có em. Hoặc trong tuế vận, hoặc trong tứ trụ là khử Quan lưu Sát là sao vậy? Cính là chế phục vậy. Nếu Quan Sát hỗn tạp không phải thanh phúc. Chỗ này là chỉ Thiên Quan Thất Sát, chính là kẻ tiểu nhân, nhiều hung bạo, không sợ kị, chính là có thể lao lực để nuôi dưỡng quân tử vậy. Duy chỉ là không trừng trị không cảnh giác, không có nói để khống chế, thì không thể thuần phục mà thành sử dụng vậy. Nếu trong tứ trụ gốc không có chế phục, cần hành vận chế phục. Trong tứ trụ gốc có chế phục, cần hành đất thân vượng. Nếu có chế phục lại hành vận chế phục, cái mà thuyết minh gọi là Tận pháp vô dân. Giả như: Kỷ Mùi, Ất Hợi, Bính Dần, Tân Mão, chính là mệnh Vương Chương Minh Tướng công vậy, chính là tháng Thiên Quan chế phục ở trụ năm, bao gồm cả ngày tọa dưới hỏa trường sinh, tam hợp mộc cục, ngày Bính gặp Quý, cho nên phát lộc, sau gặp tử hình, chết không có áo quan tài, đầu hành vận Nhâm Thân khởi phúc vậy. Ất Dậu, Ất Dậu, Ất Dậu, Ất Dậu, hai người đàn bà, giống bát tự này, một là cực quý, một là cực bần mà có thọ, là sao vậy? Là do mệnh phụ nữ, quý tiện đều theo chồng vậy. Ất Dậu, Tân Tị, Ất Mão, Tân Tị, chỗ này chính là mệnh Chu Cử nhân, hành vận Mậu Dần, Ất Mão thi đậu chuyên khoa, hành Đinh Sửu, Tị Dậu Sửu là hội kim cục, chính là Sát trọng, năm Nhâm Tuất mất lộc.

Ghi chú : Sinh mệnh nếu như gặp Thất Sát, trụ năm và giờ lại gặp Thực Thương chế Sát trái lại là quý. 】

Ngày Mậu tháng Ngọ, vật lấy Nhận xem, năm giờ nhiều hỏa, lại thành Ấn thụ—— Chỗ này là luận Dương Nhận, Dương không phải là Khuyển Dương (Chó Dê), dương chính là âm dương, chỗ này trước Lộc một vị là đúng. Suy đoán dương vị có Nhận, âm vị không có Nhận. Như Bính Mậu lộc ở Tị, Ngọ là Dương Nhận. Ngày Mậu gặp tháng Ngọ, trên Ngọ không phải Nhận. Không phải Nhận là tại sao vậy? Chính là âm hỏa sinh dương thổ, chính vị tháng sinh nhật can, nếu can năm can giờ lại thấy hỏa, chính là Ấn thụ cách vậy.

Ghi chú : Quyết nói: ” Ngày Mậu tháng Ngọ lấy hiệu là Nhận, phải xem năm và giờ nếu đúng gặp, Bính hỏa, hỏa là Ấn của Mậu, như mệnh không có là phú quý. 】

Nguyệt lệnh dù gặp kiến lộc, mà kị hội Sát là hung —— Đại để trong mệnh lấy Tài Quan là quý, nếu trong tứ trụ đã có tác hợp, gọi là Tham hợp vong Quan, lại bao gồm cả hội khởi Thất Sát, trái lại là dấu hiệu hung. Ví như ngày Giáp dụng tháng Dậu là Quan tinh chính khí, nếu năm giờ có Tý Thìn lại hội khởi Thân trong có Canh là Thất Sát, chính là quỷ tặc của Giáp, cho nên thành hung. 【Ghi chú : Quyết nói: Củng Lộc chủ liên can gì đến bình an, thì cẩn thận thấy Bính hỏa khắc thương Canh, yểu thọ phúc khó thành. 】

Quan tinh Thất Sát giao sai, lại lấy hợp Sát là quý —— Quan tinh chính là thần quý khí, thuần mà không tạp, chính là thanh phúc; tạp mà không thuần, sẽ phá tạo hóa. Trong có hợp xuất ra Thất Sát là dấu hiệu tốt. Kinh nói: Hợp Quan tinh không là quý, hợp Thất Sát không là hung, chính là dựa vào ngũ hành cứu trợ. Ví như người sinh ngày Giáp được giờ Mão, trong Mão có Ất hợp chữ Canh là Thiên Quan của Giáp, gọi là Hợp Sát vậy. Nếu mệnh nam được khí hòa thuận, cùng hợp ý nhau, là quý vậy. Mệnh nữ gặp, chủ nhiều tâm ý không tốt, dù là đẹp đẽ, tính thích tư tình, chủ khắc phu hại tử. Như sinh ngày Canh, tứ trụ thấy Bính là Sát, thì có Thân Thìn hợp khởi Tý là thủy cục đến cứu, Bính hóa thành Quan thì tốt vậy.【Ghi chú : Ví như ngày Giáp thấy Canh Tân, Quan Sát giao xoa, thì Canh là Sát của Giáp, Tân là Quan của Giáp, tứ trụ gặp Ất hợp trụ Canh Sát là quý mệnh. 】

Trong trụ Quan tinh thái vượng, tên gọi là Thiên nguyên luy nhược—— Đại để mệnh người lấy Tài Quan Lộc Mã là quý, lấy khí trung hòa là phúc hậu, khí cùng bè đảng thiên lệch là bạc phúc. Nếu Quan tinh thái vượng, Thiên nguyên thân nhược, lại hành đất Quan vượng, trái lại là thành họa. Ví như ngày Giáp Ất thiên nguyên dụng Canh Tân Thân Dậu Tị Sửu là Quan quý, trong tứ trụ đã nhiều Quan tinh, gốc có chế phục thì tốt. Bản thân nhược cần hành vận chế phục là có thể phát phúc. Nếu hành đất Quan vượng, là tạo hóa thái quá, họa hại phá tài không thể nói hết, vận tuế cũng giống như vậy. Tân Tị, Canh Tý, Bính Tý, Quý Tị, bát tự này Quan vượng hành Bính Thân, Bính đến Thân là vị trí Sát trọng, năm Giáp Tý tháng 10, mất lộc. 【Ghi chú: Kỷ Mùi, Đinh Mão, Mậu Thân, Quý Hợi, Quan vượng chủ nhược, mệnh Hàn Nguyên soái. 】

Nhật can rất vượng không có chỗ dựa, nếu không là tăng cũng là đạo —— Chỗ này luận thời vượng, Sát làm chủ, gốc đắc địa, chính là đất thời vượng vậy. Người không mắc bệnh trầm kha, về già răng chắc biến thành màu đen, lấy tuổi thọ bền. Như cách này phần đa là xuất tục không thích địa vị mà ra khỏi bụi trần, thậm chí mộ đạo mà tu hành, chính là nhật can quá vượng. Ví như người sinh ngày Canh, tháng giờ ở Thân, hoặc vận nhập Tây phương, chỗ này Canh lấy hỏa là Quan tinh, hỏa đến Tây phương là tử, Canh lấy mộc là Tài, mộc đến Tây phương là tuyệt, đã là Tài Quan Lộc Mã đều không có, chính là muốn hướng vào tương lai, làm sao thi ân, cho nên không có chỗ dựa, chính là thân nắm vượng địa, cho nên mệnh hại không gần theo thân. Ví như Ất Mão, Bính Tý, Bính Ngọ, Quý Tị, sinh mệnh đúng chỗ này, nhật can vượng ở phương vận Đông Nam. 【Ghi chú: Nhật can rất vượng nếu không có chỗ dựa, hỷ gặp Tài Lộc Thực đi liên tục, Quan đến Tài tới nhiều phúc khánh, không có nam không có nữ đến sao hòa thượng. Nhật can rất vượng nếu không có chỗ dựa, hỷ gặp vận hành Ấn Tài Thực, thấy Quan đẹp ở Tài Ấn là phát phúc, nếu đất không có chỗ dựa thì nam là hòa thượng nữ làm ni cô. 】

Ấn thụ sinh năm tháng giờ, kị thấy Tài tinh. Vận nhập Tài hương, lại nên thoái thân tị vị—— Chỗ này luận tháng sinh nhật can, chính là tên gọi Ấn thụ. Ấn thụ chính là hỉ Quan tinh, sợ Tài khí, nếu thiên can có Tài hương, là phá Ấn vậy. Ấn thụ chính là nguyên khí của ta, cần phải kiên cố, nếu hành Tài vị thì nên lui thân về nhà, nếu không tất gặp giáng chức làm lính vậy. Ví như Canh Tuất, Giáp Thân, Quý Sửu, Đinh Tị, mệnh này tháng gặp chính khí Canh kim Ấn thụ, bản chủ không hợp tạp khí, trong Tị có Bính hỏa là Tài quý, thủy thấy Tài, là Tham Tài hoại Ấn, cả đời khốn khó. Cho nên viết: Ấn thụ ở đất hình khắc, cho nên tâm loạn thân vong vậy. Sau đại vận hành đất Kỷ Sửu, lưu niên Bính Dần, tháng 4 phá gia, là sao vậy? Là do gốc có Tài phá Ấn, tuế vận lại hành tổn thương vận khí , Canh nhập mộ vậy. 【Ghi chú : Trong tháng có Ấn thụ sinh nhật chủ, năm và giờ sợ Tài đến, vận nếu gặp Tài địa thì phá gia bãi quan. 】

Kiếp tài Dương Nhận, giờ thiết kị gặp, tuế vận tịnh lâm, tai ương lập tức tới—— Kiếp tài chính là Thiên nguyên ở trên ngày phân tranh Tài Lộc, Tỉ kiên cũng vậy. Dương Nhận, là vị trí trước lộc một vị vậy. Ví như Lộc Mã, Giáp lộc ở Dần, Giáp dụng Kỷ thổ là Tài, thấy Mão là Nhận, đến xâm phạm đoạt Kỷ thổ vậy. Ví như ngày Mậu Ngọ cùng với tháng giờ là giống nhau, có 2, 3 chữ Đinh Mậu, cùng nhau đến xâm hại đoạt Quý thủy là Tài, cho nên viết là Kiếp tài. Lấy Mậu lộc ở Tị, trước một thần là thấy Ngọ, Ngọ có Kỷ thổ khắc Quý thủy, chỗ này gọi là Kiếp tài Dương Nhận, cho nên chủ phá tài tán nghiệp, ly gia thất tổ, thi ân phản oán, tâm tính hung bạo, tiến lui nghi ngờ. Thiên chủ là thiếp Chính chủ là vợ, mang tật phá tướng, tính tham lam, trí lớn tâm cao, không đáng xúc phạm. Nếu vận cùng lưu niên mà gặp, thường cạnh tranh nhân tài, nếu không thì bệnh tật, liên quan đến vợ con vậy. Ví như: Quý Mùi, Ất Mão, Giáp Tý, Kỷ Tị, chỗ này là mệnh Nhạc Phi tướng quân, chỗ này là Kiếp tài Dương Nhận, Giáp lấy Kỷ là Tài, lấy Ất là Nhận, thấy Mão là Dương Nhận, Kiếp mà có tổn hại, Ất Mão chính là Kiếp tài Dương Nhận, vận hành Tân Hợi, lưu niên Tân Dậu, 39 tuổi chết ở trong ngục. Mậu Dần, Ất Mão, Giáp Tuất, Giáp Tý, bát tự này có tổ nghiệp, có con cái, không có anh em, cha mẹ mất sớm, hiện tại đang phát, hành vận Kỷ Mùi, năm Giáp Tý, vì việc quan mà phá tài mất lộc. Mậu Dần, Ất Mão, Giáp Tý, Giáp Tý, bát tự này có tổ nghiệp, có thứ sinh khắc, không có con cái, cha mẹ mất sớm, vận Đinh Tị năm Quý Mão, bị anh đánh phát bệnh mà chết, là sao vậy? Bởi vì xuân mộc không có kim, tuế vận cùng thấy chữ Mão vậy. 【Ghi chú : Kiếp Nhận, Giáp Tý sinh năm tháng có Mão, lại thấy Ất, Tài trong Kỷ thổ bị Ất đến cướp mất, tuế vận hung tử cùng đến mà chết vậy. 】

Thập can bối lộc, tuế thời hỷ kiến tài tinh, vận chí bỉ kiên, hiệu viết Bối Lộc Trục Mã—— Tài là Mã, Hướng về Lộc, là thuận; vậy Bối là nghịch. Ví như tứ trụ có Giáp được Dần là lộc, nếu gặp Tị Bính là Bối Lộc. Kinh viết: Luận Bối Lộc chủ không có Tài, chủ ban đầu là sáng sau thì tối, hỷ Tài tinh, Mậu Kỷ thổ trợ thân, hỏa tới Hợi là vô khí, Tỉ kiên thấy Giáp là phân tài. Kinh nói: Mã ở ngôi Tài. Chính là Giáp thấy Dần là thân vượng. Canh Thân (Giáp Dần ) dụng thổ là Tài, thổ tới Dần là bệnh, kim tới Dần là tuyệt, chính là Lộc Mã đều không phù thân. Phú nói: Mã kém Tài bé, nên lui thân về nhà, chẳng phải nói là lấy đường cùng mà cô đơn lạnh lẽo sao. 【Ghi chú: Như ngày Giáp dụng Tân là Chính Quan, trụ có Giáp mộc vận vượng, lại gặp Dần vượng, là Bối Lộc Trục Mã, chủ vợ con ly biệt. 】

Ngũ hành chính quý, kị hình xung khắc phá chi cung —— Chính khí Quan tinh, cần ở đề cương. Dụng Tài khí trụ giờ chính là Quý nhân vậy, kị thần hình xung khắc phá, điền thực. 【Ghi chú: Tài Quan Ấn hiệu là Tam Kỳ, là ngũ hành chính khí vậy. 】

Tứ trụ can chi, hỷ tam hợp lục hợp chi địa —— Phàm can chi có tam hợp lục hợp, chính là thiên địa âm dương vạn vật, đều có cảm ứng tương hợp. Nhưng lại được cương nhu tương chế hai tương xung, cho nên là tính cách gia quyến, vợ quý trọng ở chỗ đại nhân, lộc rơi vào sinh mệnh, theo hợp Tài gọi là Quan Lộc, theo áp chế hình hợp gọi là Hình Sát vậy. 【Ghi chú: Chỗ này hợp Tài nên ở mệnh nam là tốt, còn nữ nhân là đại kị. 】

Nhật can vô khí, giờ gặp Dương Nhận không phải nhất nhất là hung. Ví như ngày Giáp Thân, giờ Mão là Dương Nhận, chỗ này là Canh kim ở trong Thân có thể khắc Ất mộc ở trong Mão, là Tài là Mã là vợ, dù có gặp Nhận cũng không hung vậy. Nhật can nhược hỷ gặp Nhận, có Ấn trợ lộ Nhận, là chủ phúc thọ, không có Ấn chủ bần. Giáp Ngọ, Đinh Mão, Mậu Tý, Mậu Ngọ, bát tự này Mậu thổ sinh Xuân thì nhược vậy, hỷ giờ Ngọ là Nhận, lấy để trợ thân, gốc có lộc đến, hành Nam phương Ấn vận, đến tăng thêm lớn mạnh, nhưng có Quan Sát hỗn tạp, sau thi rớt, cuối cùng nạp thóc mà đi làm học trò. 【Ghi chú: Can nhược hỷ gặp Nhận, chủ phúc thọ vô cương. 】

Quan Sát lưỡng đình,thích thì giữ, ghét thì bỏ —— Giáp dụng Tân Dậu là Quan tinh, lại thấy Canh Thân, làm sao đây? Lại thấy tam hợp là hỗn tạp. Giáp Ất dụng Canh Tân là Quan quý, mà có Tị có Sửu, là Quan Sát hỗn tạp, dù có vận chế phục, hoặc khử Sát dụng Quan, hoặc khử Quan dụng Sát, mới phát phúc. Nếu mệnh hỗn tạp, tuế vận lại ở đất vượng, hỗn tạp Quan Sát, thì họa không thể nói hết vậy. 【Ghi chú : Có chế thì cát, không chế thì hung. 】

Đầu trang

Địa chi thiên can nhiều hợp, cũng nói là Tham hợp vong Quan —— Ví dụ như Giáp dụng Tân là Quan mà có Bính, thấy Canh là Sát mà có Ất, dụng Canh là Quan mà Tân là Sát, lại có Bính cùng can chi nhiều hợp. Chỗ này là dương Quan âm Sát, thì âm Quan dương Sát, chính là tạo hóa tất nhiên vậy. Nếu là tứ trụ có hợp thì gọi là Tham hợp Vong Quan. Kinh nói: Hợp Quan tinh không là quý, Hợp Thất Sát không là hung, gọi là ngũ hành có cứu trợ vậy. 【Ghi chú: Quyết nói: “Nam mà nhiều hợp tính thông minh, mầm mà nở cũng thành, nữ nhân nhiều hợp là tính quái dị mà tính tình không dâm tiện thì cũng là bần.” 】

Tứ trụ Sát vượng vận thuần, thân vượng là quan thanh quý—— Chỗ này Thất Sát tức là Thiên Quan vậy, nên chế phục. Bên trong tứ trụ lấy Sát thành Quan. Ví như Giáp thấy Canh là Sát, mà Giáp sinh ở đất Dần, chính là thân vượng. Dần ám bao Bính trường sinh, thì không sợ kim là Sát, lấy Sát hóa thành Quan tinh. Thì các chữ Giáp Canh là thế vượng, mà hành vận thuần vượng, chính là địa vị cực phẩm. 【Ghi chú: Nhâm Thân, Kỷ Dậu, Bính Ngọ, Mậu Tý, là mệnh Tri huyện. 】

Phàm thấy Thiên nguyên thái nhược, bên trong chỗ nhược có phục sinh —— Chỗ này luận nhật chủ tự tọa Quan Sát, chính là Nhân nguyên chỗ nhược phục sinh, chính là Thai sinh nguyên mệnh. Ví như Giáp thai ở Thân, trong Thân có Canh kim là Thiên Quan, là lục hợp được thụ khí tương cảm khí sinh Thai Nguyên, được Nhâm thủy trường sinh, trên Dậu là mộc dục, trên Tuất là quan đới, trên Hợi là lâm quan, như tính toán ngày của con người chắc chắn sinh mộc vậy. Cách này chỉ cần vận Quan tinh vượng mới có thể phát phúc, không nên xung khắc. 【Ghi chú : Như Giáp mộc tử ở Ngọ, hỷ Nhâm Quý, lộ ra Đinh Kỷ có thể sinh kim, thổ sinh Giáp trợ mới có thể phát phúc. 】

Trụ trung Thất Sát toàn chương, thân vượng cực bần—— Thất Sát vốn là bản lộc của Thương quan, Thất Sát vốn là Mả của Bại tài, Thất Sát vốn là thân của Thiên Quan, tứ trụ mà có, thân vượng thấy lộc không phải phú vậy. 【Ghi chú: Ất Dậu, Ất Dậu, Ất Dậu, Ất Dậu, gọi là Thất Sát toàn chương. 】

Mệnh nữ nhân không có Sát, nhất quý có thể làm người tốt—— Đại để xem nam mệnh cùng với nữ mệnh là khác nhau. Nữ mệnh không thủ Quan tinh, không thủ Tài tinh, không thủ Quý nhân, không thủ tam hợp lục hợp, không nên thấy Tài Mã sinh vượng hung bạo, can chi không nên có Dương Nhận cương cường, không nên thấy Tỉ kiên. Chính là thấy như vậy, Tại sao biết thế nào là quý tiện? Trả lời: Mệnh âm, như thế luận như nhau, nếu Thiên nguyên vận động, sao có thể phân biệt nóng lạnh, bốn mùa, tám tiết, sương lộ, vũ tuyết, trời âm sao có thể biện luận đây? Mệnh âm, hoàn toàn dựa vào chồng, chồng quý vợ cũng quý vậy, chồng bần vợ cũng bần, chính là lý lẽ của thiên địa âm dương vậy. Phàm mệnh nữ nhân, đại hỷ nên an tĩnh thanh quý, vượng phu vượng tử là tốt. Nếu tuyệt khí cùng hình xung phá hại là không tốt, nếu mệnh có kẹp (giáp) quý, tất là vợ quý nhân vậy. 【Ghi chú: Mệnh nữ nhân chỉ thủ một Quan là quý, còn lại không thể thấy trùng lắp, hoặc hợp Thiên Tài Lộc Mã Thương quan, đều không phải là phụ nữ tốt vậy. 】

Quý nhiều hợp nhiều, tất là sư ni xướng tỳ —— Quý là Quan Sát vậy. Quan là chính phu ( chồng chính), Sát là thiên phu ( người tình). Hợp là địa chi ám hợp, tam hợp, lục hợp, không thể nhiều tư tưởng, dù sinh ra phẩm chất tốt, tính vui tư tình, không phải là phụ nữ tốt vậy. Phàm mệnh có Thất Sát, Thực vượng nhiều chế, việc làm dày vò đau khổ, nhưng tính cao minh tài năng, có khác là hay khổ đau lụy tình, chứ không kết gia phá bại. 【Ghi chú : Thân vượng có hợp, có Hoa Cái Không Vong, sinh trưởng thông minh, thích làm bạn với tăng đạo. 】

Giờ gặp Thiên Quan, chế phục thái quá chính là bần nho —— Thiên Quan chủ tính người thông minh, có tính kiên cường khinh dễ. Nếu trong tứ trụ chế phục nhiều, chính là Tận pháp vô dân vậy. Khí trung hòa là phúc hậu, còn bè đảng thiên lệch là bạc phúc. Ví như Bính Ngọ, Giáp Ngọ, Quý Hợi, Ất Mão, chỗ này chính là mệnh tiền trả cho khách học trò, trụ tháng có Thiên Quan, cho nên thương tàn, mắt mù chân què, nhưng có văn chương tốt, cuối cùng là bần cùng vậy. 【Ghi chú: Phàm mệnh Thất Sát Thực vượng chế nhiều, làm việc nhiều va chạm, nhưng lại có sai lầm là phát sinh tài học cao minh, tuổi thanh niên không thành gia thất lại còn phá bại. 】

Tứ trụ Thương quan, vận nhập Quan hương tất phá —— Chỗ này luận Thương quan. Tứ trụ có Quan tinh, vận nhập đất Quan, bị phá nhẹ, cần phải rõ khinh trọng (nặng nhẹ). Ví như Quý Mùi, Quý Hợi, Tân Mùi, Quý Tị, chỗ này là mệnh Nhất Đô Thừa, Tân lấy Bính là Quan, trong giờ có Bính, thấy Quý thủy thì phá Quan tinh vậy. 【Ghi chú: Tứ trụ có Thương quan, lại hành vận đất Thương quan thì không nên vậy. 】

Ngũ hành tuyệt xứ, tức thị Thai Nguyên, ngày sinh gặp, danh viết Thụ khí —— Sinh gặp Thai Nguyên, danh viết Thụ khí. Thi viết: Ngũ hành tuyệt xứ là Thai Nguyên, nếu ngày sinh gặp là đủ phú quý, lại như gốc địa chi đến giúp đỡ, nhất định có áo gấm bước lên thềm vua. Trình độ lý lẽ có thể biết lẽ huyền vi, tính toán có thể biết được sinh tử. Mộc tuyệt ở Thân, tức là Thụ khí, thai ở Dậu, thì dưỡng ở Tuất, cung Hợi là chủ trong tử hồi sinh, mất khí lại hồi phục, giữ tài mà danh toại. Giáp Thìn, Nhâm Thân, Bính Tý, Kỷ Sửu, Bính Tý chính là Bào Thai, chi ngày hội cục, hỷ có Giáp mộc sinh, Kỷ thổ chế, một lúc giao vận Giáp Tuất, liền thi đậu khoa Giáp.

Là do ít đo lường âm dương, không thể đồng loạt mà suy đoán, cần phải nắm lấy khí được trung hòa. Thần phân quý tiện, lấy đủ phép di thư của thánh xưa, dẫu đọc nhiều ước dùng trước mắt. Nếu tham khảo thông phép này, xem mệnh không sai không sót vậy.

Quyển hai (1)

Kế Thiện thiên

Nhân bẩm thiên địa, mệnh thuộc âm dương, sinh cư phúc tái chi nội, tận tại ngũ hành chi trung( Người báo với trời đất, mệnh thuộc âm dương, bên trong lại sinh chỗ phúc, tận cùng ở trong ngũ hành) —— Con người vâng chịu bởi số 2 và 5, do trời đất mà sinh vật hình thành. Con người được tinh thần của vạn vật, chính là chính khí của trời đất mới thành con người, thuộc chỗ âm dương ngũ hành, là không xa rời ở kim mộc thủy hỏa thổ vậy. 【Ghi chú: 】 Tâm chủ hỏa, Phế chủ kim, Can chủ mộc, Tỳ chủ thổ, Thận chủ thủy. Như suy đoán bệnh tật con người, phải lấy ngũ hành tương khắc mà đoán.

Dục tri quý tiện, tiên quan nguyệt lệnh đề cương (Muốn bết quý tiện, trước tiên xem ở đề cương nguyệt lệnh) —— Nguyệt lệnh chính klà cương lĩnh của bát tự, lại cần phải biết tiết khí nông sâu để biết tai họa. Như trong Dần có Mậu thổ dư khí 7 ngày rưỡi, Bính hỏa lại ký sinh 7 ngày rưỡi, Giáp mộc chính lệnh tổng cộng 15 ngày. Chỗ này nếu không biết dùng ba vị nào là là họa hay là phúc. Thấy Chính Quan, Chính Ấn, Thực Thần thì cát, Thương quan, Thiên Ấn thì hung vậy. Chú thích: Đề cương chính là Nguyệt lệnh, trước tiên xem khí hậu cát hung nông sâu. Quan Ấn và Tài thần, kị động xung hình, vận suy gặp cát, thì đoán là tốt, hung thì là bình thường. Sinh vào tiết khí thuộc thần nào, quý tiện bần phú do mệnh định. 【Ghi chú : 】Nguyệt lệnh là giống như người lệnh thần hành quân, nắm kỷ cương một tháng, sinh sát đều từ chỗ này, cho nên viết là Đề cương.

Thứ đoán cát hung, chuyên dụng nhật can vi chủ bản. Tam nguyên yếu thành cách cục, tứ trụ hỷ kiến tài quan —— Thiên can gọi là Thiên Nguyên, Địa chi gọi là Địa Nguyên, trong chi lấy chỗ vật ẩn tàng gọi là Nhân Nguyên. Tứ trụ là năm tháng ngày giờ, chuyên lấy can chi ngày sinh phối hợp tam nguyên tứ trụ mà thành cách cục, duy chỉ có hỷ Tài Quan.

Dụng thần bất khả tổn thương, nhật chủ tối nghi kiến vượng —— Như nguyệt lệnh có Quan không thể tổn thương, có Tài không thể cướp, có Ấn không thể phá, phàm trong trụ có dụng thần không thể làm tổn hại là vậy. Vẫn cần can ngày cường kiện, thì có thể đảm nhận Tài Quan. Chú thích: Chuyên lấy can ngày làm chủ, thứ là xem Ấn thụ Tài Quan. Giáp Tý sinh ở tháng Dậu, trong đó Quan lộc là đầu mối. Dần Ngọ Tuất sợ Bính Đinh, lại không thích có Tỉ Kiếp Thương quan. Phá Ấn lại thành hạ tiện, không có hương thơm vận Kiếp tài. Thìn Tuất Sửu Mùi ông bà tặng cho của cải, Mậu Kỷ danh đăng kim bảng. Lại nói: Dục vấn tam nguyên hà thủ, thiên thời địa lợi nhân hòa. Ví dụ như ngày sinh Giáp Tý, tôi dựa vào ví dụ này không có nói sai, người có thiên can Giáp địa là Quý, Ấn thụ Quan chân có thể mừng. Nếu vẫn có chỗ này không bị thương, thân được hương trời tọa đài các. Thủ dụng lấy Chính Quan làm ví dụ, sợ để Kiếp phá Thương quan. Một ngôi Chính Tài là đẹp, Tài nhiều tọa Sát là tai ương. Vận hành Tỉ kiên mất vượng, vì thế mệnh nam gặp hiệu là Tài lương. Thân suy Tài vận họa khó đảm nhận, thân kiện thì thêm phúc vượng.

Ghi chú】 Quan là chính nhân quân tử vậy, cho nên sợ bị tổn thương, như Giáp dụng Tân là Quan kị Đinh hỏa gây hại.

Niên thương nhật can vi bản chủ bất hòa—— Ví như nhật can là Giáp Ất, trụ năm thấy có Canh Tân khắc, cho nên viết là Chủ bản bất hòa, chính là cha con không hợp nhau vậy. Trụ năm gặp Thất Sát khắc nhật chủ, tổ tông không có sức nuôi dưỡng phải làm con nuôi. Nếu còn ngày tháng và giờ, quy Lộc Mã Tài là chết yểu. Vận Sát vượng gặp là thành họa, Ấn sinh trợ nhiều là tốt. Vận Tỉ kiên vượng chớ nghi ngờ, chỉ là đơn độc nằm mền chăn giấy.

Ghi chú】 Nhật can là chủ, lấy trụ năm làm tổ nghiệp, tháng là cha mẹ anh em, chi ngày là vợ, giờ là con cái (tử tức).

Tuế nguyệt thời trung đại phạ Quan Sát hỗn tạp —— Trong năm tháng ngày giờ đã có Quan tinh lại thấy Thất Sát, thì không tốt vậy, việc phải phối hợp mà đoán lấy, thì họa phúc có bằng chứng vậy. Chú thích: Phàm là Tài Quan Ấn Thực, đều dựa vào tháng sinh sử dụng. Thấy Tài lấy Tài mà đoán, thấy Quan lấy Quan mà bàn. Gặp Ấn lấy Ấn mà luận, khí có nông sâu sẽ hiểu ngay. Tử, tuyệt, bại, suy, mà cân đo, năm sinh vận tháng, nhiều quý nhiều gốc, cầu quý xuất từ tổ tông mà suy.

Ghi chú】 Sát có chế thì thành Quan là thiện, không có chế thành Thất Sát là tạp, gặp Quan nên kị.

Thủ dụng bằng vu sinh nguyệt, đương suy cứu vu thâm thiển; phát giác tại vu nhật thời, yếu tiêu tường vu cường nhược —— Dụng là chỗ tàng ẩn trong Nguyệt lệnh. Như Giáp mộc sinh vào tháng 11, chính là tháng Tý, thì lấy chỗ tàng trong Tý là Quý thủy làm dụng thần. Quý là mẹ của Giáp, kị thổ khắc, cần ngày giờ phụ giúp, có thể là vượng tướng hưu tù, còn lại cứ theo giống vậy mà suy.

Ghi chú】Ví dụ như người Ất sinh vào tháng 7, Canh kim là Chính Quan, kị hình xung Tị hình vậy.

Quan tinh chính khí, kị kiến hình xung ——《Bích Ngọc ca》 viết: Quan tinh chính khí chớ hỗn tạp, chớ gặp Tài nhiều cùng Thương Thực. Còn như Ất Mão thấy giờ Canh Thìn, tháng đóng gặp xung. Chỉ có Giáp sinh tháng Tị Dậu Sửu, đừng gặp Ngọ Mùi hỏa cục, còn nếu Quan vượng thấy xung hình, thấy có Ấn là cát dụng.

Ghi chú】 Chính khí Quan tinh, không có Sát hỗn tạp làm tổn thương nhau.

Thời thượng thiên tài, phạ phùng huynh đệ —— Người Giáp thấy giờ Mậu Thìn là Thiên Tài, thấy chữ Ất là đất Tỉ Kiếp, thì mệnh không tốt vậy.

Ghi chú 】Chỗ này luận Thời thượng Thiên Tài cách.

Sinh khí ấn thụ, lợi quan vận úy kiến tài hương —— Người sinh Giáp Ất, thấy tháng Hợi Tý là Ấn thụ, hỷ thấy Canh Tân Thân Dậu vận thì phát. Nếu hành nhập vận Mậu Kỷ Tị Ngọ, là dấu hiệu không tốt vậy. Cổ ca giải thích: trụ năm tháng giờ đến sinh trợ cho ngày, hiệu là Ấn thụ sinh thân. Vận hành Quan Ấn khởi trân châu, vận gặp Tài vượng phá Ấn. Ấn vượng không có chế là con lừa mồ côi, Quan Ấn cân bằng là siêu quần. Phía Nam vượng phá Ấn mệnh nói hết, Quan vận nghĩ là quý mệnh.

Ghi chú】Có Ấn tất dụng Quan, nếu không có Quan nắm, thì Ấn chỉ là sống uổng phí vậy.

Thất sát thiên quan hỷ chế phục, bất nghi thái quá —— Ngày Nhâm thấy Mậu là Thất Sát, cần thấy Giáp mộc chế thì quý tốt vậy. Giáp mộc nhiều thì thái quá vậy, giống như tiểu nhân nhận chế quân tử, thái quá tất chủ phản nghịch. Ca cổ chú thích: Không chế thì là Thất Sát, Thất Sát có chế là Thiên Quan. Có chế Sát thì thành lương thiện, một chế một phục là trên hết. Chế quá thì bần hàn ngu xuẩn, hỷ hành đất Thất Sát. Thân vượng không có chế vượng thân cường, lại cần hành vận đất Sát.

Ghi chú 】Thất Sát không chế thì thành họa, có chế thì thuần, chính gọi là Thiên Quan.

Thương quan phục hành quan vận, bất trắc tai lai; Dương Nhận xung hợp Tuế quân, đột nhiên họa đến—— Chỗ này người sinh ngày Giáp, thấy Mão chính là Dương Nhận, mà gặp Dậu kim xung, lại thấy Tuất hợp, thì họa đến. Cho nên nếu như sinh trong tứ trụ vốn có thần Dương Nhận, bỗng đến tương xung, khắc phá lưu niên Thái tuế, hoặc có tam hợp gọi nhau, khắc hại Tuế Quân, thì đột nhiên có họa tới. Như năm Ất Tị, ngày sinh ở Thân, tứ trụ có Tị Hợi đối xung, hoặc Tị Dậu Sửu là họa. Cổ ca chú thích: Luận kĩ Thương quan hỷ kị, kị không cùng đến Quan. Tuế quân, nguyệt kiến, nhật thần nghi kị, kị nhất là hình hại. Ứng như thấy cừu nhân, sinh nộ sát sinh khó trở về. Ngày Giáp Tý giờ Mão, đến đoán công Dương Nhận. Tuế vận Tân Dậu nếu gặp nhau, Đinh phá Tân Mão vô dụng. Ngày Bính sinh giờ Giáp Tý, gặp năm Mậu Kỷ giống nhau. Giáp có thể phá Mậu, Ngọ xung Tý, chế trái lại là dụng tốt.

Ghi chú 】 Nguyệt lệnh có Thương quan dụng thần, lại hành vận Thương quan, giống như có hai Hổ tranh nhau, cừu nhân cùng thấy, là chủ hung, Dương Nhận hợp Tuế quân cũng như vậy.

Phú nhi thả quý, định nhân Tài vượng sinh Quan —— Kinh nói: Tài nhiều sinh Quan, phải cần thân cường; Tài nhiều cướp khí, bản thân tự nhu nhược. Lại như Giáp Ất lấy Canh Tân là Quan, Mậu Kỷ là Tài. Thiên can được khí sinh vượng, thì thổ sinh kim, kim chính là Quan của mộc vậy. Chủ trước bần sau phú, bởi vì Tài vượng sinh Quan vậy. Cổ ca chú thích: Phú mà còn quý, định vì Tài vượng sinh Quan. Thân cường Tài tích phúc như núi, Tài nhiều lộ ra tính phù phiếm lêu lõng. Nếu còn chủ nhược không thể sinh, định là nhà giàu mà người thì bần.

Ghi chú】Chỗ này là nói Tài vượng nên tàng, nhật chủ cũng cần sinh vượng, được Quan đến thì có thể đảm nhận, nếu thân nhược thì không thể kham nỗi vậy.

Phi yểu tắc bần, tất thị thân suy ngộ quỷ—— Kinh nói: Vượng thì lấy Sát hóa thành quyền, suy thì biến Quan thành Quỷ. Giống như người sinh Giáp Ất, Tị Ngọ Hợi là họa thân, mất thiên thời, thấy Canh Tân Thân Dậu đến khắc, không chết yểu thì nghèo mà hèn vậy. Cổ ca chú thích: Giáp sinh Canh kim Thu vượng địa, là thân suy vậy, sao lại nói là phúc? Giờ gặp Dần Mão nên đề phòng chết yểu, sao biết Mùi tuyệt kim vượng, không bệnh tật thì họa cũng nặng, cô khổ phát sớm, nên là yểu vong. Nhận Thực đợi Ấn nói rõ là họa, quý hiển dân hào đạt sĩ.

Ghi chú 】Giáp sinh Canh kim, Thu vượng thân suy vậy, sao lấy phúc mà nói.

Lục Nhâm sinh lâm Ngọ vị, hiệu viết Lộc Mã đồng hương —— Nhâm lấy Đinh là Tài Mã, Kỷ là Lộc Quan, Đinh Kỷ lộc ở Ngọ, cho nên viết là Lộc Mã đồng hương. Cách này hỷ sinh mùa Thu, có Canh Tân kim chế Giáp Ất, cho nên là không có hại. Nếu thấy Dần Mão vượng thì phát về văn mà không sáng. Sinh mùa Đông là Huyền vũ nắm quyền, gặp là thấy Tài mà phân tranh. Sinh mùa Xuân Giáp Ất vượng, giờ Dần Mão chính là hội tụ hung sát vậy. Cách này lại sợ Tài Quan hiển lộ khắc thương Tuế Vận, thì không tốt vậy. Cổ ca giải thích: Ngày Nhâm sinh đến ngôi Ngọ, giờ Ngọ phối Tị Tài Quan. Lại nói đến gặp Dần Ngọ Tuất, hỷ nhất là hình xung Quan Sát vượng. Lại sợ Tài Quan hiển lộ, Khôi thương Tuế Vận là tai ương. Chính Quan là đất Lộc Mã Tài, tháng giờ vận Ngọ cũng giống vậy.

Quý nhật sinh hướng tị cung, nãi thị Tài Quan song mỹ —— Ngày Quý lấy Mậu là Quan, Bính là Tài, chính là Bính Mậu lộc ở Tị vậy, cho nên viết là Tài Quan song mỹ. Nếu là trong tứ trụ không nên thấy thủy cục, giờ gặp Quý Sửu không là hung, tại sao vậy? Trong Tị có Mậu thổ, trong Sửu có Quý thủy, thủy dư khí, chính là Tài Mã vậy. Cách này tối kị tuế vận lộ ra Quan Sát, thì trái lại giảm phúc mà khổ cực vậy. Cổ ca giải thích: Ngày Quý sinh ở ngôi Tị, Tài Quan phúc lộc như thế nào? Tị tàng Bính Mậu là đứng đầu, Bính là Tài thần Quan là Mậu. Tháng, giờ và vận cùng đảo xung hình, nhiều bần tiện là không nghi ngờ. Tuế vận lộ rõ Quan Sát, giảm phúc khó khổ mà thôi.

Tài đa thân nhược, chính là Phú ốc bần nhân —— Ví như năm Giáp Thân, tháng Nhâm Thân, ngày Bính Thân, giờ Tân Mão, trong Thân có Canh kim, chính là Tài nhiều. Lại có Nhâm thủy, chính là Thất Sát chế nhật chủ, thân nhược quá nặng vậy. Chỗ này là mệnh nhà giàu mà người thì nghèo vậy. Cổ ca giải thích: Tài thần thấy trùng từ 2 đến 3, thân suy ít phúc mà khó khổ. Tính ra trước giàu tích tụ châu báu, sau là phá gia mang tiếng. Nhật chủ nhược nối liền Ấn trợ giúp, thấy thủy là phú quý. Hơi nghèo Chính Tài thừa vượng thì dựa vào vợ mà vinh, đảm nhận thích hoa mà không vững chắc.

Ghi chú】 Thân nhược mà Tài nhiều, hỷ nhất là có Tỉ kiên phân chia, nếu không thì hại mệnh vậy.

Dĩ Sát hóa quyền, định thị Hàn môn quý khách —— Đại để Thất sát hóa thành Quan tinh, như Bính kị Nhâm là Sát, Tị Ngọ phản tài là thế thổ, thì Nhâm thủy không thể thành hại, hóa Sát thành Quan, phát ở bạch ốc. Nếu trong tứ trụ có thổ, thì Bính gặp giờ Nhâm là lấy địa vị cực phẩm vậy. Cổ ca giải thích: Ngày Quý tháng đến Quý Sửu, hai khí thiên can liền nhau. Mặc dù gặp Sát bản thân vững vàng, nhiều Tý Sửu là Sát ít. Mùi cùng với can chi năm là Sát, là Thân và Sát cân bằng cũng không thích. Như sinh hai phú quý đầy đủ, tổ tông hiển lộ danh dương phúc lộc vững. Lại nói: Gặp Sát cần phải xem Ấn, Ấn thụ hóa Sát thành quyền. Sát nhiều cần Thực chế là tốt, sau giàu có chắc chắn gánh được trục trặc. Ngày Giáp thấy Canh Thân là Sát, hỷ gặp phương Đông mộc vượng. Bính Đinh Dần Ngọ hỏa táo khô, chế Canh quá, trái lại thành hạ tiện.

Đăng khoa giáp đệ, Quan tinh lâm cung không có phá —— Chính khí Quan tinh, trong tứ trụ không thấy Thương quan, không có Sát hỗn tạp, hành vận vượng, thiếu niên tất chủ đăng khoa cập đệ. Cổ ca giải thích: Ngày Bính sinh Quan, tháng Sửu danh truyền Tài Quan quy lộc. Vật ở trong Khố hỷ kỳ xung, thích hình xung ngoài trụ. Mệnh gặp xung thì quý, đăng khoa vị trí tới quan Huyện. Nếu bên trong trụ còn có xung hình, lại gặp ở vận thì không tốt.

Ghi chú 】Như Giáp sinh tháng Dậu là chính khí Quan tinh, gặp Đinh là khắc Dậu trái lại là tai vậy.

Nạp túc tấu danh, tài khố cư sinh vượng chi địa —— Chỗ này gọi là Mộ Khố cách. Như nói Tài Quan tinh đến khố mộ, cần phải có một vật để mở. Người khó phát ở thiếu niên. Kinh nói: Người gặp khố thiếu niên khó phát. Chỉ sợ có vật đè nén, nếu hành vận Tài vượng hoặc mở khố, cho nên nói Nạp túc tấu danh. Cổ ca giải thích: Phối ngày Đinh Tị tháng Kỷ Sửu, giờ gặp Tân Sửu toàn là Tài. Can năm Ất Mão trợ giúp thân vững, Tị hỏa xuất ra đến nung luyện. Sao liệu Tài đa quy khố, hai sao thổ kim kết duyên. Phân rõ nạp thóc đi cống cho thiên triều, học sĩ Ất mộc là Tài. Lại nói: Sinh ngày Canh ở tháng Mùi, trong Mùi có Ất mộc là Tài. Tài tinh quy khố cần xung khai, không có nhảy qua cửa hồng môn để tỏa sáng. Nói ngày Mậu Thìn thổ trọng, gặp xung phú quý tốt ư. Bởi vì Trần Chu được phú quý, nhờ hủ gạo họ Trần anh hào vạn dặm.

Ghi chú】Khố là có khí, mở ra thì lấy mà dùng; Mộ là vô khí, dù mở cũng không có mà dùng.

Quan quý thái thịnh, tài lâm vượng xứ tất khuynh —— Ví như Giáp Ất dụng Canh Tân Thân Dậu là Quan tinh, lại có Tị Dậu Sửu, chính là Quan tinh nhiều. Nếu trong tứ trụ không có chế phục, lại hành vận Quan vượng, vật gặp thái quá, họa hoạn không thể nói hết. Ca cổ giải thích: Trong trụ Quan tinh thái vượng, thân cường trái lại thành phúc. Luận phương chủ vượng không có xung, vận hành Tài địa gia đình càng tốt. Thân suy khổ hành đến Tài địa, hóa quỷ trái lại chắc chắn là nguy cơ. Nhưng nếu dựa vào Ấn thụ hỷ Tài, cha con quý sớm không lâu dài.

Ghi chú】Như người cở đất cực quý, nếu như bất chính, thì tang thân vong gia vậy.

Ấn thụ bị thương, dù có vinh hoa cũng không dài —— Ấn thụ nguyên là gốc sinh khí, không thể bị thương, thấy Tài là bị thương vậy, là phúc bị tổn hại, cho dù ứng với lộc vị, chẳng bao lâu sẽ thất bại, cho nên gọi là Tham Tài hoại Ấn là vậy. Thấy Tài trùng trùng, việc sẽ khó khăn. Cổ ca giải thích: Lục Giáp sinh phùng đất quý, sợ nhất Mậu Kỷ đến xâm hại. Giống như ẩn tàng mà gặp Tài ở bên ngoài đại vận, sẽ gặp tai họa hình hại. Vận không thấy Tài là tốt, trong trụ Tài khí quá mức. Thi thư uyên bác hiểu nhiều sự việc, danh tính đứng cao đầu bảng.

Ghi chú】Ấn giống như dấu ấn của triều đình, giống như một quan chức nắm giữ, nếu thấy Tài mà tham thì bị mất chức vậy.

Có Quan có Ấn, không có Tài phá là quan triều đình—— Có Quan có Ấn chính là tạp khí chỗ ẩn tàng Quan Ấn vậy. Quỷ Cốc Tử nói: trong Cương có Ất, trong Khôi có ẩn Tân, chỗ này là Tạp khí Ấn thụ Tài Quan vậy, chính là thiếu niên người không phát trong khố vậy. Ví như: Bính Dần, Tân Sửu, Giáp Thìn, Bính Dần, chỗ này là mệnh Diên Vương Tuấn, Giáp dụng Tân là Quan, Kỷ thổ là Tài, Quý thủy là Ấn, trong đề cương có Quý thủy dư khí, Tân kim mộ khố, Kỷ thổ thấy vượng, cho nên được phong tước địa vì cao vậy. Chỗ này cách kị là Tài thần hoại Ấn, Thực Thương hoại Quan thì không cát. Cổ ca giải thích: Ở trên có gặp Ấn, gặp Quan Sát là cát tường. Nhưng phân ra Quan Sát chớ quá mạnh, thì phú quý danh đăng kim bảng. Tối kị Tài tinh phá Ấn, lại sợ Thương Thực phá Quan. Vận hành gặp đúng Thực quá mạnh, thì phá gia tổn hại hủy hoại.

Không có Quan không có Ấn, là triều đình có cách mà sử dụng —— Chính khí, tạp khí, dựa vào Tài Quan Ấn thụ là quý cách, là mệnh phú quý. Nếu lúc thành cách, cần hoàn toàn không có một điểm Tài Quan, mới là mệnh phú quý vậy. Ví như Kỷ Mùi, Nhâm Thân, Mậu Tý, Canh Thân, chỗ này chính là mệnh Tạ Tả Thừa tướng, mệnh này chuyên cách Thực hợp Lộc, nếu trong tứ trụ hoàn toàn không có một điểm Tài Quan Ấn thụ, lấy Mậu dụng Ất Quan, Quý là Tài, Đinh là Ấn, trong tứ trụ hoàn toàn không có vậy. Lấy Mậu Thực Canh Thân, Mậu lộc ở Tị, cùng với Thân là lục hợp, gọi là Tiền Cách.Cổ ca giải thích: trong mệnh không có Quan không có Ấn, trước mắt là xem có thành cách. Ví dụ như Nhâm Kỵ Bối cùng Phi Diêu Tị Triều Dương, vú dụ như xung Thực Thương tạp khí. Khôi Cương Nhật lộc cư thời, kim thần Thử quý Tỉnh Lan, lại không có phá, hóa sinh thành quý.

Ghi chú 】Chỗ này là không có Quan Ấn, đều lấy ngoại cách mà suy đoán, nếu thấy Quan tất phá cục vậy.

Danh tiêu kim bảng, phải cần thân vượng gặp Quan; được phò tá thánh quân, quý ở xung Quan phùng hợp —— Thân vượng gặp chính khí Quan tinh, lại hành vận vượng, chắc chắn đăng khoa cập đệ. Nếu trong tứ trụ là Phi Thiên Lộc Mã, xung Quan hợp Lộc, chính là nhân thần cực quý vậy. Xung Quan chỉ có 4 ngày: Canh Tý, Nhâm Tý, Tân Hợi, Quý Hợi, là sợ xung. Cổ ca giải thích: Nhật chủ cao cường xem lý lẽ, lúc đó Quan phải có khí. Nếu gặp Tài Ấn trợ giúp căn cơ, không có phá thì văn trường đắc ý. Chớ nên gặp Thương Thực Kiếp Tài, Tài Quan vượng khí quyền uy. Đứng đầu bảng vàng ở triều đình, mang áo quan đội mũ thắt lưng vàng. Vận Ngữ viết: Hợi xung ngôi Tị, tàng ẩn Bính là Quan lộc. Thì Bính Đinh sẽ gặp tai ương, trái lại Bính liên quan làm vướng chân Thìn. Quý Hợi Tị tàng ẩn Bính Tuất, là vị trí Quan Lộc hiên ngang. Không gặp Dần Mậu Kỷ là đất vùng nông thôn, định là quan mang áo tím.

Ghi chú 】 Phá tổn Thương thần, nói là không có cách cục, thân nhược chỗ Quan, không thể kham nỗi vậy.

Bên trong mệnh kẻ Tiểu nhân, cũng có chính khí Quan tinh—— Ấn thụ, sợ gặp Tài khí phá hại Ấn. Quan Tinh, sợ thấy Thương quan chắc chắn là bại. Nếu trong tứ trụ dù có Tài Quan Ấn thụ, gặp Thương hại, không thành chính danh, lại thành hung ác, sao không thành kẻ tiểu nhân ư!

Ghi chú】Nếu Chính Ấn Quan tinh bị ác sát đoạt ngôi tú khí.

Trong cách Quân tử, cũng phạm Thất Sát Dương Nhận —— Thất Sát có chế hóa thành Quan, Dương Nhận không có xung rất là quý. Thiên Quan phát ở Bạch ốc, Dương Nhận phát ở biên cương, là tướng sói, sao cũng không phải là quân tử chăng! Nhận và Sát chủ quyền giết và trừng phạt. Cổ ca giải thích: Tiểu nhân có chính Quan trong Chính Ấn, thương khắc hình xung, ác nhiều thiện ít trái lại thành sát. Thiện nhiều ác ít gặp nhau, Sát tinh hỷ Nhận, chế Sát thân cường dụng quý.

Ghi chú 】 Sát tinh có chế, hai tướng đều hiển đạt.

Là người hiếu sát, Dương Nhận tất phạm ở Thiên Quan —— Dương Nhận, ở trên trời gọi là Tử Ám tinh, chuyên hành giết trừng phạt, ở dưới đất gọi là Dương Nhận Sát. Thiên Quan, là quỷ ám Thất Sát. Dương Nhận lại phạm Thất Sát, chủ gặp nhiều hung. Nếu gặp quý nhân thì cát, thì không có đại ác. Cổ ca giải thích: Dương Nhận nếu gặp Thất Sát, chủ tâm tính độc ác hại dân, bỗng nhiên phú quý, đương nhiên là không lâu dài, khí tượng thanh cao. Ngày Giáp thấy Canh là Sát, phân rõ đến Mão là Nhận. Nếu gặp Ấn tốt thích cầu danh, nối liền Sát cũng xem Nhận.

Ghi chú 】Thất Sát Dương Nhận, có Ấn chắc chắn chủ quyền quý; có ác sát thích chinh phạt, thì tất phải sa vào con đường đạo tặc.

Từ tâm ăn chay, Ấn thụ liền gặp ở Thiên Đức —— như trong mệnh có gốc phạm hung thần ác sát, nếu gặp Thiên Nguyệt nhị Đức thần cứu giúp, thì không gặp hung vậy. Ấn thụ vốn là thần từ thiện, lại gặp Thiên Nguyệt Đức tương trợ, chủ người có tâm từ bi mà thích ăn chay vậy. Thiên đức Nguyệt đức, có thể giải ác mới thiện. Cổ ca giải thích: Đại để Ấn vượng trùng trùng, Thiên Nguyệt Đức mà trợ cát. Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín thường tồn, tâm thiện giúp người lợi vật. Phú quý siêu quần, phát đạt tâm từ, bái đạo lễ phật, có chung có thủy. Suy nghĩ nhiều việc, Tài vượng là người phản phúc.

Cả đời ít bệnh, nhật chủ cao cường—— Nhật chủ tự vượng gọi là vượng sát. Chính là bản chủ đắc địa, tự là đất vượng, là người ít bệnh xâm nhiễm, về già bộ răng chắc biến màu đen, thân thể mạnh mẽ cường tráng. Thiên nguyên gặp vượng, thuận thân ít hại, vui vẻ ít lo, mệnh yên vui vậy.

Ghi chú】 Nhật chủ cao cường, chính là ngũ hành ở đất lâm quan, đế vượng.

Cả đời an nhiên, Tài mệnh hữu khí—— Chỗ này là luận Tài, là Thê tài, là Mã vậy. Tài vượng có khí đến trợ giúp, bản thân thừa vượng, tất hưởng tài mà dùng, là được an nhiên vui vẽ vậy. Như Giáp sinh đất Thìn Tuất Sửu Mùi, đều là Tài có khí. Cổ ca giải thích: Dần Mão chuyên sợ đất khắc chiến, tuổi thọ đoán ít tai ương, phúc phát giống như mặt biển. Giáp sinh Thìn Tuất Sửu Mùi, Tài mệnh an nhiên vinh xương. Tài Quan Ấn thụ vượng là tốt, tâm địa khoan hồng mới có thể tốt đẹp.

Ghi chú】Chỗ này nói ngũ hành gặp đất Tài vượng, không có Kiếp thì cũng lấy chỗ này mà luận.

Quan hình không phạm, Ấn thụ Thiên đức cùng Quan —— chỗ này ngũ hành được thiên thời, gọi là Thời vượng. Nếu Ấn thụ phù thân, lại mang Thiên Nguyệt nhị đức, luận cả đời không phạm Quan hình.

Ghi chú 】 Luận Ấn và Thiên Nguyệt Đức đồng cung, chủ người nhân từ gặp hung hóa cát.

Ít vui nhiều buồn, vì do nhật chủ tự nhược —— Chỗ này nói nhật chủ vô khí, rơi vào đất suy, thiên nguyên lại mất khí, đặc biệt là đất quỷ bại vậy. Đa số chủ làm nô tỳ, cô quả lâm ở ngũ mộ, cả đời lo lắng phiền muộn, mệnh không tốt vậy.Cổ ca giải thích: Ấn thụ hỷ gặp Thiên Đức, cả đời phúc lộc hương thanh. Ngày Ất tháng Dậu Sát kiên cường, lại sợ Tị Sửu kim vượng. Nếu còn không chế mộng nhà vàng, lao khổ ưu sầu khó miễn. Nhưng nếu nhật chủ suy nhược, quyết đoán mệnh không tốt.

Ghi chú 】Chỗ này người xa rời tổ tông làm con nuôi, dựa vào nhà người khác vậy.

Thân cường Sát nhược, Giả Sát vi quyền —— Ví dụ như ngày Bính Tuất thấy giờ là Nhâm Thìn vận, sinh ở tháng 4, 5 cũng đoán giống như vậy. 《 Bích Ngọc ca》nói: “Hóa Sát vi quyền là sao vậy? Giáp sinh đất Dần Mão, lại gặp Hợi Mão Mùi thành mộc cục, sao lại sợ Canh kim kết bè đảng. Ất sinh tháng Tị Dậu Sửu, hỷ gặp mộc cục tương đương, nếu gặp Hợi Mão Mùi thì sinh tai ương, xử thế gian nan bần hàn.”

【Ghi chú 】Chữ Giả ở đây nghĩa là mượn vậy, là do thân vượng không có Sát chắc chắn là không có quan vậy, mượn Sát lấy uy mà thân vượng vậy.

Sát trọng thân khinh, cuối cùng tổn thất —— Như Mậu Dần, Nhâm Tuất, Nhâm Tuất, Kỷ Dậu là vậy. Trụ tháng và giờ ám có Mậu thổ là Thất Sát, cho nên hại thân vậy. Cổ ca giải thích: Âm không sinh 3 Ất Dậu, gặp giờ Tân Tị ít có tốt. Thân khinh Sát trọng rất khó mà đương đầu, vừa bệnh tật dù giàu sang cũng chết sớm. Giống như cây cỏ mềm yếu lại gặp sương giá, giống như sợi bông bị tung bay trước gió vậy.

Ghi chú】Cách này giống như cây cỏ suy nhược gặp sương giá, lại hành Sát vận, thì chết yểu là không nghi ngờ.

Suy thì biến Quan thành Quỷ, vượng thì hóa Quỷ thành Quan —— Nếu nhật chủ suy nhược, dù có Quan tinh, không đảm nhận nỗi, thì biến Quan thành Quỷ vậy. Nếu nhật chủ vượng thịnh, dẫu có Thất Sát, thì Sát tự hàng phục, nên hóa Quỷ thành Quan, là chủ mệnh đại phú đại quý vậy. Cổ ca giải thích: Nhật chủ sinh đến suy nhược, Quan nhiều hóa Quỷ tai ương. Hoặc gặp chủ vượng Sát giáng đến, biến Quỷ thành Quan. Quan nhiều tất khó nhện lĩnh, Sát trọng không chế thì yểu vong. Thân suy thân vượng nên cẩn thận suy nghĩ, chỉ hỷ hóa Sát là trên hết.

Ghi chú】 Quan cùng Quỷ là một vậy, thân vượng lấy Quan luận, thân nhược lấy Quỷ luận.

Tháng sinh nhật can, vận hành không hỷ Tài hương —— Tháng sinh nhật can tức là Ấn thụ vậy, Ấn chính là mẹ vậy, cho nên nói kị Tài phá. Vận hành nhập đất Tài gọi là Tham Tài hoại Ấn. Ví dụ như là Quan nắm Ấn, tham Tài thì không tốt với nhân dân.Cổ ca giải thích: Tháng sinh nhật can gọi là Ấn, không nên đến Tài vận phá thương. Giáp sinh Hợi Tý Ấn không xung, Tị Ngọ Thìn Tuất Sửu Mùi tổn hại nhật chủ.

Ghi chú 】Mộc dụng thủy là Ấn, thấy thổ là Tài.

Nhật chủ không có chỗ dựa (vô y), lại hỷ vận hành Tài địa —— Giáp Ất sinh vào tháng mùa Xuân, trong trụ nếu không có Tài Quan, gọi là Vô y (không có chỗ nương tựa), nếu vận hành Thìn Tuất Sửu Mùi, lấy thổ là Tài, mới có thể phát phúc. Còn lại theo chỗ này mà suy, như nghịch vận không thể nói phúc. Sinh vượng thái quá, nếu không có cách cục gặp Ấn, sao biết thân vượng lại vô y, vận hỷ đất Tài, đa số là vô phúc.

Ghi chú】 Tài là dưỡng mệnh, Quan là phù thân, thân nhược không đảm nhận được, sao đem mà thi hành chứ?

Nhật lộc quy Thời, cả đời không hỷ Quan tinh —— trong mệnh gặp Nhật Lộc cư thời rất sợ Quan tinh, cho nên phá lộc mạnh mẽ thì trái lại là thành bần tiện vậy, nếu thấy Quan tinh thì mất lộc vậy. Cổ ca giải thích: Nhật lộc cư thời rất tốt, năm tháng sợ có Sát Quan tinh mạnh mẽ, vì Quan chế Lộc, Lộc khó trở về, nhưng thấy Quan tinh cách, xét kĩ nguyệt lệnh, vận hỷ đất Tài, quan chức không hiển danh cao. Trong thiên can thấy Quan tinh, vận hỷ Thực Thương thành phúc.

Ghi chú】 Giáp được giờ Dần là lộc, trong tứ trụ không nên thấy Tân Quan.

Âm nhược triều Dương, mà kị Bính Đinh ngôi cung Ly —— Chỗ này nói ngày Lục Tân thấy giờ Mậu Tý vậy. Trụ năm tháng nếu thấy hai chữ Bính Đinh, chính là Nam phương hỏa hại Tân kim, cho nên không lấy được Triều Dương đúng thành cách cục. Nếu không thấy Bính Đinh, đều chủ mệnh đại phú quý, địa vị quan chức tới hàng nhất phẩm. Chỗ này 《Hỷ Kị thiên》nói: ” Ngày Lục Tân gặp giờ Mậu Tý, sợ ngôi Ngọ , vận hỷ Tây phương. Kị thấy chữ Bính, lộ xuất Quan tinh.” Thấy chữ Đinh, là Thất Sát khắc Tân. Chỗ này nói không hư cậy. Cổ ca giải thích: Lục Tân gặp giờ Mậu Tý, danh viết Âm khử Triều Dương. Vận hành phương Tây tính danh nổi, nhất cử lấy đăng kim bảng. Vẫn kị Bính Đinh cung Ly, sợ nhất là Quan Sát hại. Trụ năm và giờ sợ nhất sao này ẩn tàng, là chỉ người mua bán.

Ghi chú】Tý là dương, Tân là âm, cho nên là Ấm triều, chỉ kị Quan tinh, Bính đến hợp, thì không được triều dương, chỉ làm người mua bán lớn vậy.

Thái Tuế là chủ nhiều Sát, nhập mệnh vị tất là họa, nếu gặp đất hình chiến, tất chủ hình ở bản mệnh —— Thái Tuế chính là chỗ Vua chủ quản một năm, chủ vua quản lý nhiều Sát vậy, không có thể liền lấy hung mà suy. Nếu trong mệnh có nhiều Sát Dương Nhận hoặc nhật chủ hình khắc Tuế Quân, chính là bề tôi mà xúc phạm vua, tất dẫn đến họa chiến đấu. Cổ ca giải thích: Tuế chính là tượng quân vương, không có thể liền nói là hung. Lúc gặp Dương Nhận khắc lưu niên, không chết thì họa hình cũng không nhỏ. Xung phá Tuế Quân là họa, ứng giống như bề tôi mà xúc phạm đến vua. Như Phu tử gặp họ Trần ở đất Thái, giống như Lục Quốc chiếm nhà Tần.

Ghi chú】 Thái Tuế hội cát tinh là cát, gặp ác sát là hung.

Tuế tổn thương nhật can, họa có tất nhẹ; ngày phạm Tuế quân, tai ương tất nặng —— Nếu Thái tuế khắc nhật can, gọi là cha giận con, tình nghĩa có thể tha thứ. Ngày khắc Tuế quân, giống như con giận cha, tội không thể bỏ qua vậy. Ví dụ như Thái tuế là Canh Tân, nhật can là Giáp Ất thì họa nhẹ. Nhật can là Canh Tân, Thái Tuế là Giáp Ất, không có cứu thì họa nặng. Cổ ca giải thích: Tuế tổn thương ngày như cha giận con, họa thì nhẹ mà có thể tha thứ. Ngày phạm Tuế giống như con giận cha, dưới phạm trên thì khó mà độ lượng. Nhật can ví như bề tôi, Thái tuế ví như vua cha. Hung vận họa nặng tốt bày họa, trụ hung lưu niên là cố định.

Ghi chú】Lấy trên phạm dưới là nhẹ, lấy dưới phạm trên là nặng, giống như vua tôi, cha con, không hòa nhau vậy. Tuế tổn thương nhật can là nhẹ, ngày phạm Tuế Quân là nặng.

Ngũ hành có cứu, năm đó trái lại chắc chắn thành tài; tứ trụ vô tình, cho nên luận danh là khắc Tuế —— Chỗ này nói ngày phạm Tuế Quân. Nếu lúc này có giải cứu, họa giảm một nửa, năm này trái lại làm ta tiền tài. Nếu không có Thực thần cứu, liền gặp không tốt, chủ hại Tuế Quân, vẫn tổn thương nhật chủ. Như ngày Giáp khắc Tuế Mậu, nếu được gặp chữ Kỷ, chính là vợ chồng có tình muốn hợp. Ngày Ất khắc Kỷ, can đầu Tuế Quân có chữ Canh, cũng là vợ chồng có tình muốn hợp, nếu không có phối hợp khắc chế, thì là vô tình, tai họa khó miễn. Cổ ca giải thích: Ngày Giáp chủ đến gặp Mậu, gọi là Ngày phạm Tuế quân. Trụ Canh Tân chế thì phúc không phải ít, vận và trụ nếu không có xin ý kiến. Canh Tân nhật chủ can Giáp, Tuế hại nhật can bớt bệnh. Thực thần Ấn thụ chế thanh bình, không chế thì họa cùng với nhục hình.

Ghi chú 】Trong tứ trụ có Tài chính là luận trước họa sau phúc, không có Tài định lấy hung họa mà đoán.

Canh Tân đến hại Giáp Ất, Bính Đinh thấy trước là không có nguy hiểm—— Như Canh Tân kim khắc Giáp Ất mộc, trong trụ nếu có Bính Đinh Tị Ngọ hỏa, thì có cứu vậy; còn lại theo đó mà suy. Bính Đinh phản khắc Canh Tân, gặp Nhâm Quý không lo. Mậu Kỷ sợ gặp Giáp Ất, can đầu nên dụng Canh Tân. Nhâm Quý lo gặp Mậu Kỷ, Giáp Ất đến thì có cứu. Nhâm đến khắc Bính, cần dụng Mậu khử lên đầu. Quý khử thương Đinh, lại hỷ có Kỷ đến chế.

Ghi chú】Nói Bính Đinh hỏa khắc Canh Tân kim, kim bị chế không thể tổn thương mộc.

Canh được Nhâm, nam chế Bính hỏa, quanh năm lấy yểu; Giáp lấy Ất muội gả cho Canh, là dấu hiệu hung thành cát —— Canh kim rất sợ Bính hỏa, có Nhâm thủy chế phục trái lại là cát. Giáp mộc kị thấy Canh kim, được Ất muội phối làm vợ Canh, thì lấy Giáp là anh vợ, lấy biến hung hóa cát vậy. Cổ ca giải thích: Canh đượcc Nhâm nam chế Bính, tử đến cứu mẫu không bệnh. Giáp được Ất muội phối Canh, thân nhận hung mà cát khánh. Cho nên viết có tâm biến thành tốt, quả nhiên vô ý hại người. Tham vui hợp Sát vong hình, phúc vượng danh dương tài vượng.

Ghi chú】 Nhâm là con của Canh, Bính khắc Canh thì con cứu mẹ, Giáp lấy Ất muội làm vợ Canh thì lý cũng như vậy.

Thiên Nguyên tuy vượng, nếu không có chỗ dựa thì làm thường nhân; nhật chủ nhu nhược, dẫu có gặp Tài Quan cũng là hàn sĩ——《 Bích Ngọc ca 》 viết: “Thiên Nguyên nhật chủ thái vượng, trụ năm tháng giờ có Ấn Tài Quan, là Tam Tài không hiện, chủ người bần hàn, tăng đạo, cô hình. Nhật nhu nhược hoàn toàn không có sinh vượng, Tài Quan nhiều trái lại sinh họa, nên chớ quá gian khổ học tập bên cửa sổ, nên lấy phòng thủ kẻo mất mặt.”

Nữ nhân không có Sát mang Nhị Đức, phong làm hai chức lớn —— Phàm mệnh phụ nữ, không nên thấy Thiên Quan. Nếu có đủ Thiên Nguyệt nhị Đức, tất chủ có phong tước vậy. Trong mệnh có Thiên Nguyệt nhị Đức, chủ người nhân từ ôn hòa, trấn áp nhiều Sát, không dám xâm phạm vậy. Cổ ca giải thích: Nữ lấy Quan làm chồng, không nên có Thất Sát tranh công. Không có Quan, Thất Sát là Phu cung, không thích Quan tinh hỗn tạp. Mang đủ Tài Quan Ấn thụ, chồng danh môn vinh quý. Nếu gặp hai Thiên Nguyệt Đức, được Hoàng gia thăng chức tặng bổng lộc.

Ghi chú】Nữ nhân có chỗ này, sinh ở gia đình danh môn quý tộc, được Hoàng gia ban thưởng chức quyền bổng lộc.

Nam mệnh thân cường gặp Tam Kỳ, là địa vị nhất phẩm —— Quyết viết: “Nhật chủ cao cường phú quý, đều đủ Tài Quan Ấn thụ, Giáp gặp Tân Kỷ là lộc quý, có thể thấy Ất Mậu Canh Nhâm. Ngày Bính vị trí Quý Tân Ất, Đinh Nhâm Canh Giáp cao thiên, Mậu hỷ Quý Ất Đinh này, Kỷ Nhâm Giáp Bính là Tam Kỳ. Canh Tân Nhâm Quý ví dụ dựa vào trước, không có phá danh đăng kim điện.”

Ghi chú】 Tam Kỳ, chuyên lấy ba vị Tài Quan Ấn là Tam kỳ, nếu không có hình xung phá, là người cực quý.

Giáp gặp Kỷ mà sinh vượng, tâm định hoài trung chính —— Quyết viết: “Giáp gặp Kỷ thổ hợp sinh vượng, định có thể là phú quý vinh hoa, là người có tấm lòng trung chính, nên gặp quý nhân cần kính trọng.” Giáp thuộc Đông phương khí sinh vượng, chủ lòng nhân từ. Thổ thuộc trung ương khí hậu trọng, chủ ở chữ Tín. Giáp Kỷ hóa thổ, mà trong tứ trụ lại mang sinh vượng, là thế hệ người trung hậu, chính trực.

Ghi chú】Chỗ này nói Giáp và Kỷ hợp hóa thổ, chủ người có lòng nhân từ giữ tín vậy, là người không thất tín, hành vi chân thành, quân tử vậy.

Đinh gặp Nhâm mà thái quá, tất phạm loạn dâm ngoa —— Quyết viết: “Đinh gặp Nhâm mà nhiều thái quá, âm độc dương thịnh chủ dâm ngoa, nam nhân tửu sắc nên chết yểu, nữ chủ nhiều tính tư thông nội loạn.” Đinh cùng Nhâm hợp, nếu ngày Đinh thấy Nhâm thủy chế thái quá, chủ dâm loạn.Cổ ca giải thích: Ngày Kỷ sinh Lục Giáp, tâm giữ nhân nghĩa trung lương. Giáp Kỷ ỡ ngày giờ là Tài Quan hóa vượng, nhà thịnh phúc thịnh. Ngày Đinh gặp Nhâm thái quá, hóa Quan thành Quỷ là họa. Trong trụ 2,3 là xướng dâm ( gái điếm), chồng nhiều theo cửa đàn hát.

Ghi chú】Đinh Nhâm được hợp gặp Canh Tân, nữ chủ quá dâm không phải là phụ nữ tốt vậy, chủ trăng hoa đàn hát, cách này nên hành thổ vận mới được phúc.

Bính đến ngôi Thân gặp dương thủy, khó mà sống thọ —— Quyết viết: “Bính đến ngôi Thân lửa sáng rực, mệnh gặp dương thủy không lâu dài. Nếu được thổ đến cứu trợ nhau, lại tăng phúc thọ hưởng dài lâu.” Như nhật chủ, Bính Thân, hành vận Nhâm Thân, Nhâm Thìn, Nhâm Tý chủ yểu tử. Cổ ca giải thích: Ngày Bính vị trí Thân sinh địa, Thân là trường sinh, thủy chảy lưu thông. Trong Nhâm Thân, Nhâm Tý cùng Thìn, là Thất Sát cương cường mà họa nặng. Nhâm Ngọ, Nhâm Dần, Nhâm Tuất, họa nhẹ mà vô dụng. Sát nhiều thân nhược định thành hung, khảo cứu lý lẽ tường tận cẩn thận.

Ghi chú】Cách này hành thổ vận là tốt.

Kỷ nhập Hợi cung thấy âm mộc, cuối cùng là tổn thọ —— Nhật chủ Kỷ Hợi, hành Ất mộc cùng vận Hợi Mão Mùi, chủ yểu thọ. Quyết viết: “Kỷ là cường thổ thấy song ngư, âm mộc lâm đến tất ít thọ, tứ trụ nếu không có kim cứu, Phong Đô Nhạc Lĩnh thọ nguyên hư.” Cách này cần gặp phương kim mới nhận phúc. Cổ ca giải thích: Người có ngày sinh là Kỷ Hợi, họa gặp Ất mộc tranh giành. Phải biết mộc trường sinh ở Hợi, không chế thì yểu vong gian khổ. Ất Tị, Ất Sửu, Ất Dậu, gặp Sát lấy nghĩa dấu ân. Ất Mùi, Ất Hợi Mão dày đặc, không chết không nghèo thì cũng chết yểu.

Ghi chú】Cách này nên gặp kim vận là tốt.

Canh gặp Dần mà gặp Bính, chủ vượng không có nguy —— Nhật chủ Canh Dần mà gặp trong trụ có Bính hỏa, nếu Canh kim nhiều cũng không ngại, gọi là nhiều thì sinh ra Cấn thổ, thổ lại sinh kim, cho nên không có nguy vậy. Quyết viết: “Canh gặp ngôi Dần lộc nắm quyền, Bính hỏa trùng gặp thọ không dài. Thân vượng quỷ suy do có chế, ứng là Quỷ Sát hóa thành quyền.” Cổ ca giải thích: Ví như nhật chủ Canh Dần, sinh ở Bính hỏa là Sát mạnh. Trong Dần ở Cấn thổ trái lại thành tốt, lấy ở trên là Sát hóa thành quyền. Ngày Canh sinh giờ Thân là Quy Lộc, trong đó vượng khí cao cường. Trái lại đem Bính hỏa hóa thành Quan, thấy cơ lâm nguy là không có. 【Lời phê】 Canh kim tuyệt ở Dần, trong Dần lại có Mậu thổ sinh trợ kim, Bính dù có vượng cũng không lo vậy.

Ất gặp Tị mà thấy Tân, thân suy có họa—— Nhật chủ Ất Tị, trong trụ có nhiều Tân kim, chính là Ất mộc suy mà Sát vượng, cho nên có họa vậy. Quyết viết: “Ất gặp song nữ mộc suy tàn, nếu thấy Tân kim thọ tất khó, nếu được Bính Đinh đến cứu trợ, thì sẽ an lạc mộc thành vui.”

Lời phê 】 Ất mộc sinh ở Ngọ mà bại ở Tị, mộc vốn nhược vậy, sao kham nỗi gặp Tân Sát phá hại. không thể nói là tốt, mà chỉ có nói họa vậy.

Ất gặp Canh vượng, thường giữ phong cách nhân nghĩa —— Quyết viết: “Tác phong nhân nghĩa, như ngày Ất thấy tháng Thân.” Cách này là người có nhân có nghĩa vậy. Quyết viết: “Ất gặp Canh vượng là Quan tinh, gặp chỗ này nắm quyền Tể tướng, nếu gặp ngũ hành không bị xung phá, thường giữ nhân nghĩa trấn biên cương.” Cổ ca giải thích: Ất mộc sinh đến ngôi Tị, thân suy có họa ít cát tường. Bính Tân Canh Ất phối Loan Hoàng (chim Loan, chim Phượng), xử thế không không bằng phúc thọ. Âm mộc gặp đất Canh, xuân phong tứ hải danh dương. Trên cùng dưới xử thế hòa thuận Tam Cương (đạo quân thần, phụ tử, phu thê), thế cao ít bệnh.

Lời phê 】 Ất chủ Nhân, Canh chủ Nghĩa. Cho nên viết tác phong nhân nghĩa, cách này sợ hình thương khắc phá, chủ bất nghĩa.

Bính hợp Tân sinh, trấn giữ chức vụ uy quyền —— Ngày Bính thấy tháng Tân Dậu, ngày Tân thấy tháng Tị, cách cục này, chủ mệnh nắm giữ quyền bính vậy. Quyết viết: “Bính hợp Tân sinh không là tiện, trào dâng danh lợi đúng ao ước, nếu không lầu vàng hiển công khanh, nắm giữ binh quyền khó có biến.” Cách này lại gặp hình thương khắc phá, trái lại là không tốt, không thể lấy quý suy. Cổ ca giải thích: Bính hợp Tân sinh mùa Hạ, năm thấy giờ thấy Tân nhiều. Phép Rồng kế Báo chí ở đâu, lại sợ hình thương khắc phá. Ngày Tân thấy Bính được hợp, gặp sinh gặp lộc là trung hòa. Vận hành Quan vượng phúc cao dày, danh dương tứ hải uy chấn.

Lời phê】Cách này lại gặp hình xung khắc hại trái lại là không tốt, không thể liền lấy quý suy.

Một mộc trùng gặp ngôi hỏa, danh gọi là chữ Khí Tán—— Ngày sinh Giáp Ất, thấy trùng hỏa Bính Đinh, thì tiết khí vậy. Thi viết: “Mộc có thể sinh hỏa vốn là vinh xương, mộc hỏa thông minh giúp miếu lang. Một mộc trùng gặp ngôi Ly hỏa, cuối cùng tiết khí rơi văn chương.” Cổ ca giải thích: Một mộc gặp nhiều ngôi hỏa, sinh mùa Hạ trùng gặp Bính Đinh. Hỏa có thể hóa mộc khí, sao biết vô công, việc làm không thành nói là bần. Chi hỷ Dần Ngọ Tuất Tị, Mậu Kỷ Tài thông. Hỏa mộc hóa không hung, phúc lộc cao dày.

Lời phê】Cục cuối cùng là nghèo hèn. Không thể liền lấy quý suy.

Độc thủy phạm nhiều Canh Tân, hiệu viết Tương thể toàn —— Ngày sinh Nhâm, trùng thấy Canh Thân Tân Dậu, thì Ấn thụ sinh thân, chủ phú quý vậy. Thi viết: “Độc thủy phạm trùng nhiều Canh Tân, kim có thể sinh thủy, thủy cùng trở về; năm sinh cốt cách thiên niên tú, danh lợi song toàn phúc lộc phong.” Chủ đại phú quý. Cổ ca giải thích: Nhâm Quý gặp hai Canh Tân, hỷ sinh năm ngày giờ đúng. Quý sinh hai Tân lại gặp Canh, trong năm ngày giờ cũng dụng. Chớ không nói nhiều đường Ấn, một Thiên một Chính không hung. Cho nên ghi hiệu viết Thể Toàn công, ăn bổng lộc ngũ bá chư hầu.

Lời phê 】Chỗ này nói Mẫu nhiều Tử nhiều thì thành Tượng Thể toàn.

Thủy quy Đông vượng, cả đời vui vẽ vô lo —— Giáp Ất sinh vào ba tháng mùa Xuân, Bính Đinh sinh vào ba tháng mùa Hạ, Canh Tân sinh vào ba tháng mùa Thu, Nhâm Quý sinh vào ba tháng mùa Đông, Mậu Kỷ sinh vào các tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, đều là trong tiết khí, chủ thọ cao, cả đời ít bệnh không lo sầu. Cổ ca giải thích: Nhâm Quý liền hai Canh Tân, hỷ sinh trong năm ngày giờ. Tháng đến Thương Kiếp vận hành Nam phương, tối hỷ Thực Tài Quan Ấn.

Lời phê 】 Quý Hợi, Giáp Tý, Quý Hợi, Nhâm Tý, mệnh của Bành Tổ.

Mộc hướng sinh Xuân, xử thế an nhiên tất thọ—— Ngày Giáp sinh ở tháng mùa Xuân, trụ gặp hai Dần Mão là nặng, ôn lương tính cách định từ tâm, thanh sử triều đình vẫn sử dụng. Tài Thực Ấn Quan vượng xứ, thái vượng thì trái lại là yểu là cùng. Thuật gia tinh cứu như bình thường, nói mệnh mới có hữu dụng.

Lời phê 】Chỗ này nói hành vận Đông phương có thể luận thọ.

Kim nhược gặp đất hỏa viêm, huyết tật là không nghi ngờ —— Kim chủ phế, phế là phổi, tâm Hoa Cái, kim nhược bị hỏa đến xung, tất chủ người vì tửu sắc thành bệnh tật, phế tâm bị thương, bệnh lao mà nô ra máu vậy. Cổ ca giải thích: Ngày Canh sinh ở đất hỏa, trụ gặp trùng điệp Bính Đinh. Nếu còn thông đủ Dần Ngọ Tuất, không bệnh cũng đề phòng có tật nặng. Nam chủ bệnh lao, nữ bệnh sản huyết. Trong năm và giờ nếu không có chế phục, thì chắc chắn là vào quan tài xây mồ.

Lời phê】 Kim sinh đất hỏa, trùng điệp Bính Đinh, nam chủ bệnh lao, nữ chủ huyết băng.

Thổ hư gặp đất mộc vượng, định là bệnh ở tỳ vị—— Thổ chủ tỳ vị, nếu bị mộc đến khắc chế, tất bị chứng bệnh tỳ bụng hàn lạnh. Cổ ca giải thích: Năm tháng Giáp Tý, ngày Đinh Mão, Kỷ Sửu giờ Ất Hợi. Năm tháng giờ quanh quẩn lộ ra mộc, Sát trọng tỳ hàn tật hại. Vận hành đất Khảm là chết yểu, Tuế gặp đất mộc định tai họa. Tây Nam phương có thể phát tiền tài, đời sau có tuấn sĩ thay mặt thành tài.

Gân cốt đau nhức, là do mộc bị kim thương ——Quyết viết: Giáp mộc thân suy không vượng, tháng vận có Tân Dậu Canh Thân, lại găp Tuế Tị Dậu Sửu đến, hại mắt phong điên tà chứng. Ngày Ất thân suy luận giống nhau, chữ Tị Dậu Sửu tương hình, chưa gặp đất này thì tứ chi yên ổn, cho dù chân không hợp bản thân cũng đau khổ.

Lời phê】 Nhật chủ là mộc bị kim thương, thì gân cốt có bệnh đau nhức.

Mắt đen tối tăm, chắc chắn là hỏa gặp thủy khắc—— Gan thuộc mộc, Tim thuộc hỏa, Thận thuộc thủy, thủy khắc hỏa, không có đạo tương sinh, cho nên mắt có bệnh mờ tối vậy.

Lời phê】Mắt chính là kim mộc thủy hỏa thổ đều có, cho nên vâng chịu tinh hoa của ngũ hành, thiếu một thì khó sáng tỏ.

Dưới gốc bị hàn lạnh, chắc chắn là thủy gặp hỏa làm tổn thương —— Thận chủ phương bắc thủy, Tim thuộc phương Nam hỏa, Thận thủy thăng lên, Tim hỏa giáng xuống gọi là Ký Tế. Nếu trên dưới không giao nhau, thì có chứng bệnh lãnh tật vậy.

Lời phê 】Bính Đinh sinh ở đất Khảm, cũng là thân nhược sinh tai họa.

Kim phùng Cấn mà gặp thổ, hiệu viết là Hoàn Hồn —— Canh Tân kim thụ khí ở Dần Mão, được thổ sinh kim, cho nên viết là Hoàn Hồn. Cổ ca giải thích: Thiên can ngày Mậu nếu gặp nhau, bắt thang trèo lên cây Quế mà lên cao. Trùng thấy Bính Đinh tương khắc, tất phải yểu thọ bần hàn. Không thấy Bính Đinh gặp Mậu Kỷ, quản giáo gia đình giàu có nghìn kho.

Lời phê 】 Cấn thuộc thổ ở Đông phương vị trí Dần, kim dựa vào khí Cấn cho nên có tượng Hoàn Hồn.

Thủy vì Tốn mà thấy kim, danh gọi là Bất Tuyệt —— Nhâm thủy thụ khí ở Tị, thủy được kim mà có thể sinh thủy, cho nên viết là Bất Tuyệt. Thủy tới hai Tị mà tuyệt, còn kim trường sinh ở Tị vậy. Cổ ca giải thích: Nhâm Quý sinh ở đất Tị, vốn là xem phú quý. Trụ sợ gặp Mậu Kỷ gây ra tai ương, hỷ gặp Canh kim là tốt nhất. Nhâm thủy thụ khí ở Tị, thủy được mẫu mà trường sinh. Mà có thể sinh thủy, chi nên viết là Thủy nhập.

Thổ đến vị trí Mão, trung niên chưa vội lấy làm nản chí; kim gặp đất hỏa, tuy thiếu nhiên mà đã bị đè ép chí khí—— Mậu thổ sinh đến Mão, ách ở đất mộc dục, dù là trung niên tiến thoái, ngũ hành gặp tử, tất ngăn cản chí khí vậy. Kim tới Ngọ đất bạo bại gặp mộc dục, nam tử tới chỗ này, tất áp chế chí khí. Cổ ca nói: Ngày Kỷ tháng gặp ngôi Mão, thân cường có quý nhân chế. Tài nhiều không có chế bản thân khinh, tật khổ trong lòng lại bất chính. Canh Tân hành vận Sát vượng, thiếu niên nản chí không thành. Vượng mà có chế thì mệnh phú quý.

Lời phê 】Cách này chủ mưu là trăm sự không thành, tính nóng này mà gây hại bản thân, vận vượng chế mới có thể luận phúc.

Kim mộc giao sai hình chiến, nhân nghĩa đều không có; thủy hỏa lần lượt hại lẫn nhau, có ngày thị phi —— Phú nói: “Bất nhân bất nghĩa, Canh Tân cùng Giáp Ất tranh khắc; hoặc thị hoặc phi, Nhâm Quý cùng Bính Đinh sợ gặp nhau” …. Cổ ca nói: Giáp Ất Canh Tân hai bên, Ất gặp trái phải Canh Tân. Canh Tân Thân Dậu vượng thần, tính tình có thủy có chung. Lại là Quan Sát hỗn tạp, gọi là kẻ vô nhân vô nghĩa. Tài hương phát phúc lại lao tâm, cuối cùng tài năng hữu thắng.

Lời phê 】 Nói trong trụ có Giáp Ất trùng thấy Canh Tân, cho nên là kẻ bất nhân bất nghĩa, thủy hỏa cũng như vậy.

Mộc theo thủy dưỡng, thủy thịnh mà mộc thì phiêu lưu —— Thủy sinh mộc nhược, dụng kim thổ là Quan, thái vượng thì Tài Quan mất vậy.Quyết viết: Giáp Tý sinh ở tử địa, nhưng gặp 1, 2 là thành, như năm Tân Hợi, tháng Canh Tý, ngày Giáp Thân, giờ Ất Sửu, năm gặp vận Đinh Dậu, Giáp mộc bị nê thủy thì tai họa khó tránh. Cổ ca giải thích: Giáp Ất sinh ở tử địa, nhưng gặp 1,2 là thành. Nhâm Quý Hợi Tý trùng điệp can chi, thì mộc phiêu lưu không có chỗ nương tựa. Năm Tân Hợi, tháng Canh Tý, Giáp Thân, Ất Sửu. Năm gặp vận Đinh Dậu theo thân, họa bị chìm thủy là không nghi ngờ.

Lời phê】 Tân Sửu, Canh Tý, Giáp Thân, Kỷ Sửu, là mệnh Phạm Đoan.

Kim dựa thổ sinh, thổ dày nặng mà chôn vùi kim—— Kim lấy mộc hỏa là Tài Quan, nếu thổ quá nhiều, thì kim gặp thổ chôn vùi mà không có ánh sáng vậy. Cổ ca giải thích: Ngày Canh Tân can chi thổ nhiều, Thìn Tuất Sửu Mùi đều đủ. Nếu gặp can chi hỏa thổ trùng điệp, thổ dày chôn kim thì không có khí. Dẫu có kim châu vạn hộc, khó mà phát huy tài năng.

Lời phê】 Như ngày Canh Tân sinh ở đất Sửu Mùi Thìn Tuất, lại hành thổ vận, thì gặp nhiều trở ngại, khó mà hiển đạt ý chí.

Là lấy ngũ hành không thể thiên khô, cần khí phải trung hòa. Chớ đoạn tuyệt mà quên suy nghĩ, xem mệnh không có sai lầm vậy—— Xem mệnh cần xét kĩ tiết khí nông sâu, vượng tướng hưu tù, khử lưu thư phối, thuận nghịch là lý hướng bối. Chỉ lấy trung hòa là quý mệnh, vượng tướng là phúc. Nếu hưu tù tử tuyệt, là phi cách phi cục, là hạ tiện vậy. Cổ ca giải thích: Xem mệnh trước xem nhật chủ, thứ xem chi năm tháng giờ. Bỏ hay giữ lại, cường nhược mà phối hợp từ từ, khinh trọng, nông sâu mà xem cho kĩ. Tiết khí vâng chịu trung hòa, vận nên xem thuận hay nghịch. Tam Tài, Thiên Chính, sinh khi nào, đều tàng ẩn ở trong tháng, nguyệt lệnh.

********************************************

Cách thức xem mệnh

Đề cương Ngũ hành, phàm xem mệnh bày ra bát tự, lấy nhật can là chủ. Lấy năm là căn gốc, là tài sản tổ thượng, biết thế hệ thịnh suy. Lấy tháng là mầm cây, là cha mẹ, thì biết thân có được che chở hay không. Nhật can là bản thân, chi ngày là cung thê thiếp, thì biết thê thiếp có hiền thục hay không. Giờ là hoa quả, là cung con cái, có thể biết chỗ quy về nối dõi. Phép phân ra khí tháng nông hay sâu, đắc lệnh hay không đắc lệnh. Năm và giờ lộ ra Tài Quan, cần phải có thân vượng. Như thân suy Tài vượng, nhiều nhưng trái lại là phá tài thương thê. Thân vượng Tài nhiều Tài cũng vượng, Tài nhiều xứng ý. Nếu không có Tài Quan, thứ xem Ấn thụ được thế cục nào, đoán cát hung, học giả không thể câu chấp, mà không biết biến thông vậy.

Lời phê】Bí pháp lấy can năm làm tổ phụ, chi năm là tổ mẫu, can tháng là cha, chi tháng là mẹ, kèm theo anh em, can ngày là bản thân, chi ngày là thê thiếp, can giờ là con trai, chi giờ là con gái, xem sinh vượng, hình khắc như thế nào, để định vinh khô được mất cát hung, gốc rễ mầm hoa quả giống như chỗ con người ra lập thân mà hành sự vậy.

Luận Chính Quan

Nói đến Chính Quan, như Giáp thấy Tân. Chính là âm thấy dương là Quan, dương thấy âm là Quan. Âm dương phối hợp thành đạo vậy.

Đại để nếu hành đến đất Quan vượng, là nguyệt lệnh vậy. Nguyệt lệnh chính là đề cương vậy. Xem mệnh trước tiên xem đề cương, mới xem chỗ còn lại. Đã viết Chính Quan, vận phục hành được đất Quan vượng, hoặc là có thành cục, lại hành không gặp đất Thương quan. Cùng hành đến đất Tài vượng, đều là xứ lấy phúc.

Chính Quan chính là vật quý khí, đại kị hình xung phá hại, cùng với can năm tháng giờ có Quan tinh ẩn lộ, e rằng phúc mập mờ vậy. Lại phải xem trụ năm và giờ đặc biệt có nhập cách gì, lấy đi chỗ phúc, mới có thể đoán cát hung. Tùy tiện mà chấp nhất một đường mà lấy, thì không thể biến thông, tất phải sai một ly mà đi xa nghìn dặm, mậu dĩ thiên lý chi hoạn. Kinh viết: Lấy biến thông là thần thông, là vậy.

Chính Quan hoặc có nhiều, trái lại không thành phúc, Là tại sao vậy? Bởi vì mệnh cần phải được khí trung hòa, thái quá cùng với bất cập đều giống nhau. Khí trung hòa là phúc hậu, bè đảng thiên lệch khắc là tai ương. Đã dụng đề cương lấy Chính Quan, vị trí can ở trụ năm và giờ hoặc là có một Thiên Quan, liền thành hỗn tạp vậy, không thể không cẩn thận lấy khinh trọng mà suy đoán vậy.

Lại viết:Được ở nguyệt lệnh là vậy, hỷ thân vượng và Ấn thụ. Như Giáp dụng Tân là Quan, hỷ thổ sinh Quan, rất sợ hình xung phá hại, có Dương Nhận, Thất Sát là mệnh nghèo. Như can giờ gặp Sát, chính là Quan Sát hỗn tạp, vì tứ trụ có hình xung hại, đều xem không phải là quý mệnh. Quan đến khắc Ta, Ta đi khắc Quan, không là hại. Một vị trí nếu hai Quan không ngại. Nếu trong nguyệt lệnh có Chính Quan, can chi trụ giờ có thiên Quan, thì khó lấy Chính Quan nói. Còn như Giáp dụng Tân là Quan, sau khi sinh ở trong khí tháng 8, kim vượng ở Dậu, cho nên gọi là Chính Quan. Như thiên can không thấu ra chữ Tân, địa chi lại có Tị Dậu Sửu, mặc dù không thể ở sau trung khí tháng 8, cũng có thể nói là Quan. Đại để cần thân vượng, trụ giờ quy về xứ vượng của Giáp mộc. Như trụ năm và giờ thấu ra Chính Quan, địa chi lại có Quan cách, cũng không trói buộc khí hậu là phải ở trong tháng 8. Đại để Quan tinh, cần phải được Ấn thụ thân vượng thì phát. Nếu không có Thương quan phá Ấn, thân không nhược, thì là quý mệnh. Như trong mệnh có Quan tinh mà hành vận Thương quan, thì không tốt, tất phải dựa vào Ấn thụ, vận Quan tinh vượng thì có thể phát, tất được Quan.

Lời phê】 Giáp thấy Tân là Chính Quan, Ất thấy Canh là Chính Quan, Bính thấy Quý là Chính Quan, Đinh thấy Nhâm là Chính Quan, Mậu thấy Ất là Chính Quan, Kỷ thấy Giáp là Chính Quan, lấy suy ra như vậy mà dùng. Năm là vua, tháng là thần, lệnh vua hành quân, cho nên gọi là Nguyệt lệnh. Chính quan không có Ấn chính là thấy Thiên Quan, cho nên hỷ thân vượng Tài vượng.”Tị Dậu Sửu là kim cục”, 《 Tứ Ngôn độc bộ》nói: Tháng 8 Quan tinh, đại kị Mão Đinh, Mão Đinh khắc phá, hữu tình vô tình.

Luận Quan tinh thái quá

Như người sinh Nhâm Quý, tứ trụ là Thìn Tuất Sửu Mùi Tị Ngọ, thiên can không lộ ra Quan tinh cùng Sát, thì Quan Sát ám tàng ở trong là nhiều. Nếu trong tứ trụ có gốc chế phục là tốt, nếu không có chế phục, cần hành thủy vận và tam hợp mộc cục mới tốt. Đại để Quan tinh nhiều thì tạp, nên cần phải thanh trừ , là có thể phát phúc. Nếu Quan tinh nhiều lại hành Quan vận, cũng không được việc gì.

Lời phê】Chỉ dụng Chính khí Quan tinh, Tài khí đến năm và giờ lại rõ, nếu gặp tứ trụ không có xung phá, thì phú quý song toàn.

Luận Thiên Quan tức là Thất Sát

Nói về Thiên Quan, giống như loại Giáp mộc thấy Canh kim. Dương thấy dương, âm thấy âm chính gọi là Thiên Quan, phối ngẫu không thành. Giống như kinh nói:“Hai nữ không thể sống chung, hai nam không thể cùng ở một chỗ vậy.”

Thiên Quan tức là Thất Sát, phải chế phục. Bởi vì Thất Sát Thiên Quan tức là kẻ tiểu nhân, tiểu nhân không biết mà có nhiều hung bạo, không sợ ai, chính là có lao lực để dưỡng quân tử. Mà phục dịch hộ giá cho quân tử, là tiểu nhân vậy. Duy chỉ là không trừng trị không giới cấm, không nói là đã khống chế, thì không thể thuần phục mà thành sử dụng. Cho nên Dương Tử viết: Cai quản mà đắc đạo, thì thuần phục hoặc sai khiến; mất cảnh giác cai quản, thì âm thầm mà gian trá hoặc làm giặc, là tiểu nhân, là gian trá vậy, phải khống chế cai quản mới đắc đạo vậy. Nếu không cai quan khống chế, tiểu nhân đắc quyền, thì họa lập tức đến vậy. Kinh viết:Người có Thiên Quan, như ôm Hổ mà ngũ, tuy là mượn oai hùm để làm bầy thú khiếp sợ, nếu mất cảnh giác, tất sẽ gây ra họa, không thể không lo vậy.

Như gặp tam hình đầy đủ, Dương Nhận ở ngày và giờ, lại có lục hại, lại gặp Khôi Cương tương xung, người như vậy, hung không thể nói hết. Được chỗ chế phục, vận lại trải qua hành đến đất chế phục, chỗ này là mệnh đại quý vậy. Ở trước tùy tiện, hung thần đều tụ, vận đến đất Sát vượng, hung hại không thể nói hết, có thể hiểu vậy.

Như có một Sát, mà có 2 đến 3 chế phục, lại hành vận chế phục, trái lại là không thành phúc. Là sao vậy? Bởi vì là Tận pháp vô dân, dù có mạnh như Lang, như sói cũng không thể chế phục vậy, thì cũng không chuyên nói là chế phục. Phải biết chỗ được khinh hay trọng (nhiều hay ít), không thể quá nhiều, cũng không thể quá ít, cần phải cẩn thận xem mà nói, thì họa phúc sẽ biết vậy.

Lại nói: Có chế phục thì gọi là Thiên Quan, không có chế phục thì gọi là Thất Sát. Thí dụ như nhiều tiểu nhân, cai quản để mà đắc đạo thì có thể sai khiến, mất đạo thì khó mà địch lại, ở đạo cai quản khống chế là sao nhĩ? Phàm thấy chỗ Sát, vật liền nói là hung. Ai mà không biết chỗ mang Sát phần đa có quý mệnh. Như gặp tam hình, lục hại hoặc là Dương Nhận, Khôi Cương tương xung, như vậy mới gọi là hung, vị trí không thể chế phục. Nhưng vận hành chế phục, chỗ này là mệnh quý nhân vậy. Tùy tiện như trước, hung thần đều tụ, vận lại hành đến đất Sát vượng, họa không thể nói hết.

Đại để Thương Quan, Thất Sát, hỷ nhất là thân vượng, có chế phục là tốt. Gốc có chế phục, có thể hành vận Sát vượng; gốc không có chế phục, có thể hành vận chế phục. Thân vượng được hóa thành Thiên Quan, thân nhược không có chế phục thì gọi là Thất Sát. Chế phục lại hành vận chế phục thì gọi là thái quá, thì là Thiên Quan không có còn là hết vậy. Trong tháng khí sợ xung với Dương Nhận, là bản thân nhược, nếu Sát cường thì sợ khó chế. Như thân cường Sát nhược, thì là Giả Sát thành quyền nhận, giống như nói Thất Sát không sợ hình xung, nên tường tận vậy.

Lời phê】Giáp thấy Canh là Thiên Quan, Ất thấy Tân là Thiên Quan, Bính thấy Nhâm là Thiên Quan, Đinh thấy Quý là Thiên Quan, Mậu thấy Giáp là Thiên Quan, Kỷ thấy Ất là Thiên Quan, Canh thấy Bính là Thiên Quan, Tân thấy Đinh là Thiên Quan, Nhâm thấy Mậu là Thiên Quan, Quý thấy Kỷ là Thiên Quan. Thất Sát, nghĩa là từ Giáp đến Canh là bảy số, Canh khắc Giáp gọi là Sát, cho nên viết là Thất Sát, ngũ hành giống vậy. Quyết viết: Nếu nói chế phục hóa Sát, chỗ này văn chương tất có phát sinh, nếu vua cùng đến có tình hội hợp, thì công danh thành tựu cực kỳ mạnh mẽ.

Luận Thất Sát tức là Thiên Quan

Nói đến Thất Sát, cũng gọi là Thiên Quan. Hỷ thân vượng hợp Sát, hỷ chế phục, hỷ Dương Nhận; kị thân nhược, kị thấy Tài, kị không có chế. Thân vượng có khí gọi là Thiên Quan, thân nhược không có chế gọi là Thất Sát. Phàm có chỗ Sát, không thể liền nói hung, có Chính Quan không bằng có Thiên Quan, đa số người có cự phú đại quý, thân vượng hợp Sát là tốt, nếu như lấy Canh là Thất Sát, hỷ có Bính Đinh chế, có Ất hợp, gọi là Tham hợp vong Sát.

Lời phêQuyết viết:

Thiên Quan Thiên Ấn rất khó sáng,

Trên dưới tương sinh có lợi danh,

Tứ khố tọa Tài nhìn hướng quý,

Bỗng dưng bình thường lộ công khanh.

Chỗ này luận Thiên Ấn tương sinh, công danh hiển đạt, như có Nhận thân vượng chủ quyền quý.

Thất Sát lại cần chế phục, cũng không nên chế thái quá, bởi vì vật cực tắc phản mà thành họa vậy. Thân vượng lại hành vận thân vượng là phúc, như thân nhược lại hành vận thân nhược, họa không thể nói. Trong tứ trụ gốc có chế phục, hỷ hành vận Thất Sát; gốc không có chế phục, Thất Sát đến là họa. Như hành vận thân vượng, lại có Dương Nhận, quý không thể nói. Nhưng kị Tài vượng, là vì Tài có thể sinh Sát vậy. Tuế vận cùng lâm, thân vượng cũng nhiều họa, thân nhược càng nặng hơn.

Giáp Thân, Ất Dậu, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Tân Mùi, Quý Mùi, bảy ngày này là Nhật tọa Sát, tính rất lanh lợi, tâm xảo mà thông minh. Như thấy nhiều Sát, chủ nhân hung yểu bần bạc, thấy ở tháng là nặng, thấy ở giờ là nhẹ, là sao vậy? Viết: Thất Sát chỉ nên thấy một vị, như thấy tiếp ở năm và giờ, thì Sát nhiều thành họa, lại cần có đất chế phục. Lại cần thân vượng, có chế phục thành quyền, rất sợ xung hình Dương Nhận, là đại hung.

Chỉ có một vị Thất Sát ở trụ giờ, cần bản thân vượng, như trụ năm tháng ngày ba xứ có chế phục là phúc, lại nếu hành vận Sát vượng, vận tam hợp đắc địa cũng phát. Nếu không có chế phục, thì phải hành chế phục là phúc, hành vận Sát vượng không có chế phục, thì họa. Lấy trụ giờ có Thất Sát, lại không sợ Dương Nhận, mà cũng không sợ xung.

Như Tân Sửu, Ất Mùi, Ất Mão, Bính Tý, mệnh này thân vượng, sinh ở trong tháng sáu, can năm thấu ra Tân Sửu là Sát, hỷ được Bính Tý hợp Tân Sửu Thất Sát, chính là quý mà có quyền. 【Lời phê】Chỗ này nói hợp Sát là quý.

Lại như Giáp Ngọ, Bính Dần, Canh Tý, Bính Tý, mệnh này thân nhược, thấy hỏa cục lại thấy nguyệt lệnh Bính Dần Thất Sát, giờ lại thấy Bính Tý, hỏa khắc Canh kim, kim tử ở Tý, thân nhược Sát vượng, lại không có chế phục, nên mang bệnh bần bạc. 【Lời phê】Chỗ này là nói Sát trọng thân khinh.

Như Đinh Tị, Mậu Thân, Nhâm Tý, Mậu Thân, mệnh này thân vượng, thấy hai Mậu là Thất Sát, dẫn quy về ở Tị. Đinh và Nhâm hợp, Mậu và Quý hợp, kim lại trường sinh ở Tị, Mậu lộc ở Tị, chính là hai chữ Nhâm Mậu đều vượng, cho nên quý vậy. 【Lời phê 】Chỗ này là nói thân và Sát lưỡng đình.

Luận Ấn thụ

Gọi là Ấn, là chỗ sinh Ta, tức là Ấn thụ vậy. Kinh viết: Có Quan không Ấn, tức là không phải chân Quan; có Ấn không Quan, trái lại thành phúc. Tại sao như vậy? Đại để đời người được vật để tương trợ, tương sinh, tương dưỡng, khiến cho Ta được thấy vạn vật thành, chẳng phải đẹp ư. Cho nên chủ người nhiều trí tuệ phong phú. Bởi vì Ấn thụ sợ Tài, chủ người bị bó buộc trong đáy túi. Cho nên trong tứ trụ cùng vận hành quan quý trái lại thành phúc, bởi vì Quan quỷ có thể sinh Ấn. Chỉ có sợ Tài, mà Tài có thể phản thương Ta. Chỗ này Ấn thụ tuyệt vời, đa số là nhận sự che chỡ của cha mẹ, nhận sự giúp đỡ vật chết của ông cha, trở thành người được an hưởng. Lại nếu lấy 2,3 mệnh cùng hợp với nhau, nên lấy Ấn thụ nhiều là tốt nhất. lại chủ cả đời ít bệnh, mà có thể ẩm thực. Hoặc nếu Tài nhiều thừa vượng, tất có nhiều lưu lại lâu dài. Mặc dù hỷ Quan quỷ mà Quan quỷ nhiều hoặc nhập cách, lại không thể chuyên lấy Ấn thụ nói. Ví như ngày Giáp Ất được sinh tháng Hợi Tý, ngày Bính Đinh được sinh tháng Dần Mão, ngày Mậu Kỷ được sinh tháng Tị Ngọ, ngày Canh Tân được sinh tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, ngày Nhâm Quý được sinh tháng Thân Dậu là vậy, các loại còn lại đều nói như vậy. Rất sợ hành vận Ấn thụ tử tuyệt hoặc vận đến tử tuyệt, lại có vật để trộm cướp, tức phải nhập hoàng tuyền, không thể nghi ngờ vậy.

Nói về Ấn thụ, là vật sinh Ta vậy, cũng có tên là Sinh Khí. Lấy dương thấy âm, lấy âm thấy dương gọi là Chính Ấn; dương thấy dương, âm thấy âm gọi là Thiên Ấn. Hỷ Quan tinh sinh Ấn, kị Tài vượng phá Ấn. Như người Giáp sinh trong tháng Hợi Tý, thủy là Ấn, kị hỏa Thương quan, kị thổ phá Ấn. Phải hành đất sinh vượng, sợ hành tử tuyệt. Nếu hành đến đất tử tuyệt, hoặc có vật để tổn thương, thì nguy vậy. Người có Ấn thụ trí tuệ phong phú, cả đời ít bệnh, có thể ăn uống rất mạnh, hưởng tài lộc sẵn có. Nếu 2,3 mệnh hợp lại, nên thủ lấy Ấn thụ nhiều, tối kị Tài đến thừa vượng, tất sinh ra trì trệ. Nếu Quan quỷ nhiều hoặc nhập cách khác, thì không thể chuyên lấy Ấn luận.

Đại để trụ tháng và giờ thấy là tốt, mà trụ tháng là quan trọng nhất. Trước tiên luận khí tháng có sinh khí, tất được cha mẹ giúp đỡ; sau là trụ năm có sinh khí, tất được tổ tông giúp đỡ; trụ giờ thấy có sinh khí, tất được con cháu giúp đỡ, thọ nguyên lâu dài, về già ưu du tự tại.

Như mang Ấn thụ, cần có Quan tinh, gọi là Quan Ấn lưỡng toàn, tất là quý mệnh. Nếu Quan tinh tuy thấy trở thành được cha mẹ giúp đỡ, là phúc dày vậy. Phải hành Quan vận liền phát, hoặc hành vận Ấn thụ cũng phát. Nếu dụng Quan không hiển, dụng Ấn thụ là tốt, rất sợ trong tứ trụ, tuế vận đến đất Tài sẽ tổn thương Ấn. Nếu tổn thương Ấn thì chủ phá gia, xa cách tổ tiên ông bà. Lại đến đất tử tuyệt, nếu không giáng quan mất chức, tất yểu thọ.

Ví như: Mậu Tuất, Canh Thân, Quý Dậu, Canh Thân. Mệnh này ngày Quý sinh vào trong khí tháng 7, tháng và giờ đều có Canh Thân, tự tọa Dậu kim, cho nên là Ấn thụ. Can năm lại thấu ra Mậu Quan, gọi là Quan Ấn lưỡng toàn, mệnh hết sức quý. 【Lời phê 】Chỗ này trong tháng là xứ chính khí vậy, Canh kim chính vượng.

Lại như: Quý Hợi, Quý Hợi, Giáp Dần, Giáp Tý. Ngày này dụng Quý là Ấn, Ấn lại vượng, tiếc là không có Quan tinh tương trợ, phát phúc không dày vậy.

Lại như: Giáp Dần, Canh Ngọ, Mậu Tuất, Nhâm Tý. Ngày này Mậu dụng Đinh là Ấn thụ, có Dần Ngọ Tuất hỏa cục là tốt. không hợp ở trụ giờ có Nhâm Tý thủy vượng, Tài có thể xung Ấn, cho nên mắt mù. Sinh khí là Bính Đinh hỏa, là thuộc mắt vậy.

Lại như: Kỷ Mão, Đinh Mão, Bính Thìn, Nhâm Thìn. Mệnh này dụng Mão là Ấn, Quý là Quan, Mão ở trụ năm tháng, Thìn ở ngày giờ, cho nên là Quan Ấn lưỡng toàn, thiếu niên thanh quý. Đến 42, 43 tuổi vận Quý Hợi cũng không ngại, đến năm Canh Thân, thủy Thất Sát sinh ở Thân, chính là bị Canh Thân phá Ấn, cho nên không tốt vậy.

Lời phê】Giáp thấy Quý là Chính Ấn, Ất thấy Nhâm là Chính Ấn, Bính thấy Ất là Chính Ấn, Đinh thấy Giáp là Chính Ấn, Mậu thấy Đinh là Chính Ấn, Kỷ thấy Bính là Chính Ấn, Canh thấy Kỷ là Chính Ấn, Tân thấy Mậu là Chính Ấn, Nhâm thấy Tân là Chính Ấn, Quý thấy Canh là Chính Ấn. Thiên Ấn lại gọi là Kiêu thần. Ấn, là cha mẹ sinh ra ta, cho nên là tổ tông, luận cha mẹ, giống như cha mẹ có phúc đức cho con cháu. Lấy trụ giờ thấy tất có sinh, con cháu có phúc mà phụng dưỡng cha mẹ, chỗ này lý là rất rõ ràng.

Luận Chính Tài chủ khắc mẹ

Sao gọi là Chính Tài? Giống như ý nghĩa của Chính Quan, là âm thấy dương Tài, dương thấy âm Tài. Đại để Chính Tài, là thê tài của ta vậy, người ban thưỡng nữ tài để nuôi ta, tất tinh thần khang cường, rồi sau đó mà lấy hưởng dụng. Như bản thân nhược, mà bản thân tự suy sụp mà tinh thần không phấn chấn, dù thê tài phong phú, nhưng cuối cùng cũng không có một chút nào để hưởng dụng. Cho nên Tài phải đắc thời, không nên có Tài nhiều. Nếu Tài nhiều mà bản thân nhật chủ có lực, có thể đảm nhận, nên hóa làm quan. 【Lời phê】 Giáp thấy Kỷ là Chính Tài, Ất thấy Mậu là Chính Tài, Bính thấy Tân là Chính Tài, Đinh thấy Canh là Chính Tài, Mậu thấy Quý là Chính Tài, Kỷ thấy Nhâm là Chính Tài, Canh thấy Ất là Chính Tài, Tân thấy Giáp là Chính Tài, Nhâm thấy Đinh là Chính Tài, Quý thấy Bính là Chính Tài.

Thiên Nguyên nhất khí, suy nhược bần bạc khó chữa trị, là vui ở thân vượng, không nên hành đến đất khắc chế, khắc chế thì thành Quan quỷ vậy.

Lại sợ chỗ sinh ở nguyệt lệnh, chính là chỗ đất ta suy bệnh. Lại tứ trụ không có chỗ phụ mẫu sinh ta, trái lại hỷ Tài lại có thấy Tài, gọi là Tài đa, lực không đảm nhận Tài, họa hoạn cả trăm, tuy thiếu niên trải qua vị trí hưu tù, cho nên không như ý, sự việc gặp nhiều trói buộc. Hoặc là trung niên, hoặc là lúc già, lại đến đất phụ mẫu, hoặc có tam hợp có thể trợ giúp ta, thì đột nhiên mà hưng thịnh, không thể cầm cương vậy.

Nếu như cách thành Tòng Tài, lại hỷ thân càng nhược, vận Tài cực cường, trợ thân trái lại là không tốt.

Nếu thiếu niên thừa vượng, lúc già ở thoát cục, không chỉ có đường cùng lạnh lẽo, mà còn khởi lấy thị phi. Bởi vì Tài, là đầu mối của sự tranh giành vậy. Hoặc nếu có tứ trụ tương sinh, chuyển mang theo quý cách, không gặp Không Vong, lại hành vượng vận, tam hợp sinh Tài, đầu là quý mệnh. Còn lại phúc có dày hay bạc, đều tùy vào nhập cách khinh trọng mà nói vậy. Tài nhiều sinh Quan, cần phải thân kiện. Tài nhiều cướp khí, bản thân lại nhược, tuế vận lại tổn thương tài, thì tất phải sinh họa. Hoặc mang theo hình cùng Thất Sát, hung không thể nói hết vậy.

Lại nói: Chính Tài, hỷ thân vượng Ấn thụ, kị Quan tinh, kị Đảo Thực, kị thân nhược, Tỉ kiên Kiếp tài, không thể thấy Quan tinh, sợ cướp khí Tài vậy; hỷ Ấn thụ, bởi vì có thể sinh thân chủ nhược vậy. Ví như ngày Giáp dụng Kỷ là Chính Tài, như thân nhược, thì họa lập tức đến. Phàm mệnh người sinh ra mang theo Tài nên là phú hào, không làm con nuôi tất phải làm con của kẻ thứ thiếp, hoặc là xung cha mẹ, thân vượng không có Kiếp tài, không có Quan tinh là tốt. 【Lời phê 】 Đảo Thực, như là Giáp thấy Nhâm, lấy Nhâm thủy khắc Thực thần bính hỏa của Giáp mộc, gọi là Đảo Thực. làm con nuôi, là con vợ nhỏ vậy, làm con mà được hưởng tài sản vậy, chỗ này là nói bản thân không có con, ôm con người khác để nhận làm con nuôi vậy.

Nếu trong mệnh có Quan tinh đắc địa, vận hành hỷ Tài nhiều sinh Quan; bao gồm cả có Tài tinh đắc địa, vận hành kị thấy Quan tinh, là do sợ khắc bản thân, sợ thân nhược vậy. Đại để Tài không luận là Thiên hay Chính, đều hỷ Ấn thụ, tất có thể phát phúc. Như Tân Sửu, Đinh Dậu, Đinh Tị, Đinh Mùi, mệnh này ngày Đinh thân tự tọa đất Tài, lại thấy Tị Dậu Sửu kim cục, cho nên chủ Tài vượng. Bởi vì Đinh được mộc khố ở Mùi, có thể sinh Đinh hỏa, cho nên thân vượng có thể gánh được Tài. Vận hành Đông Nam phương, cho nên là cự phú. Đinh dụng Nhâm Quan, dụng Canh kim là Tài sinh Nhâm Quan, thân nhập vào đất vượng, tất có thể phát phúc.

Phàm dụng Tài không thấy Quan tinh là tốt. Lại như Canh Thân, Ất Dậu, Bính Thân, Bính Thân. Mệnh này ngày Bính thấy 3 chữ Thân là Tài, sao không tốt chứ. Bính dụng Quý Quan, dụng Tân là Tài, thấy 3 chữ Thân một chữ Dậu là Tài, cho nên vượng. Bởi chỉ sợ thân nhược, hỏa bệnh ở Thân tử ở Dậu, chính là vô khí, vận hành đất Dậu phương kim, thân nhược rất nặng, Tài vượng sinh Quỷ, bại khắc bản thân, cho nên không thể thắng Tài, do đó là nghèo vậy. 【Lời phê】Tháng 7 là Canh Thân vậy, ngày Bính sinh ở Thân Dậu chính là quy Tài vượng cực.

Lại như:Ất Mão, Quý Mùi, Tân Dậu, Mậu Tý. Mệnh này ngày Tân tọa Dậu, năm Ất tọa Mão, thân và Tài đều vượng, lại gặp Quý Mùi là Thực thần, Mậu Tý có Ấn thụ trợ giúp, nên là cự phú quý vậy. 【Lời phê】Chỗ này nói trụ năm có Thiên Tài bản thân tọa lộc, trụ giờ có Ấn vượng, Tân lại sinh ở Tý, cho nên là phúc.

Lại như: Mậu Tý, Đinh Tị, Giáp Thìn, Bính Dần. Mệnh này ngày Giáp sinh ra ở hạ tuần tháng 4, lại thấu ra Bính Đinh hỏa sinh trong tháng có Mậu thổ, giờ lại quy lộc ở Dần, cho nên Tài vượng vậy, nhưng Giáp mộc thân cũng vượng. Thiếu niên hành vận Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, vận thông. Hành vận Tân Dậu, chính là thấy Quan tinh thì hung. Vận Nhâm Tuất có Nhâm khắc Bính, trong có Thương quan Thực thần, mất quan mất tài, tử tang cùng hợp lại. Gặp năm 59 tuổi nhập vận Quý Hợi thân vượng, khá có an dật. 65 tuổi gặp năm Nhâm Thìn chết vậy. Đầu vận Thương quan thấy Tài, cách thủ Mậu thổ là Tài, cho nên Mậu Ngọ, Kỷ Mùi hai vận là đại vượng, sinh thổ cho nên tài phong phú vậy. Cùng đến Canh Thân, Tân Dậu, Tây phương thấy Quan, cho nên mọi việc là phí lực. Dù cho Quý Hợi là Ấn thụ của Giáp mộc, nhưng cũng kị thủy xung hỏa, trong Hợi lại có Nhâm thủy, Nhâm Thìn thấu ra Nhâm thủy, trong vận trong mệnh có nguyên thần, chết là không nghi ngờ vậy. Phàm Thương quan thấy Tài cách là kị thấy Quan tinh, chỉ có hỷ thấy Tài, nếu Tài cách thì phải cần thấy. Đại kị Nhâm thủy khắc hỏa, thì hỏa không thể sinh thổ Tài của Giáp mộc vậy. 【Lời phê】 Luận Tài hỷ thấy Thương quan, Thương quan lại có thể sinh Tài, kị thấy Tân Canh Quan tinh vậy.

Luận Thiên Tài

Sao gọi là Thiên Tài? Bởi vì dương thấy dương Tài, âm thấy âm Tài vậy.

Mà Thiên Tài chính là tài của mọi người vậy, chỉ sợ anh em chị em cướp đoạt, thì không đủ phúc. Nếu không có Quan tinh, thị gặp trăm họa. Cho nên nói: Thiên Tài thích xuất ra, cũng không sợ ẩn tàng, duy chỉ có sợ lấy phân chia cướp đoạt, cùng với Không Vong mà thôi. Có một chỗ này, Quan nếu không thành, Tài cầm khó giữ được. Kinh viết: Bối Lộc trục Mã, lấy đường cùng mà lo lạnh lẽo vậy.

Tài nhược cũng cần nhiều đất vượng mà phát vinh, Tài thịnh không có quỷ mà không tốt, lại sợ thân nhược vô lực vậy. Thiên Tài chủ người rộng rãi, không tham lận tài, duy chỉ là đắc địa, không chỉ có tài phong phú, cũng có thể vượng quan, tại sao nói vậy chứ? Bởi vì Tài thịnh tự sinh Quan vậy, nhưng chờ hành đất Quan, là người có tình mà nhiều gian trá. Bởi vì Tài có thể lợi bản thân, cũng có thể gây ra mù mờ. Vận hành vượng tướng, phúc lộc đều đến, chỉ sợ Tỉ kiên Kiếp tài quá vượng, tất nhiều phá hại, cũng không tốt.

Tài nhiều phải xem Tài và nhật can của ta cường nhược bằng nhau, hành đất Quan liền có thể phát lộc. Nếu Tài thịnh mà thân nhược, vận tới đất Quan là đã bị khí cướp tài, lại bị Quan khắc thân, không chỉ không phát lộc, mà còn đề phòng họa hoạn. Như trong mệnh tứ trụ gốc mang Quan tinh, liền xem là mệnh tốt. Nếu trong tứ trụ có Tỉ Kiếp xuất hiện trùng điệp, mà nhập đất Quan, phát lộc tất mù mịt vậy. Cho nên viết: Cần phải biết biến thông vậy.

Lời giải thích】 Giáp thấy Mậu là Thiên Tài, Ất thấy Kỷ là Thiên Tài, Bính thấy Canh là Thiên Tài, Đinh thấy Tân là Thiên Tài, Mậu thấy Nhâm là Thiên Tài, Kỷ thấy Quý là Thiên Tài, Canh thấy Giáp là Thiên Tài, Tân thấy Ất là Thiên Tài, Nhâm thấy Đinh là Thiên Tài, Quý thấy Đinh là Thiên Tài.

Luận Thực Thần

Thực thần là vị trí sinh Tài thần của Ta vậy. Như Giáp thuộc mộc, Bính thuộc hỏa, danh là Cướp khí, cho nên gọi là Thực thần, sao vậy? Ai không biết Bính có thể sinh Mậu thổ của Ta, Giáp Thực Bính sinh Mậu Tài, cho nên lấy là tên này vậy. Trong mệnh mang vị này, chủ nhân Tài dày cơm nhiều, lòng dạ khoan dung, cơ thể béo phì, u du tự tại, có con cháu, có phúc thọ.

Vĩnh viễn là không thích thấy Quan tinh, kị Đảo Thực, sợ tổn thương Thực thần. Hỷ Tài thần tương sinh, độc nhất thấy một vị, chỗ này là phúc nhân, nhưng cuối cùng cũng không thanh. Lại hỷ thân vượng, không hỷ Ấn thụ, cũng sợ tổn thương Thực thần vậy. Như vận đắc địa, mới có thể phát phúc, đại khái cùng với tài thần là tương tự.

Như Kỷ Mùi, Kỷ Tị, Đinh Mùi, Tân Sửu. Đinh thấy Kỷ là Thực thần, có một Sửu Tị hợp khởi kim cục, là được Tài, lại hỷ thân không nhược, cho nên vừa có Quan cũng có thọ vậy.

Như Ất Tị, Ất Dậu, Quý Dậu, Ất Mão. Mệnh này thấy ba Ất là Thực, thấy Tị Dậu Sửu hợp kim cục thành Ấn thụ, lại có 3 Ất hóa thành Thương quan, Quý dụng Ất là Thực thần, bị kim cục đến khắc Ất mộc, lại bị 3 Ất cùng Mão vượng khắc Quan của ta, cho nên danh lợi đều không thành vậy.

Lời giải thích 】 Giáp thấy Bính gọi là Thực thần, Ất thấy Đinh là Thực thần, Bính thấy Mậu là Thực thần, Đinh thấy Kỷ là Thực thần, Mậu thấy Canh là Thực thần, Kỷ thấy Tân là Thực thần, Canh thấy Nhâm là Thực thần, Tân thấy Quý là Thực thần, Nhâm thấy Giáp là Thực thần, Quý thấy Ất là Thực thần.

Thi quyết Thực thần:

Phàm Giáp thấy Bính là cướp khí,

Bính đi sinh Tài hiệu Thực thần,

Lòng dạ thanh thản đầy phúc hậu,

Nếu đến Ấn thụ chủ khó thành.

Thực thần hữu khí thắng Tài Quan,

Trước cần bản can nó cường vượng,

Nếu như phản thương đến đoạt Thực,

Bận bịu lao khổ họa muôn vàn.

***********************

Quyển hai (2)

Luận Đảo Thực

Nói Đảo Thực là vị trí Tài thần vậy, còn có một tên gọi là Thôn Yết Sát. Dụng Tài thần đại kị thấy nó, dụng Thực thần cũng kị thấy nó. Đảo Thực, như Giáp thấy Nhâm vậy. Như Giáp thấy Bính là Thực thần, có thể sinh thổ Tài. Nhưng mà Nhâm khắc Bính hỏa, Bính hỏa không thể sinh thổ Tài của Giáp mộc, cho nên nói Giáp dụng Thực thần đại kị thấy Nhâm thủy, phàm trong mệnh mang hai chỗ này, chủ phúc thọ bạc nhược.

Lại thấy Canh là Thất Sát, gặp Bính hỏa chế, sợ thấy thủy trái lại thành họa vậy. Phàm trong mệnh phạm chỗ này, giống như bề trên khống chế bản thân, thì không được tự do vậy. Việc làm tiến thoái mệt mỏi ân hận, có thủy không có chung, gốc tài nhiều thành mà cũng nhiều bại, tướng mạo nghiêng lệch, thân thể thấp bé, tâm lo khiếp đảm, trăm việc không thành vậy.

Ví như: Đinh Mùi, Đinh Mùi, Kỷ Hợi, Đinh Mão. Mệnh này ngày Kỷ Hợi, Kỷ đến ở trên Hợi, thân nhược ở Hợi, lại thêm Hợi Mão Mùi mộc cục khắc thân, năm tháng giờ thấu ra 3 chữ Đinh là Đảo Thực, thiếu niên hành vận Nam phương, dựa hỏa sinh thổ thân tự vượng. Mới giao vận Ất Tị, là Thất Sát của Kỷ, dẫn ra Hợi Mão Mùi mộc cục, gặp năm Quý Hợi, cho nên chết vậy. Mệnh này không những họa Đảo Thực, Thất Sát, mà còn năm Quý Hợi nói đồng nghĩa với sinh cho Sát mà phá Ấn vậy.

Như: Giáp Tuất, Bính Dần, Giáp Tuất, Nhâm Thân. Mệnh này ngày Giáp Tuất, Giáp thấy Bính Thực, sinh vào tháng giêng, Giáp mộc vượng, thân và Thực thần đều vượng, vốn là quý mệnh. Không hợp ở trụ giờ có Nhâm Thân, Nhâm thủy tổn thương Bính hỏa, Thân kim xung Dần mộc. Lại còn trong Thân có Canh kim Thất Sát, cho nên danh lợi không thành. Hành vận Kỷ Tị đất sinh kim, thấy năm Canh Tý, Canh kim là Thất Sát, lại thấy Tý thủy, chết vì tai nạn.

Lời phê 】Thực thần có khí thắng Tài Quan, trước tiên nó phải cường vượng mộc phương, nếu gặp phản thương có đoạt Thực, hết sức khổ cực họa khó khăn cách trở. Thi quyết viết: “Phàm Giáp thấy Bính gọi là cướp khí, Bính đi sinh Tài hiệu Thực thần, tâm từ thể quảng phúc dày dặn, nếu đến Ấn thụ chủ khó thành.”

Phân luận Đảo Thực:

Giáp mộc thấy Nhâm thì thất bại,

Nhâm đến phá Bính việc khó khăn,

Dụng mẫu nếu thấy cùng tương chiến,

Việc càng đa đoan nhiều thành bại.

Luận Thương Quan

Thương Quan, ứng nghiệm như thần. Thương quan ắt phải Thương tận, Thương không hết, Quan đến thừa vượng, thì họa không thể nói hết. Thương quan kiến Quan, vi họa bách đoan. Nếu nguyệt lệnh ở ngôi Thương quan, cùng tứ trụ phối hợp sự việc, đều ở xứ Thương quan, lại hành đất thân vượng, là chân quý nhân vậy. Thương quan chủ người đa tài nghệ, ngạo vật khí cao, thường coi người trong thiên hạ là không bằng mình. Mà quý nhân cũng kị, mọi người cũng sợ. Vận một khi gặp Quan, họa không thể nói. Hoặc có cát thần thì có thể cứu giải, tất phải sinh ác tật mà thân thể thiếu khuyết, nếu không cũng gặp việc quan. Như vận hành cướp quan, Tài thần không vượng, đều là người được an hưởng. Suy nghĩ tường tận cẩn thận, vạn lần không mất một.

Lại nói: Thương quan, là chỗ ta sinh ra vậy. Lấy dương thấy âm, âm thấy dương, còn có tên gọi là Cướp khí. Thương quan nếu thương tận, không có một điểm lưu lại. Thân nhược kị Quan tinh, không sợ Thất Sát. Như Giáp dụng Tân Quan, như Đinh hỏa vượng, có thể sinh thổ tài, tối kị thấy Quan tinh, cũng cần Thương vượng. Nếu Thương quan không hết, tứ trụ có Quan tinh lộ ra, tuế vận nếu thấy Quan tinh, họa không thể nói hết. Nếu Thương quan thương tận, tứ trụ không lưu lại một điểm, lại hành vượng vận cùng Ấn thụ vận, lại thành quý vậy.

Như trong tứ trụ dù có Thương tận Quan tinh, thân tuy vượng, nếu không có một điểm Tài khí, chỉ là nghèo hèn. Như gặp Thương quan, nên thấy Tài là tốt, vì Tài có thể sinh Quan vậy.

Như dụng Thương quan cách, can chi tuế vận đều không thấy Quan tinh, như thấy Quan tinh, gọi là Thương quan kiến Quan, vi họa bách đoan. Dụng cách cục Thương quan, thấy Tài mới có thể sử dụng.

Thương quan, Thất sát, rất giống như Thất Sát thương thân, ứng nghiệm như thần. Năm mang Thương quan, cha mẹ không đủ; tháng mang Thương quan, anh em không còn; giờ mang Thương quan, con cái ngu dốt; ngày mang Thương quan, thê thiếp không còn. Ngoài ra thương quan, cần phải thương tận thì tốt, thấy Tài mới được. Họa nhẹ thì đi xa, họa nặng thì hình yểu. Thương quan có tranh chiến (xung), mệnh khó bảo tồn. Nếu nguyệt lệnh ở vị trí Thương quan, cùng với tứ trụ tương hợp đều ở xứ Thương quan, như hành thân vượng, tức là quý nhân vậy. người có Thương quan, phần đa là kiêu ngạo khinh người, thường xem người khác không bằng bản thân, quân tử ngán, tiểu nhân sợ. Gặp Quan vận mà không có Tài giải cứu, tất chủ đại họa, nếu không chủ ác tật ám muội, là người tàn phế, hoặc vận gặp quan hình vậy. Như tứ trụ dù có Thương tận Quan tinh, thân nhược gặp Tài vận là phát phúc, thì gọi là Thương quan kiến Tài. Cẩn thận suy nghĩ, vạn lần không mất một.

Lại nói: Tứ trụ có Quan mà bị họa nặng, tứ trụ không có Quan mà bị họa thì nhẹ. Đại để tứ trụ thấy Quan, hoặc thấy Thương quan mà thủ Tài, hành Tài đắc địa thì phát, hành đất Bại tài tất phải chết. Như bên trong vận không có Tài, can vận hư lộ cũng có được vậy. Như Ất Hợi, Kỷ Sửu, Đinh Hợi, Canh Tuất, Đinh lấy Nhâm là Quan, Sửu Tuất vốn là Thương quan, chỉ vì Sửu là kim khố, trụ giờ lại có chữ Canh làm Tài, người này hành Thân Dậu hạn như ý, nhập vào kim thoát khí liền chết vậy, đại để Thương Quan tinh, hành Quan vận thì gặp họa, Thái Tuế cũng vậy.

Lời phê 】 Giáp thấy Đinh là Thương Quan, Ất thấy Bính là Thương quan, Bính thấy Kỷ là Thương quan, Đinh thấy Mậu là Thương quan, Mậu thấy Tân là Thương quan, Kỷ thấy Canh là Thương quan, Canh thấy Quý là Thương quan, Tân thấy Nhâm là Thương quan, Nhâm thấy Ất là Thương quan, Quý thấy Giáp là Thương quan.

Thi quyết Thương quan:

Thương quan thương tận là đứng đầu,

Vốn sợ Thương nhiều lại không tốt.

Trong cách cục này nhiều biến hóa,

Suy tìm cần phải dụng tâm cơ.

Hỏa thổ Thương quan cần thương tận,

Kim thủy Thương quan cần thấy Quan,

Mộc hỏa Thương quan Quan nên vượng,

Thổ kim Quan mất lại thành quan,

Duy chỉ thủy mộc Thương quan cách,

Tài Quan đều thấy thủy là vui.

Sao này mà gặp Quan, giống như người nghèo thấy tiền, tham nhiều mà dẫn đến họa. Thấy Sát Ấn, tất có thành. Duy chỉ có mang Nhận, tất có đường hung, nên trung hòa là quý, không có chế thì họa. Có cát thần trợ giúp thì cát, ác sát trợ giúp thì hung.

Luận Kiếp Tài

Còn có tên là Nghịch Nhận. Như Ất thấy Giáp là Kiếp tài. Ất lấy Canh là chồng, thấy Bính khắc Canh, cho nên khắc chồng, nam mệnh thì khắc vợ. Ngũ dương thấy ngũ âm gọi là Bại tài, chủ khắc vợ hại con. Ngũ âm thấy ngũ dương gọi là Kiếp tài, chủ phá hao, đề phòng tiểu nhân, không khắc vợ. Ất lấy Mậu Kỷ là Tài, Giáp cướp đoạt Kỷ phá Mậu; Đinh lấy Canh Tân là Tài, Bính có thể đoạt Tân phá Canh, đúng như vậy. Anh thấy em, em có thể tiêu xài Tài của anh, đoạt vợ anh; em thấy anh, anh có thể cướp tài của em, mà không dám lấy vợ của em. Tài, là chỗ mong muốn của con người, phương lệnh thấy có anh em ( Tỉ Kiếp), phần nhiều là có tranh đoạt, giống như muốn bình yên thì có được mấy người. Nam mệnh thấy Kiếp tài đa số là khắc vợ, nữ mệnh thấy Thương quan đa số là khắc chồng, chỗ này nói rất đúng vậy.

Lời phê】Giáp thấy Ất gọi là Bại tài, Ất thấy Giáp gọi là Kiếp tài; Bính thấy Đinh gọi là Bại tài, Đinh thấy Bính gọi là Kiếp tài; Mậu thấy Kỷ gọi là Bại tài, Kỷ thấy Mậu gọi là Kiếp tài; Canh thấy Tân gọi là Bại tài, Tân thấy Canh gọi là Kiếp tài; Nhâm thấy Quý gọi là Bại tài, Quý thấy Nhâm gọi là Kiếp tài.

Luận Dương Nhận

Nói về Dương Nhận, trên trời gọi là Hung tinh, dưới nhân gian gọi là Ác Sát, lấy trước lộc một vị là đúng. ( Như Giáp lộc ở Dần, Mão là Dương Nhận. ) hỷ thấy Thiên Quan Thất Sát, hỷ Ấn thụ. Kị phản ngâm, phục ngâm, kị Khôi Cương, kị Tam Hợp.

Tại sao gọi là Dương Nhận?Giáp Bính Mậu Canh Nhâm ngũ dương là có Nhận, Ất Đinh Kỷ Tân Quý ngũ âm không có Nhận, cho nên tên là Dương Nhận.

Như trong mệnh có Nhận, không thể liền nói hung. Đại để cùng với Thất Sát là tương tự, phàm có Nhận, đa số người là chủ phú quý, lại hỷ Thiên Quan Thất Sát. Nhưng Sát không có Nhận thì không hiển, Nhận không có Sát thì không có uy, Nhận Sát đều có, không phải là thường nhân. Đại để cần thân vượng, vận hành đất thân vượng, không nên thấy vận Thương quan, Nhận vượng. Nếu bên trong mệnh gốc có Sát Nhận, tuế vận lại gặp, họa là không kể hết. Nếu mệnh có Nhận không có Sát, tuế vận gặp đất Sát vượng, chính là chuyển sinh mà lại thành phúc dày. Như Thương quan Tài vượng, thân nhược Sát vượng, có thể nói là kị đứng đầu vậy.

Như: Canh Thân, Kỷ Mão, Giáp Dần, Bính Dần, mệnh này ngày Giáp thấy Mão là Nhận, Canh là Thất Sát. Thất Sát vốn là thương hại thân, lại dựa vào Mão trong có Ất mộc để phối hợp, là Sát có tình, thì Sát không thể thương hại thân, chính là nghĩa Giáp lấy Ất muội làm vợ Canh. Thân vượng đến Nam phương vận, cho nên là quý.

Lại như: Mậu Ngọ, Mậu Ngọ, Mậu Ngọ, Giáp Dần. Mệnh này Sát Nhận đầy đủ, lại còn lấy Ngọ hỏa là Ấn, cho nên là quý. 《 Hỷ Kị thiên 》nói: “Ngày Mậu tháng Ngọ, vật lấy Nhận xem; năm giờ nhiều hỏa, lại thành Ấn thụ.”

Lại như: Tân Dậu, Giáp Ngọ, Mậu Tý, Giáp Dần. Mệnh này vừa là Sát Nhận đầy đủ lại còn có Ấn thụ, không hợp ở can năm có Thương quan thấu ra, vận hành Tân Mão, phạm Thương quan có Nguyên thần, Nhâm là Tài, là năm Nhâm Thìn hung sự lao đầu vào nước mà chết. Nhâm thủy khắc hỏa Ấn, lại sinh Giáp là Thất Sát, gọi là Sinh Sát hoại Ấn. Tức là mệnh này thấy Tân là Thương quan, vận hành Tân Mão kị thấy Quan, trong Ngọ có Đinh hỏa là Ấn thụ, tối kị Thương quan cùng với Tài thấy nhau, là do thủy sinh mộc khắc thân vậy.

Lại như: Quý Mùi, Ất Mão, Giáp Tý, Kỷ Tị. Mệnh này Mão là Nhận Quý là Ấn, không hợp trụ giờ có Kỷ Tị phá Ấn. Vận hành Tân Hợi, Hợi Mão Mùi hợp khởi Dương Nhận, năm Tân Dậu, Tân kim lại vượng ở Dậu, xung khởi Mão Nhận. Hai Tân thì thái quá, kim nhiều thấy Giáp, thân tuy Quý cũng gặp hình vậy. Nhưng mà dù có thấy Tân là quý, chỗ kị của Dương Nhận, không thể có một hợp một xung vậy.

Lời phêQuyết viết: “Dương Nhận Kiếp Tài chớ xem hung, thân khinh phụ trợ lại là hung. Đơn độc sợ năm tháng qua lại thấy, giờ sinh chớ có ở vượng cung. Dương Nhận cách lại sợ thấy Quan, trong giờ thấy Quan họa nghìn đầu, nói đại kị tam hợp Tài vượng, đoán hướng thương sát thân không còn.” Cách này ở trên trời nắm chinh phạt, ở đất nắm quyền hình lục sinh sát. Dương Nhận có Sát có Ấn thấy Thương quan không có Ấn thụ hoặc Ác Sát tương hợp tức là đạo tặc, là đồ tể. lại thêm Ác sát lưu hành nối liền cùng với nhiều sao hung thì chủ chết trong lao ngục, nếu Đảo Qua vong Dương Nhận định chủ chém đầu.

Luận Hình Hợp

Hình hợp, là trong gặp hình mà còn mang theo hợp vậy. Như sinh mệnh phạm, đa số là người vì tửu sắc mà tang gia thành bệnh, về phần đam mê bất tỉnh, chính là thần mê muội vậy. Như trong 18 cách có Hợp Lộc, Hợp Cách là sao vậy? Chính là Quý dụng Mậu là Quan, Mậu lộc ở Tị, không thấy chữ Tị, nhưng thấy chữ Dần là hình, nhưng mà Tị Dậu Sửu hợp, chỗ này chính là Kiến bất kiến chi hình, cho nên là quý vậy. Nếu như, ở trước đều thấy, cho nên là hung vậy.

Ví như: Bính Tý, Tân Mão, Bính Tý, Tân Mão, mệnh này năm tháng ngày giờ đều có mang theo hình hợp, là Tý thủy xung Bính hỏa kiêm thân lại nhược. 26 tuổi giao vận Giáp Ngọ, 36 tuổi giao năm Bính Thân, thái tuế cùng ở trên Dương Nhận, có 2 Tý xung 1 Ngọ, Nhận hình đều hợp, cho nên vì tửu sắc dâm dật mà chết vậy.

Lại như: Kỷ Tị, Kỷ Tị, Giáp Dần,Kỷ Tị. Mệnh này thân vượng Tài vượng, thân nhập trường sinh, cho nên gọi là nhập cách. Không hợp mang theo hình hợp quá nặng, giao Quý Hợi xung Tị, mà thích ẩm tửu mê sắc, sinh bệnh tật mà chết.

Lại như: Ất Mão, Quý Mùi, Mậu Tuất, Quý Sửu. Mệnh nữ nhân, ngày Mậu Tuất sinh vào trung tuần tháng sáu, can năm thấu ra chữ Ất, là Quan, địa chi Hợi Mão Mùi mộc cục sinh hỏa trong Tuất, là Ấn thụ của Mậu, là Quan Ấn lưỡng toàn. Chỉ có không hợp là giờ Quý Sửu, Quý thủy xung hỏa trong Tuất, trong Sửu có Tân kim Thương quan kiêm trùng cả hình hợp là chỗ Mậu dụng, Ất Quan ở can năm vượng vậy.

Lời phê】Can chi tứ trụ hợp đến hình, đa số là người vì tửu sắc mà tang thân; nếu đến Dương Nhận cùng Quỷ Sát, định người phải xuống hoàng tuyền. Lại nói: Giờ Quý Hợi Quý Sửu Mão Dần, không thể biết là hợp khử Quan tinh; không hỷ Canh kim làm tổn thương Giáp mộc, Dần Thân xung phá chủ phân thây. Cách này không hỷ Quan tinh chỉ vì trong ám cùng đến hợp khử lấy Quan là quý.

Luận Phúc Đức tú khí

Phúc Đức tú khí, chuyên dụng ở nhật chủ. Như Ất Tị, Ất Dậu, Ất Sửu là đúng. Ất dụng Canh Quan, lộ ra Sát hỷ chế, hỷ Ấn thụ, không hỷ sinh vào trong tháng 8, sợ lộ ra Sát. Lại hỷ hành vận Ấn thụ, Quan vượng, liền có thể phát phúc. Tùy tiện trong tứ trụ lộ ra Tân Sát cần phải chế phục. Như Đinh Tị, Đinh Dậu, Đinh Sửu, nói Nhâm là Quan, hỷ kim vượng sinh thủy, cũng không hỷ sinh vào tháng 8, vì hỏa tử ở Dậu, lại hỷ hành vận Quan vượng, liền có thể phát phúc. Cũng không cần lộ Sát làm hỗn tạp Quan, là thọ không dài. Kỷ Tị, Kỷ Dậu, Kỷ Sửu, nói dụng Giáp mộc là Quan, Tị Dậu Sửu kim cục, đều tổn thương Quan, cũng có tên là cướp khí, tại sao lại cát? Mặc dù hỷ được kim cục, có thể sinh thủy Tài, cũng không cần tứ trụ thấy hỏa, e tổn thương kim cục, lại hỷ hành Tài vận liền phát. Quý Tị, Quý Dậu, Quý Sửu nói dụng kim thần là Ấn, thấy Tị Dậu Sửu kim cục có thể sinh Quý thủy, không hỷ sinh vào tháng 4, thủy tuyệt ở Tị, mặc dù kim sinh ở Tị, lấy kim có thể sinh thủy, cũng không thể tuyệt, được vận Quan Ấn liền có thể phát phúc. Nhất là không hỷ hỏa Tài, e tổn thương kim vậy. Đại để cùng với Ấn thụ là tương tự, tất cả đều có ví dụ ở dưới.

Lời phê:

Quan ―― Ất Tị, Ất Dậu và Ất Sửu, người sinh tháng 8 là đoản thọ, tứ trụ nếu thấy Quỷ Thương quan, có hung sự mất chức giáng quan.

Tài — Như Đinh Tị, Đinh Dậu và Đinh Sửu, người sinh tháng 8, thọ không dài, tiền trình danh lợi đều không có căn, sợ nhất là phá Ấn chỉ có giao với Dậu.

Thực ―― như Kỷ Tị, Kỷ Dậu và Kỷ Sửu, phúc đức tạo hóa có phân khí, sợ nhất tứ trụ quá xâm phạm, phần đa có công danh nhưng cũng sợ không bền. Quý Tị, Quý Dậu và Quý Sửu, tháng Tị thì dù là thần nhân cũng không lâu, công danh thành tựu lúc về già, tối kị có Thực thần cùng Thương quan.

Luận Tạp Khí( là Thìn Tuất Sửu Mùi vậy )

Tạp khí, là nói vị trí Thìn Tuất Sửu Mùi vậy. Trong Thìn có chữ Ất Mậu Quý, trong Tuất có chữ Tân Đinh Mậu, trong Sửu có chữ Quý Tân Kỷ, trong Mùi có chữ Ất Kỷ Đinh, bốn vị này, là khí thiên địa bất chính vậy. Ví như Giáp thì trấn ở vị trí Dần, là bức thành dương mộc; Ất chuyên trấn giữ ở Mão, đều nắm xuân lệnh, mà khí đoạt Đông phương. Thìn là góc Đông Nam cũng là ranh giới giao tiếp hai mùa Xuân Hạ, nhận khí không thuần, bẩm mệnh không đồng nhất, cho nên có tên gọi là Tạp Khí vậy, Sửu Mùi Tuất cũng vậy. Còn xem để luận Lục Giáp như thế nào, ví dụ như nhật can là Giáp, mà được tháng Sửu, ở trong đã có Quý, Tân là Chính Quan, Quý là Ấn thụ, Kỷ chính là Chính Tài, không biết dụng như thế nào là phúc, cần ở trong tứ trụ xem thấu ra chữ gì, tùy theo chỗ xuất ra mà nói cát hung.

Giống như phép nói ở trước, nhưng trong khố vật đều bế tàng, cần đợi có chìa khóa mở then chốt, mới nói phát phúc. Chỗ nói chìa khóa mở khóa, là vật gì vậy? Chính là hình xung phá hại vậy, như trong tứ trụ vốn có hình xung phá hại, lại hành vận khí như vậy, thì hình xung phá hại đa số trái lại làm tổn thương phúc. Đại để Tạp khí cần Tài nhiều, liền là quý mệnh. Nếu năm giờ đừng nhập cách khác, thì nên lấy nó mà đoán. Bởi vì chỗ này chính là Thiên Địa tạp khí, không thể thuần nhất, cho nên thiếu lực vậy. Ngoài ra cách chuyên ở năm giờ là trùng lắp, xem mệnh cần phải tra xét khinh trọng, để lấy họa phúc. Trước tiên luận trọng, sau mới nói khinh, bách phát bách trúng vậy. Mặt khác nên lấy loại này mà nói.

Lời phê

Thi quyết Tạp khí:

Tạp khí Quan tinh ở nguyệt cung,

Thiên can thấu ra mới là Cương,

Tài nhiều Quan vượng cần xung phá,

Thiết kị can chi tàng áp chế.

Luận Nhật Quý

Nhật quý, tức là Giáp Mậu kiêm loại Sửu Mùi. Chỉ có 4 ngày: Đinh Dậu, Đinh Hợi, Quý Tị, Quý Mão mà thôi, rất sợ hình xung phá hại. Kinh nói: Sùng là báu vật, Kỳ là quý vậy, cho nên quý nhân sợ tam hình lục hại vây. Quý thần nên tụ ở ngày, ngày cùng vận hành sợ Không vong cùng vận hành thái tuế, hơn nữa hội thì không nên có Khôi Cương. Chủ người thuần túy có nhân đức, có sắc đẹp, không kiêu ngạo, hoặc ở trước phạm hình thì là bần tiện. Hình xung quá nặng, quý nhân sinh phẫn nộ, trái lại là thành họa, không thể không Sát. Nhật quý có phép giờ khác nhau, phải phân ra ngày đêm quý. Ngày phải ngày quý, đêm phải đêm quý vậy.

Lời phê

Quyết viết:

Can chi Nhật quý cùng một vị,

Không vong đại kị mang Quan xung,

Nhân từ tích đức nhiều sắc đẹp,

Hội hợp Tài tinh Không chẳng Không.

Phép lấy Bính Đinh ngôi Hợi Dậu,

Nhâm Quý Mão Tị tàng bốn ngày.

Luận Nhật Đức

Nhật Đức có 5 ngày: Giáp Dần, Mậu Thìn, Bính Thìn, Canh Thìn, Nhâm Tuất là vậy. Nên phúc nhiều mà kị hình xung phá hại, Ác sát Quan tinh, kị Tài vượng, chẳng những thêm hội hợp Không Vong còn kị Khôi Cương, kể ra chỗ này chính là cách đại kị vậy. Đại để ngày Nhật Đức chủ người có tính cách từ thiện. Nhật Đức đều nhiều phúc tất hùng hậu, vận hành thân vượng, rất là tuyệt đối. Nếu có Tài Quan đến thêm, thì tìm cách khác, chính là có thể miễn họa không lớn. Nếu khí vượng đã suy, vận đến Khôi Cương, tất phải chết vậy. Hoặc là không phát phúc, vận tới Khôi Cương, tức là thể cách tốt, đền phòng sinh họa hoạn. Một khí thoát khỏi chỗ này, tất có thể tái phát, cuối cùng lực nhỏ vậy, không thể không biết vậy.

Lời phê

Thi quyết:

Không Mậu Canh Thìn cung Nhật Đức,

Giáp Dần Mậu Bính phải cưỡi Thìn,

Vận tiến Tân Sửu tâm từ thiện,

Nhật Đức chỗ nhiều phúc tự hồng.

Kị hình xung phá hại tổn phúc trạch.

Luận Nhật Nhận

Nhật Nhận và Dương Nhận như nhau, Nhật Nhận có 3 ngày là Mậu Ngọ, Bính Ngọ, Nhâm Tý vậy. Cùng với Dương Nhận phép luận giống nhau, không hỷ hình xung phá hại, không hỷ hội hợp, kiêm thích Thất Sát, cần hành đến đất Quan liền thành quý mệnh. Nếu trong tứ trụ một khi đến hội hợp, tất chủ gặp họa. Người có mắt to râu dài, tính cương nghị quả quyết, không có lòng trắc ẩn ân huệ, có ý hà khắc bất chấp.

Tam hình, tự hình, Khôi Cương đầy đủ, phát tài nơi chiến trường. Hoặc như vô tình hoặc như Tài vượng, thì cũng chủ hung, hoặc có cứu thần, trước tiên cần phải xem kĩ. Như hình hại đều đủ, các loại đều đắc địa, quý không thể nói vậy. Riêng Dương Nhận lấy trụ giờ mà nói, tứ trụ không nên nhập đất Tài, sợ xung Dương Nhận. Ví dụ như ngày Mậu Nhận ở Ngọ kị hành vận Tý Chính Tài. Nhâm Nhận ở Tý, kị hành vận Ngọ Chính Tài. Canh Nhận ở Dậu, kị hành vận Mão Chính Tài. Ngày Giáp hành vận Tị Ngọ cùng Thìn Tuất Sửu Mùi Chính Tài thì không ngại, kị Dậu vận. Ngày Bính Nhận ở Ngọ, hành vận Thân Dậu Canh Tân Sửu không ngại, kị Tý vận. Đại để Dương Nhận cần thân vượng, hỷ có vật để khử. Kinh viết: Người có người quỷ, vật có vật quỷ. Gặp là tai họa, khử đi là phúc.

Ví dụ như mệnh Cát Tham Chính:

Nhâm Thân, Nhâm Tý, Mậu Ngọ, Ất Mão.

Ngày Mậu Nhận ở Ngọ, hỷ gặp giờ Ất Mão, có Chính Quan chế phục khử mất, cho nên là phúc vậy.

Lời phê

Thi quyết:

Nhật Nhận vẫn giống như Dương Nhận,

Quan tinh Thất Sát hỷ giao phùng,

Tài nếu nhược cũng không hại Kiếp,

Trên chi hình xung lập vũ công.

Nhật Nhận chủ khắc vợ, ở trụ giờ là khắc con, vận xung thì gặp tai họa nhiều, cùng gặp Ác Sát, tất hung tử.

Luận Khôi Cương

Nói về Khôi Cương có 4 ngày: Nhâm Thìn, Canh Tuất, Canh Thìn, Mậu Tuất là đúng. Như vị trí ngày đến càng nhiều, chắc chắn là phúc. Vận hành thân vượng, phát phúc trăm điều; một khi thấy Tài Quan, họa hoạn lập tức đến. Chủ người có tính cách thông minh, văn chương chấn phát, lâm sự quyết đoán, duy chỉ là có tính hiếu sát. Nếu tứ trụ có Tài cùng Quan hoặc mang hình sát, họa không thể nói. Nếu chỉ có ở ngày, xung quá nhiều, chắc chắn là kẻ tiểu nhân, hình phạt không dứt, cùng tận xương tủy. Vận đến xứ Tài Quan vượng, cũng đề phòng tai họa.

Lời phê

Thi quyết:

Đại để ngày tứ trụ cùng nhiều,

Quý khí tức đến ở trong này,

Nhật chủ chỉ sợ lo xung khắc,

Tài Quan hiển lộ họa vô cùng.

Luận Kim Thần

Nói về Kim thần, chỉ có 3 giờ là Quý Dậu, Kỷ Tị, Ất Sửu. Kim thần chính là thần phá bại, phải chế phục, nhập vào đất hỏa là thắng. Như trong tứ trụ lại mang Dương Nhận Thất Sát, là chân quý nhân vậy. Đại để là rất uy mãnh, lấy cường bạo thanh uy lực, tùy tiện không chuyên nhất, người thích hợp vũ lực. Cho nên chắc chắn là hung bạo như Hổ cử động, bầy thú thấy là khiếp sợ, trước uy đức vậy. Nhưng quá cương thì tất gãy, không có để chế, thì quá mãnh liệt là không tốt, sao lấy ở trên đạo lý trung hòa. Cho nên có viết Cương, khi thuần phục dẫn tới điều hòa, đến nơi phúc lộc. Tuy nhiên, người có tính cương quyết mới minh mẫn, không thể thuần phục thì dẫn tới cố chấp. Vận tới đất hỏa, tứ trụ có hỏa cục, liền thành quý mệnh. Sợ nhất đất thủy, thì không thành phúc vậy.

Lời phê 】Ngày Giáp Ngọ nếu thấy Kim thần, Sát không ở chân quý nhân, trong vận hỏa mộc tất phát phúc, như gặp kim thủy tất thương thân. Kim thần gặp hỏa quý không nghi ngờ, bởi vì hỏa than đá thì sát hoàn toàn không thể có, vận đến đất hỏa tự nhiên phát phúc, gặp Quan xuất ra giàu có vô cùng. Chỗ này trụ giờ thấy là tốt, hỷ hỏa có công trợ giúp phát phúc.

Luận Thời Mộ

Nói luận về Thời Mộ, là luận giờ Tài Quan mộ khố vậy. Phải hình xung phá hại để mở khóa, người chắc chắn khó phát ở thiếu niên. Kinh viết: Thiếu niên không phát người trong khố. Cũng sợ có vật để áp chế, như Đinh dụng thần là Quan khố, chỗ khác có loại Mậu Thìn áp chế, thì Đinh không thể có Quan vậy, như vậy khó là mệnh tốt. Tất là có vật để phá Mậu, dù có được phát phúc cũng ít. Kinh viết: Quỷ nhập trong mộ, nguy hiểm là rất nghi ngờ, nếu thường chỉ có một loại này, thì cũng có tài năng. Chỗ này là nói bí mật, không thể coi thường mà tiết lộ vậy.

Lời phê

Thi quyết:

Cung thủy lấy tuế luận trụ giờ,

Thiếu niên hình xung thân có phát;

Vận hành xung hình chịu áp chế,

Tất nhiên thiếu niên người không phát.

Bắc phương trên Quý gặp Hà Khôi,

Tuế hoặc gia lâm giờ đại cát,

Tài sao suy tải đầy kim ngọc,

Ưu du xử thế phúc tương tùy.

**************************************

18 Nội cách

Chính Quan cách

Là trụ tháng có Quan tinh vậy. Trụ giờ kiêm có Tài tinh, là chân quý nhân vậy. Sợ tương xung, kị thấy Thương quan Thất Sát, đại vận cũng vậy. Hỷ Ấn thụ, hỷ thân vượng, hỷ Tài tinh, tuế vận cũng vậy.

Quan tinh cần lộ ra, chớ ẩn nấp. Giống như là Quan, hiển dương uy đức, thì quốc gia sử dụng, mới là đại trượng phu. Nếu bị người áp chế, thì là thần bề dưới, chẳng lẻ không phải tiểu nhân. Chính khí Quan tinh, thiết kị hình xung, nhiều thì là luận Sát, một vị là chân quan. Quan tàng Sát ít, lộ Sát thì không chân ( ý là thăng quan). Trước mắt thì là phá, việc e không thành.

Vương Tri phủ: Ất Mùi, Ất Dậu, Giáp Tý, Bính Dần ( Tân là Quan )

Kim Thừa tướng: Ất Mão, Mậu ý, Bính Tý, Canh Dần ( Quý là Quan )

Kim Trạng nguyên: Ất Mão, Đinh Hợi, Đinh Mùi, Canh Tuất ( Nhâm là Quan )

Tiết Tướng công: Giáp Tý, Nhâm Thân, Ất Tị, Mậu Dần ( Canh là Quan )

×××, Nhâm Dần, Nhâm Dần, Kỷ Mão, Nhâm Thân ( Giáp là Quan )

Phạm Thái phó: Đinh Sửu, Nhâm Dần, Kỷ Tị, Bính Dần ( Giáp là Quan )

Chu Thị lang: Ất Mão, Quý Dậu, Giáp Thìn, Bính Dần ( Tân là Quan )

Trần Tự thừa: Ất Dậu, Tân Tị, Tân Mùi, Mậu Tý ( Bính là Quan )

Lý Tri phủ: Đinh Dậu, Bính Ngọ, Nhâm Dần, Giáp Thìn ( Tân là Ấn, Kỷ là Quan )

Trần Thị lang: Quý Mùi, Ất Mão, Mậu Dần, Nhâm Tý ( Ất là Quan )

【Lời phê 】 Vương Tri phủ chính là tháng 8 Quan tinh, không có Mão Đinh khắc phá. Trần Tự thừa là ngày Tân giờ Mậu Tý không có Quan tinh, lấy Lục Âm Triều Dương luận. Trụ năm Quan tinh là Tuế Đức, hỷ gặp Tài đến chỗ này, không gặp ngôi Thất Sát Thiên Quan, không hình không xung là đại cát xương.

Tạp khí Tài Quan cách ( Thìn Tuất Sửu Mùi là mộ vậy)

Kinh viết: Tài Quan Ấn thụ đầy đủ, tàng trử ở trong tứ quý, là Thìn Tuất Sửu Mùi vậy.

Như Quan lộ, Ấn lộ, Tài lộ thì không ngại vậy. Như cung Thìn thì có Ất mộc, Quý thủy, Mậu thổ; cung Tuất thì có Tân kim, Đinh hỏa, Mậu thổ; cung Sửu thì có Quý thủy, Tân kim, Kỷ thổ; cung Mùi thì có Ất mộc, Đinh hỏa, Kỷ thổ vậy.

Vương Hi Chi: Ất Mão, Quý Mùi, Nhâm Tý, Tân Sửu ( Đinh là Tài, Kỷ là Quan, Tân là Ấn )

Lý Liễu Đế: Mậu Tý, Ất Sửu, Ất Mùi, Tân Hợi ( Quý là Tài )

Hoàng Trạng nguyên: Nhâm Tý, Giáp Thìn, Kỷ Mão, Nhâm Thân ( Nhâm là Tài )

Tuyên Tham chính: Kỷ Mão, Tân Mùi, Nhâm Dần, Tân Hợi ( Kỷ là Quan )

Trương Tham Chính: Bính Dần, Mậu Tuất, Tân Dậu, Mậu Tý ( Canh là Quan, Giáp là Tài )

Dương Hà Vương: Nhâm Tý, Đinh Mùi, Canh Tuất, Nhâm Ngọ ( Nhâm là Tài )

Lâm Thị lang: Đinh Sửu, Quý Sửu, Kỷ Dậu, Mậu Thìn ( Quý là Tài )

Tần Long Cương: Kỷ Mão, Đinh Sửu, Bính Dần, Canh Dần ( Tân là Tài )

Đặng Tri phủ: Quý Tị, Bính Thìn, Bính Ngọ, Quý Tị

Tần Thái sư: Canh Ngọ, Kỷ Sửu, Ất Mão, Nhâm Ngọ

Phùng Điện sư: Giáp Tý, Mậu Thìn, Ất Mão, Bính Tý ( Mậu là Tài )

【Lời phê 】

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tứ quý,

Tài Quan Ấn thụ cư tạp khí,

Can đầu thấu ra cách là chân,

Chỉ dụng Tài nhiều là tôn quý,

Tạp khí theo đến tự không thuần,

Gặp dưới thấu ra mới là chân,

Thân cường Tài vượng sinh Quan lộc,

Vận thấy xung hình xếp báu vật.

Trụ tháng Thiên Quan cách

Hỷ thân vượng, sợ nhiều xung, là người trọng nhân tính, tính cố chấp không phục. Giờ có Thiên Quan nhiều cũng vậy. Hỷ thấy Dương Nhận sát, trụ tháng Thiên Quan dụng địa chi, chỉ cần một vị, cần hành vận Thiên Quan. Nếu có Giáp Tý, trụ năm giờ lại có, lại cần hành vận Thiên Quan vượng, cũng không nên hành đến đất Quan, tuế quân cũng như vậy, là thái quá mà trái lại thành họa. Cần phải hành vận chế phục đắc địa mới phát, cùng với giờ có Thiên Quan là tương tự.

Thẩm Lang Trung: Bính Tý, Giáp Ngọ, Tân Hợi, Tân Mão ( Đinh là Thiên Quan )

Hà Tham chính: Bính Dần, Mậu Tuất, Nhâm Tuất, Tân Sửu ( Mậu là Thiên Quan )

Mã Tướng sĩ: Bính Dần, Canh Dần, Mậu Thìn, Canh Thân ( Giáp là Thiên Quan )

Nhạc Tổng chế: Quý Mão, Đinh Tị, Nhâm Dần, Giáp Thìn ( Mậu là Thiên Quan )

Tưởng Trạng nguyên: Quý Mão, Ất Mão, Kỷ Tị, Ất Sửu ( Ất là Thiên Quan )

Vương Trấn Phủ: Mậu Dần, Quý Hợi, Bính Thân, Mậu Tý ( Nhâm là Thiên Quan )

( Vương Trấn Phủ, cách này có Sát thần thái trọng, hỷ hành Đông phương vận. Thân suy, bát tự thủy nhiều hỏa ít, chỉ có hỷ cung Dần hỏa vượng, chính là năm có một hỏa, vận hành Mão hợp tuất hỏa cục có ích gì? Lại thuộc thấp mộc, không sinh hỏa không có sáng, thì mộc tự vượng không thể sinh hỏa, thí dụ như thủy mộc tung hoành ở trên lò lửa, chỗ này hỏa dẫu có lực hung hãn, cũng không có được thịnh, nói để trong vận Đinh Mão mà chết, tức là người sinh Lục Bính có nhiều Hợi Tý).

Hoàng Thị Lang: Đinh Hợi, Tân Hợi, Bính Thân, Canh Dần ( Nhâm là Thiên Quan )

Lưu Vận Ti: Giáp Dần, Ất Hợi, Giáp Tuất, Bính Dần ( Nhâm thủy là Thiên Quan, Mậu thổ là Tài thần, Bính hỏa là Thực thần )

Phổ Vương: Bính Thìn, Quý Tị, Nhâm Tuất, Nhâm Dần ( Mậu thổ là Thiên Quan )

Triệu Thị Lang: Bính Ngọ, Bính Thân, Giáp Dần, Đinh Mão ( Canh kim là Thiên Quan, Bính hỏa là Thực thần )

Phiền Sử Mệnh: Mậu Thìn, Tân Dậu, Ất Tị, Đinh Sửu ( Tân kim là Thiên Quan )

Thiếp Mộc Thừa tướng: Mậu Thân, Tân Dậu, Bính Thân, Canh Dần ( Tân kim là Thiên Quan )

Lời phê】 Tức là Thất Sát vậy, chỉ cần nhật can sinh vượng mới được, đảm nhận được trụ là phúc, thân nhược nên không trụ được thì là họa. Luận mệnh không hỏi là cách nào, nhưng thấy ở trên Sát không tấn công dụng thần, dù có Sát cũng có thể phát phúc. Mệnh Thiếp Mộc Thừa tướng, Sát Quan thái trọng, hỷ gặp giờ Dần tương xung, hóa Sát sinh thân, lại được hành vận đắc lực, cho nên quý vậy.

Thời thượng Thiên Tài cách

Như Thời thượng Thiên Tài cùng với Thời thượng Thiên Quan là giống nhau, chỉ cần trụ giờ có một vị, không cần nhiều. Còn lại 3 trụ khác không nên thấy tiếp, lại sợ xung, cùng với trụ tháng có Thiên Quan giống nhau. Thiên Tài cần hành vận Tài vượng.

Lời phê 】 Thời thượng Thiên Tài một vị là tốt, không gặp xung phá thì hưởng vinh hoa, bại thời vận Kiếp Nhận không có Mã, phú quý song toàn sánh Thạch gia. Như:

Cao Thị Lang: Giáp Thân, Canh Ngọ, Nhâm Dần, Nhâm Dần ( Giáp là Thực Thần )

Lý Tham Chính: Canh Dần, Ất Dậu, Giáp Tý, Mậu Thìn

Ngô Tướng công: Quý Hợi, Ất Mão, Ất Mùi, Nhâm Ngọ

Tằng Tham Chính: Ất Mùi, Giáp Thân, Bính Thân, Canh Dần

Trần Thượng thư: Quý Mão, Mậu Ngọ, Đinh Sửu, Tân Sửu

Tằng Tri phủ: Mậu Tý, Tân Dậu, Mậu Thân, Nhâm Tý

Hình Ti Lệnh: Giáp Ngọ, Đinh Sửu, Kỷ Mùi, Quý Dậu

Hầu Tri Phủ: Ất Dậu, Ất Mão, Tân Mão, Tân Mão

Lời phê】 Trong mệnh Hầu Tri phủ, can chi đều trùng thấy, huynh đệ phân đoạt, chỉ vì Tài nhiều Tài vượng, gốc can Tân nhược không kham nỗi, cho nên phân chia đi mà được trung hòa.

Như Thời thượng Thiên Tài và Thời thượng Thiên Quan là giống nhau, chỉ cần trụ giờ một vị không nên nhiều ở ba xứ, không nên thấy Tài tiếp tục, lại sợ xung, cùng với trụ tháng Thiên Quan cách giống nhau. Thiên Tài cần vận Tài vượng vận.

Cao Thị Lang: Nhâm Ngọ, Nhâm Dần, Canh Tý, Giáp Thân ( Nhâm là Thực thần )

Hầu Tri phủ: Ất Dậu, Kỷ Mão, Tân Mão, Tân Mão

Lưu Trung Thư: Đinh Hợi, Mậu Thân, Nhâm Thân, Bính Ngọ

Vương Bộ Sư: Canh Ngọ, Mậu Tý, Quý Mão, Đinh Tị

Lời phê 】 Thi quyết:

Lệch tháng là Tài của mọi người,

Rất sợ can chi Tỉ đến nhiều.

Thân cường Tài vượng đều là phúc,

Nếu quy Quan tinh là chân tai.

Giờ Chính Tài cùng Chính Quan giống,

Không gặp phá hại và tương xung.

Trong trụ không thấy Tài Quan Sát,

Phòng giờ tìm đến trong cách này.

Thời thượng nhất vị quý

Nói về một vị quý, là chỉ trụ giờ, chỉ thấy một vị mới là quý, hoặc vừa có ở năm tháng ngày, trái lại là người lao khổ vậy. Như Thời thượng ( trụ giờ) có một vị Thất Sát, bản thân cần phải tự vượng. Mà có 3 xứ chế phục nhiều thì cần hành vận Thất Sát vượng, hoặc có tam hợp đắc địa mới phát. Nếu không có chế phục, thì phải hành vận chế phục mới phát. Hoặc gặp Sát vượng mà không có lấy chế, thì sinh họa vậy. Trụ tháng có Thiên Quan lại sợ xung, cùng với Dương Nhận là giống nhau. Trụ giờ có Thiên Quan thì không sợ xung, cùng với Dương Nhận là giống nhau. Lại cần ngày sinh của bản thân phải tự vượng, như ngày Giáp Ất sinh ở tháng 1 và 2 là đúng. Giờ Thiên Quan là người trọng nhân tính, kiên cường cố chấp không khuất phục, tháng có Thiên Quan nhiều cũng vậy.

Lời phê 】《 Tứ Ngôn Độc Bộ》nói: “Sát trọng thân khinh, cuối cùng tổn thân, một khi chế phục, lại thành gốc quý.

Chiêm Thừa tướng: Nhâm Ngọ, Canh Tuất, Giáp Ngọ, Canh Ngọ ( Canh kim là quý )

Sử Ngụy Vương: Giáp Thân, Bính Dần, Ất Mão, Tân Tị ( Tân kim là Quý )

Lý Thừa Tướng: Kỷ Tị, Đinh Mão, Bính Ngọ, Nhâm Thìn ( Nhâm thủy là Quý )

Trịnh Thượng thư: Canh Dần, Nhâm Ngọ, Mậu Dần, Giáp Dần ( Nhâm thủy là Quý )

Tống Thượng thư: Canh Thìn, Bính Tuất, Mậu Tuất, Giáp Dần

Trang Thượng thư: Tân Tị, Tân Sửu, Kỷ Mão, Ất Hợi ( Ất mộc là quý )

Du Thị lang: Nhâm Dần, Quý Sửu, Kỷ Sửu, Ất Hợi ( Thời thượng Ất mộc là quý )

Lưu Đô Thống: Đinh Hợi, Ất Mùi, Ất Tị, Tân Tị ( Thời thượng Tân kim là quý )

Lâu Tham Chính: Kỷ Tị, Nhâm Tý, Quý Mão, Kỷ Mùi

Hà Phán Cục: Canh Thìn, Đinh Hợi, Quý Hợi, Kỷ Mùi

Lời phê】 Mệnh Chiêm Thừa tướng, Giáp mộc tử ở Ngọ, huống chi sinh vào tháng 9, nhật chủ lại nhược, sao mà thủ. Hành Bắc phương gặp thủy để sinh nhuận, hành Đông phương có thể dụng mộc, địa chi không có Sát thì lấy được khí trung hòa, ở trong đó cũng quý vậy. Còn lại nên lấy sinh vượng mà suy, diệu lý trong đó không thể không biết.

Thiên Quan diệu hỷ gặp Thực thần,

Ấn thụ thân cường phúc lộc dày.

Nếu thấy Chính Quan cùng dụng Kiêu,

Lại gặp tử tuyệt họa nặng trùng.

Thiên Quan có Ấn hóa thành quyền,

Vận trợ thân cường phúc lộc đủ.

Thiết kị thân nhược cùng hình hại,

Cả đời bệnh họa gặp liên miên.

Phi Thiên Lộc Mã cách

Cách này chỉ lấy 2 ngày Canh Nhâm có chữ Tý nhiều, xung Ngọ trong có Đinh Kỷ là Quan Tinh. Cần trong tứ trụ có chữ Dần, cùng chữ Mùi hoặc chữ Tuất, có được một chữ hợp lại mới tốt. Như ngày Lục Canh, ngày Lục Nhâm, lấy chữ Tý xung chữ Ngọ. Ngày Canh lấy chữ Tý xung chữ Ngọ trong có Đinh hỏa là Quan tinh, nếu trong tứ trụ có chữ Đinh cùng chữ Ngọ, thì giảm nửa phần, Tuế quân cũng kị. Như ngày Lục Nhâm lấy Tý xung Ngọ trong có Kỷ thổ là Quan tinh, nếu trong tứ trụ có chữ Kỷ cùng chữ Ngọ, thì giảm nửa phần. Tuế quân, đại vận cũng phải kị.

Kiều Thừa tướng: Bính Tý, Đinh Dậu, Canh Ngọ, Bính Tý (Tý xung Ngọ Đinh hỏa )

Thái Quý phi: Kỷ Mùi, Bính Tý, Canh Tý, Bính Tý ( xung Tý là Quan )

Chính Sử: Nhâm Tý, Nhâm Tý, Nhâm Tý, Nhâm Dần ( lấy Tý xung Ngọ có Kỷ thổ là Quan )

Tằng Thượng thư: Nhâm Tý, Nhâm Tý, Nhâm Tý, Nhâm Dần

Mệnh Hành khất: Nhâm Tý, Nhâm Tý, Nhâm Tý, Bính Ngọ ( Chỗ này đã lấy Tý xung Ngọ trong có Kỷ thổ là Quan tinh, lại không hợp thấy giờ Bính Ngọ là xung Quan tinh, cho nên là cực bần, là mệnh ăn mày vậy. )

Lời phêThi quyết:

Nhật chủ Canh Ngọ gặp trùng Tý,

Đảo xung Lộc Mã hiệu Phi Thiên,

Không bằng kim mộc nhiều thanh quý,

Vận nhập Nam phương hư gặp nghịch.

Canh Ngọ đội Tý đến xung Mã,

Tân Quý tìm Tỵ phải nhiều Hợi,

Ngày Bính bầy Mã xung Tý Ngọ,

Gặp Đinh nhiều Tỵ thấy Song Ngư.

Cách bổ sung:

Lấy ngày Tân Quý dụng chữ Hợi xung chữ Tị trong có Bính Mậu là Quan tinh, nếu tứ trụ có chữ Thân, cùng chữ Dậu hoặc chữ Sửu, được một chữ có thể hợp là tốt. Vì dụ như ngày Lục Quý lấy Hợi xung Tị, nếu tứ trụ có chữ Tuất, thì Hợi thủy không thể khử xung vậy, tuế quân, đại vận cũng kị. Như ngày Lục Tân lấy Hợi xung Tị trong có chữ Bính là Quan tinh, nếu trong tứ trụ có chữ Bính cùng chữ Tị, thì giảm phân nửa, tuế quân đại vận cũng kị. Vận nối liền Thái tuế thì nhẹ, thấy tiếp tục chữ Tị là có họa ngay vậy.

Lương Thừa Tướng: Đinh Mùi, Quý Mão, Quý Hợi, Quý Hợi ( Hợi xung Tị trong có Mậu thổ là Quan )

Tào Lang Trung: Nhâm Thân, Tân Hợi, Quý Hợi, Nhâm Tý ( Hợi xung Tị trong có Mậu thổ là Quan )

Lời phêThi quyết:

Vận Tân Quý người xưa có nói,

Nên gặp hợp Tị hiệu Phi Thiên,

Ngoại trừ Thiên Cương gặp tiểu cát,

Tiêu tai nhiều phúc lợi tự miên.

Đảo Xung cách

Phàm trong tứ trụ gốc không có Quan tinh, mới dụng cách này. Lấy ngày Bính làm chủ, dụng chữ Ngọ xung Tý trong có Quý thủy, ngày Bính được Quan tinh. Không luận hội, nếu trong tứ trụ có chữ Mùi, thì Ngọ không thể xung khử vậy. Đại kị chữ Quý cùng chữ Tý, thì giảm phân nửa, tuế quân đại vận cũng vậy.

Thi quyết:

Ngày Bính cần gặp chữ xung Ngọ,

Ngọ có Tý xung cát tương phùng.

Không nên luận hội can sợ thủy,

Tý Quý tương phùng lại thấy hung.

Ngọ xung Tý Quý là Quan tinh,

Công danh vinh đạt hiển thần kinh.

Tối kị cung Mùi kết bạn hợp,

Cả đời hư lợi lại hư danh.

Lời phê】Cách này cần trong tứ trụ hoàn toàn không có hợp Quan tinh, là dụng hợp thời được Quan đến lấy quý, nếu thấy đầy chỗ này thì không nhập cách này.

Cách bổ sung:

Chỗ này lấy ngày Đinh làm chủ, dụng Tị xung Hợi cung Nhâm thủy là Quan tinh, không luận hợp. Nếu trong tứ trụ có chữ Thìn, thì Tị không thể xung vậy. Đại kị trong tứ trụ có chữ Nhâm cùng chữ Hợi, thì giảm nửa số, tuế quân đại vận cũng giống vậy. Vận nặng tuế quân nhẹ, lại thấy Hợi Tân, thì lấy họa vậy.

Thi quyết:

Ngày Đinh lấy Tị nhiều xung Hợi,

Nhâm thủy đến dừng ở trong trụ.

Nếu như địa chi xuất chữ Thìn,

Tất là cùng đến trói buộc quý.

Thi quyết:

Ngày Đinh gặp nhiều trùng chữ Tị,

Trong cục không thủy cùng giống quý.

Cách này Thương quan nên thương tận,

Thấy Hợi hình xung số tất không.

Thi Phán Viện: Tân Dậu, Quý Tị, Ất Tị, Tân Tị (Lấy Tị xung Hợi có Nhâm thủy là Quan tinh)

Nhạc Tổng quản: Tân Tị, Giáp Ngọ, Đinh Mùi, Ất Tị (lấy Tị xung Hợi có Nhâm thủy là Quan tinh)

Ất Tị Thử quý cách

Cách này giống như bên trong tháng có Quan tinh thì không sử dụng, rất sợ có chữ Ngọ xung. Giờ Bính Tý, chữ Bính là tốt, gọi là Tụ quý vậy. Hoặc viết: Trong trụ có chữ Canh, chữ Tân, cùng chữ Thân, chữ Dậu, chữ Sửu bên trong có Canh Tân kim thì giảm phân nửa, tuế quân đại vận cũng vậy. Lại viết: Trong tứ trụ gốc không có Quan tinh, mới sử dụng cách này. Như:

Viên Phán Viện: Giáp Dần, Mậu Thìn, Ất Hợi, Bính Tý. Là quý nhân.

Xa Ngự Đới: Mậu Tý, Quý Hợi, Ất Mùi, Bính Tý. Là Quý nhân.

Lời phêThi quyết:

Âm mộc thiên can giờ Bính Ngọ,

Ất Tị là kỳ phải phú quý,

Không xung Quan Sát mới là tốt,

Thiếu niên thanh danh đạt phượng trì.

Lấy nhật can làm chủ, lấy quý ở trụ giờ.

Lục Ất Thử quý cách

Cách này lấy chữ Tý ám hợp chữ Tị, Tị động hợp Thân, Canh lộc ở Thân, thì sử dụng Canh Quan, được dẫn xuất Canh kim mà dụng sự. Hỷ ở giờ Hợi Mão là tốt, cùng kị ngày Dần, không có xung hại thương phá hai chữ Tý Ất cùng không có Tài Quan, tức là ngày Lục Ất giờ Tý. Gốc có Quan tinh thì luận Quan, kị Dần Ngọ Tuất xung, thấy chữ Canh Thân Tân Dậu Sửu, nếu có một vị thì giảm phân nửa, tuế quân cũng vậy. Cũng kị tháng thông Tài Quan, không sử dụng lục cách, đại vận giống vậy.

Hợp Lộc cách

Cách này lấy ngày Lục Mậu làm chủ, lấy giờ Canh Thân hợp Mão trong có Ất mộc là Quan tinh của Mậu. Tứ trụ có chữ Giáp Ất, chữ Bính, chữ Tị, hình hại chữ Thân, chữ Bính hại chữ Canh, thì giảm nửa số, tuế quân và đại vận giống vậy.

Lý Vũ Dực: Bính Thân, Canh Tý, Mậu Thân, Canh Thân

Cam Thái úy: Canh Ngọ, Kỷ Sửu, Mậu Ngọ, Canh Thân

Hoàng Thị Lang: Kỷ Mùi, Bính Tý, Mậu Tuất, Canh Thân

Hoàng Xuân Phường: Nhâm Ngọ, Kỷ Dậu, Mậu Ngọ, Canh Thân

Lấy Canh hợp Mão có Ất mộc là Quan của ngày Mậu thổ.

Lời phê 】Cách này lấy sinh mùa Thu Đông là tốt, mệnh Lý Vũ Dực dù là nhiều chữ Canh, nhưng bị can năm xuất ra chữ Bính làm tổn thương tú khí, hành vận Ất Tị không hợp, lưu niên lại thấy Nhâm Tuất cho nên mất chức vậy.

Bổ sung Hợp Lộc cách

Ngày Lục Quý làm chủ, hỷ gặp giờ Canh Thân, dụng giờ Thân hợp Tị trong có Mậu thổ, ngày Quý được Quan tinh. Nếu trong tứ trụ có chữ Mậu cùng chữ Tị, hình hại giờ Thân, hoặc chữ Bính làm tổn thương giờ Canh Thân, thì giảm phân nửa. Tuế quân, đại vận cũng như vậy.

Trình Đồng Tri: Quý Dậu, Ất Mão, Quý Sửu, Canh Thân

Từ Điện Viện: Quý Dậu, Ất Mão, Quý Dậu, Canh Thân

Triệu Thừa tướng: Ất Dậu, Quý Mùi, Quý Mùi, Canh Thân

Dương Phủ An: Nhâm Ngọ, Canh Tuất, Quý Sửu, Canh Thân

Thi quyết:

Nhật can Quý thủy giờ Canh Thân,

Sinh ở Thu Đông người phú quý.

Đại kị Dần đến hại tú khí,

Nếu sinh Xuân Hạ họa đến ngay.

Tý diêu Tị cách

Cách này lấy hai chữ Giáp Tý, Quý thủy ở trong Tý diêu hợp ( hợp xa) Mậu thổ ở trong Tỵ, trong Tỵ có Mậu Bính đồng cung, Bính động đến hợp Tân kim ở trong Dậu, ngày Giáp Tý được Tân kim Quan tinh, thì Tị Dậu Sửu tam hợp Quan lộc; cần hành vận đất Quan vượng, kị trong tứ trụ có Canh Thân Thất Sát, chữ Tân Quan tinh, cùng chữ Thân Dậu Sửu hợp trói trụ, thì Tý không thể đi xa hợp vậy. Nếu có chữ Ngọ xung Tý, thì giảm nửa phần, tuế quân, đại vận cũng như vậy.

Triệu Tri phủ: Bính Dần, Nhâm Thìn, Giáp Tý, Giáp Tý

Người bình thường: Kỷ Sửu, Giáp Tuất, Giáp Tý, Giáp Tý

Lấy chữ Tý hợp bán chữ Sửu, không thể hợp xa Tị động Bính hợp Tân, không quý.

Thi quyết:

Giáp Tý sinh gặp giờ Giáp Tý,

Tý đến hợp xa Tị có Mậu,

Mậu liền động Bính Bính hợp Dậu,

Giáp được Tân Quan liền có quý.

Không hỷ Canh Thân xuất Tân Dậu,

Sửu đến hợp trói cũng không nên,

Chớ có chữ Ngọ cùng xung hại,

Vận nhập đất Quan tất thành quý.

Sửu diêu Tị cách

Cách này chỉ có hai ngày Tân Sửu, Quý Sửu, dụng chữ Sửu nhiều để diêu hợp Tị trong có Bính Mậu, ngày Tân Quý sẽ được Quan tinh, chữ Sửu nhiều mới tốt, nếu trong tứ trụ có chữ Tý hợp bán trụ, thì Sửu không thể đi xa mà hợp được. Cần trong tứ trụ có chữ Thân cùng chữ Dậu, được một chữ là tốt. Như ngày Tân Sửu trong tứ trụ có chữ Bính Đinh cùng chữ Tỵ, chữ Ngọ, thì giảm nửa số, tuế quân đại vận cũng vậy. Ngày Quý Sửu cũng không nên thấy chữ Mậu, chữ Kỷ, chữ Tỵ, chữ Đinh.

Chương Thống Chế: Tân Sửu, Tân Sửu, Tân Sửu, Canh Dần. Lấy chữ Sửu hợp xa chữ Tị trong có Bính hỏa là Quan tinh của Tân.

Diệp Thị Lang: Ất Sửu, Kỷ Sửu, Quý Sửu, Ất Mão. Lấy Sửu diêu Tị trong có Mậu thổ Quan tinh thành quý.

Thi quyết:

Ngày Tân ngày Quý lại gặp Sửu,

Danh gọi Diêu Tị hợp Quan tinh,

Chớ nói không lập Quan tinh vượng,

Không có Quan đến thành khắc chiến.

Lời phê 】Cách này nếu có chữ Hợi cũng không thành, có Quan tinh thì có thể vậy, vì Tị

Nhâm kỵ Long bối cách

Cách này là chữ Thìn nhiều là quý, chữ Dần nhiều là phú. Ngày Nhâm tọa ở trên Thìn thổ, lấy Đinh là Tài, lấy Kỷ là Quan. Ngày Nhâm lấy Thìn xung Tuất trong có Đinh Mậu, ngày Nhâm Thìn sẽ được Tài Quan. Còn Dần Ngọ Tuất tam hợp, hoặc ngày Nhâm tới Dần, lại cần ở trên trụ năm tháng giờ có tụ nhiều chữ Thìn mới có thể dụng. Nếu ngày Nhâm Thìn gặp ở trên trụ năm tháng giờ đều là chữ Dần, chỉ là phú mệnh, để có Ngọ Tuất là Tài đắc địa. Nếu ở trên trụ năm tháng giờ có nhiều chữ Thìn xung, thì xung ra đến Tài, cho nên là quý vậy.

Chư Cát Phán Viện: Mậu Dần, Canh Thân, Nhâm Thìn, Giáp Thìn

Vương Cự phú: Nhâm Dần, Nhâm Dần, Nhâm Thìn, Nhâm Dần. Chính vị Dần nhiều, cho nên phát tài lớn vậy.

Thi quyết:

Ngày Nhâm Thìn lại thấy giờ Thìn,

Năm tháng có Thìn là đứng đầu,

Tứ trụ lại gặp trên Dần vị,

Phát tài phát phúc lưỡng tương nghi.

Nhâm kỵ Long bối tốt phi thường,

Dần nhiều Thìn ít chuyển phát dương,

Đại kị Quan tinh đến phá cách,

Hình xung liền thấy hại thọ nguyên.

Nhâm kỵ Long bối sợ chỗ Quan,

Trùng điệp gặp Thìn quý có thừa,

Nếu như Dần nhiều chữ Thìn ít,

Nên ứng phú cao sánh Đào Chu.

Lời phêKinh viết: Dương thủy trùng điệp gặp nơi thủy, nói là đất Nhâm kỵ Long bối. Kinh lại nói: Nhâm kỵ Long bối gặp Mậu là vô tình, Dần nhiều thì phú, Thìn nhiều thì quý.

Tỉnh Lan xoa cách

Cách này có 3 chỗ Canh Tý, Canh Thân, Canh Thìn, ba chỗ này cần tứ trụ phải có đầy đủ Thân Tý Thìn, không cần đủ 3 chữ Canh, nếu có đủ thì càng tốt. Chỉ cần ngày Canh sinh năm Thân, hoặc tháng giờ có Mậu Tý, Mậu Thìn không sao, nhưng phải đầy đủ có Thân Tý Thìn vậy. Nếu là gặp Bính Tý, thì là Thiên Quan; nếu giờ là giờ Thân, thì là Quy Lộc cách, mà không phải là Tỉnh Lan Xoa vậy. Cách này tứ trụ sợ thấy 3 chữ Dần Ngọ Tuất, thì thành xung hại vậy. Canh dụng Đinh là Quan, lấy Thân Tý Thìn tam hợp xung Dần Ngọ thành hỏa cục, ngày Canh sẽ được Quan tinh. Hành vận như chính khí, nếu hành Đông phương Tài địa hoặc Nam phương đều tốt. Nếu trong tứ trụ có chữ Tỵ, chữ Bính Đinh thì giảm phân nửa, tuế quân đại vận cũng vậy.

Quách Thống chế: Mậu Thân, Canh Thân, Canh Thân, Canh Thìn

Tống Đại phu: Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân, Canh Ngọ (Lời phê: Mệnh này bởi vì hành tuế vận chữ Ngọ, nguyên mệnh trong có Ngọ, cho nên mất chức vợ chết. )

Lời phê】Lấy ngày Canh có Thân Tý Thìn thủy cục, Canh kim có thể sinh thủy, Thân Tý Thìn có tình hợp thủy cục, ví như thành giếng ở trong giếng có chứa nước vậy, cho nên gọi là Tỉnh Lan cách.

Quy Lộc cách

Cách này giả sử người sinh ngày Lục Giáp, được giờ Dần là cách Quy Lộc. Bởi vì Giáp lộc ở Dần, còn lại theo đó mà suy. Nhưng mà tứ trụ không thấy hợp Quan Sát, thấy thì khó quy về vậy. Hỷ hành vận thân vượng, bao gồm cả hành vận Thực thần, Thương quan, Tài, đều cũng có thể phát phúc, sợ xung phá.

Vương Tham Chính: Bính Ngọ, Quý Tị, Giáp Tý, Bính Dần

Lời phê】Nhật lộc quy thời cách rất tốt, sợ Quan sợ Sát, hỷ thân cường, nếu thấy Tỉ kiên phân kiếp lộc, hình xung phá hại thì khó mà đảm đương.

Lục âm triều dương cách

Hỷ hành Tây phương, Đông Nam là thứ, tối kị Bắc phương. Cách này lấy ngày Lục Tân làm chủ, dụng Bính hỏa là Chính Quan, hỷ gặp Mậu thổ, Mậu đến làm động Bính, ngày Tân được Quan tinh. Chữ Tý chỉ cần một vị, nhiều thì không xung. Nếu trong tứ trụ có chữ Bính, chữ Đinh, chữ Ngọ, thì xung Tý không tốt, giảm nửa số, đại vận cũng như vậy.

Tri Viện: Mậu Thìn, Tân Dậu, Mậu Tý, Bính Thìn.

Thái úy: Mậu Thìn, Tân Dậu, Tân Sửu, Mậu Tý

Lời phê】 Tân gặp Mậu Tý rất thích hợp, danh lợi cao đăng, tứ quý sinh mùa thu không có Hợi Tý, chính là vinh hoa phú quý.

Hình Hợp cách

Cách này là người sinh ngày Lục Quý làm chủ, dụng Mậu thổ là chính khí Quan tinh, hỷ gặp giờ Giáp Dần, dụng Dần hình Tị trong có Mậu thổ, ngày Quý được Quan tinh. Như hình Canh Dần không thành ( chỉnh lý đáp án: Ngày Quý không thể có gặp giờ Canh Dần ), duy chỉ có là giờ Giáp Dần, hành vận cùng giống như Phi thiên Lộc Mã. Nếu trong tứ trụ có chữ Mậu, chữ Tị thì giảm nửa phần. Lại sợ Canh Dần tổn thương chữ Giáp, hình chữ Tị, kị chữ Thân, Thì giảm nửa số, tuế quân đại vận cũng như vậy.

Tiết Độ Sử: Kỷ Mùi, Tân Mùi, Quý Hợi, Giáp Dần

Trần Thị Lang: Giáp Tuất, Giáp Tuất, Quý Dậu, Giáp Dần

Thi quyết:

Âm thủy giờ Dần cách chính thanh,

Lại lo Canh khắc không thể hình,

Vận hành nếu không gặp đất Tị,

Phương được thanh cao có lợi danh.

Củng Lộc cách

Cách này chỉ có 5 ngày, kị điền thực, rất sợ xung vị trí củng ngày giờ, lại sợ nhật can trong tứ trụ bị tổn thương. Gặp Sát thì củng không chắc chắn, thì giảm nửa số, tuế quân đại vận cũng giống vậy. Kinh nói : “Củng lộc củng quý, điền thực tắc hung.”

Lưu Tri phủ: Quý Mão, Quý Hợi, Mậu Thìn, Mậu Ngọ ( Mậu lộc ở Tị, Thìn củng Ngọ)

Bạch y nhân: Nhâm Tý, Đinh Mùi, Đinh Tị, Đinh Mùi (Đinh lộc ở Ngọ, Mùi củng Tị, Tý xung )

Cách này có 5 ngày: Ngày Đinh Tị thấy Đinh Mùi, ngày Kỷ Mùi thấy Kỷ Tị, ngày Mậu Thìn thấy Mậu Ngọ, ngày Quý Sửu thấy Quý Hợi, ngày Quý Hợi thấy Quý Sửu. (lưỡng bán bản thân giai thị ngã củng tàng vị, hư trung là tốt, chỉ kị điền thực, càng kị Quan tinh đến khắc phá. )

Củng Quý cách

Lấy nhật can Giáp Dần thủ quý nhân, Giáp Tuất Canh Sửu Mùi là đúng. Cách này chính là củng quý, xem không thấy chữ hình xung, điền thực, vận hành hội hợp, có Ấn Tài là phúc. Cách này có 6 ngày: Ngày Giáp Dần thấy giờ Giáp Tý, ngày Nhâm Thìn thấy giờ Nhâm Dần, ngày Giáp Thân thấy giờ Giáp Tuất, ngày Mậu Thân thấy giờ Mậu Ngọ, ngày Ất Mùi thấy giờ Ất Dậu, ngày Tân Sửu thấy giờ Tân Mão.

Hùng Lang trung: Đinh Tị, Bính Ngọ, Giáp Dần, Giáp Tý

Phạm Đô Sự: Canh Sửu, Kỷ Sửu, Giáp Dần, Giáp Tý

Quý nhân đại kị điền thực vị trí quý, sợ hình xung ngày giờ vị trí củng, lại sợ tứ trụ có Quan xung thân cùng loại Thất Sát, đều không củng trụ, thì giảm phân nửa, tuế quân đại vận cũng vậy. Như Phạm Đô Sự, mệnh không hợp ở trụ năm tháng có chữ Sửu là điền thực, chỉ là áo trắng.

Lời phê】 Giáp Dần, Giáp Tý củng Tân Quan, cách này được xem là củng quý, không thấy chữ hình xung, điền chữ Sửu.

Ấn thụ cách

Cách này đại để chính là sinh vượng, kị tử tuyệt, trong tứ trụ phải có Quan tinh mới tốt. Trụ tháng có Ấn thụ là cần nhất, hành vận Quan Ấn liền phát, thấy Tài vận phá Ấn, lại thành Tham Tài hoại Ấn, Tài vận là bất lợi vậy, tuế quân cũng vậy.

Tri phủ: Ất Hợi, Mậu Tý, Giáp Dần, Giáp Tý

Thị lang: Tân Dậu, Bính Thân, Nhâm Dần, Tân Hợi

Lời phê 】Có Ấn không có Tài mới là phúc, hỷ gặp Quan mà sợ đến Tài, chủ người có túi buộc văn chương giỏi, bước lên thềm vua mà diện kiến.

Tạp khí Ấn thụ cách

Can đầu thấu ra cách là đúng, chỉ hỏi Tài nhiều sao tôn quý? Chính là Thìn Tuất Sửu Mùi vậy, cũng kị Tài, cần nhất là hành Quan vận.

Lữ Thừa tướng: Bính Dần, Tân Sửu, Quý Tị, Quý Hợi

Cát Thị Chiếu: Canh Dần, Bính Tuất, Mậu Tý, Quý Sửu

Lời phê 】Chỗ này chỉ có kị Tài vận.

***********************

Quyển hai (3)

18 Ngoại cách

Lục Nhâm xu Cấn cách

Ví như nhật chủ là Nhâm thủy, thấy nhiều chữ Dần, thì dụng trong Dần có Giáp mộc, ám mời Kỷ thổ là Quan tinh. Bính hỏa mời Tân kim là Ấn thụ, sợ chữ Ngọ, chữ Thân xung, kị Tài Quan, điền thực. Hỷ thân vượng địa, tuế vận giống như vậy.

Dần là phương Cấn thổ, cho nên viết là Xu Cấn. Nói Nhâm lộc ở Hợi, Dần và Hợi hợp, còn gọi là Hợp Lộc, cũng kị phá hại. Vận hành Thân xung hại chữ Dần, không tốt.

Lời phê】 Nhâm Dần, Nhâm Dần, Nhâm Dần, Nhâm Dần, đây là cách Xu Cấn.

Lục Giáp xu Càn cách

Càn là cung Hợi, sinh ngày Lục Giáp, Hợi nhiều là đúng, có Quan Sát thì không phải cách này. Ví dụ như người sinh ngày Lục Giáp, trong trụ phải có chữ Hợi nhiều, chính là vị trí Thiên Môn, nơi thành Bắc cực, Giáp mộc dựa vào để sinh trưởng. Như người sinh ngày Giáp thấy chữ Hợi nhiều, tự nhiên phú quý vậy. Kị có chữ Tị xung. Chỗ này luận Giáp lộc ở Dần, Dần và Hợi hợp, gọi là Hợp Lộc. Kị thấy Tài tinh cùng hai chữ Dần Tị, tuế vận cũng như vậy.

Cận An Bách: Quý Hợi, Quý Hợi, Giáp Tý, Ất Sửu. Đây là cách Xu Càn.

Câu Trần đắc vị cách

Cách này lấy ngày Mậu Kỷ là Câu Trần, gặp Hợi Mão Mùi mộc cục là Quan tinh, Thân Tý Thìn thủy cục là Tài địa vậy. Chính là các ngày Mậu Dần, Mậu Tý, Mậu Thân; Kỷ Mùi, Kỷ Hợi, Kỷ Mão vậy. Kị hình xung, Sát vượng thì trái lại là sinh họa vậy, tuế quân đại vận cũng như vậy.

Đinh Bộ Đốc: Đinh Hợi, Tân Hợi, Kỷ Mão, Mậu Thìn.

Lời phê】 Mậu Kỷ là Câu Trần cục được thanh, Tài Quan gặp nhau hai phương diện rõ ràng, ví dụ như tuế vận không có xung hại, phú quý song toàn phò tá thánh minh.

Huyền Vũ đương quyền cách

Ví dụ như sinh hai ngày Nhâm Quý, gặp Dần Ngọ Tuất hỏa cục là Tài, Thìn Tuất Sửu Mùi là Quan vậy. Chính là Nhâm Dần, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất; Quý Tị, Quý Mùi, Quý Sửu vậy. Kị xung phá, thân nhược thì không tốt. Nhâm Quý thuộc thủy, cho nên gọi là Huyền Vũ. Nhưng được hỏa cục, cho nên viết là Đương quyền, không có thì không phải là Thủy hỏa ký tế vậy, nói có khác gì nhau đâu chứ. Được chỗ này, chủ người có tính cách ôn hòa, có trí tuệ, có lễ mạo, khuôn mặt màu đỏ đen, uy lực mà không dũng mãnh. Gặp hình xung hoặc thấy ở tuế vận, thì bất lợi vậy.

Lý Đô đốc: Canh Tuất, Nhâm Ngọ, Nhâm Dần, Tân Hợi

Viêm Thượng cách ( tức là hỏa có ánh sáng )

Ví như hai ngày Bính Đinh, thấy đủ Dần Ngọ Tuất hoặc có đủ Tị Ngọ Mùi. Nhưng kị đất kim thủy, hỷ hành vận Đông phương, sợ xung, cần thân vượng, tuế vận giống vậy. Viêm Thượng, là thế hỏa rất nóng, lại được hỏa cục, tất nhiên là thành thế. Hỏa là tượng văn minh, gặp chỗ này nên là quý như Chu Tử, không phải mệnh tầm thường vậy.

Trương Thái Bảo: Ất Mùi, Tân Tị, Bính Ngọ, Giáp Ngọ

Lời phê】 Hỏa nhiều Viêm Thượng khí xung thiên, đủ để chỉ chỗ này là không có xâm phạm phú quý, một đường Đông phương hành vận tốt, vận kim thủy là không tốt.

Nhuận Hạ cách

Ví như ngày Nhâm Quý, cần có đủ Thân Tý Thìn hoặc là đủ Hợi Tý Sửu vậy, kị Thìn Tuất Sửu Mùi đất Quan tinh, hỷ Tây phương vận, không thích Đông Nam, sợ xung khắc, tuế vận giống vậy. Nhuận Hạ, thiên can địa chi hồn là thủy, như biển hồ mênh mông, nhìn không có bờ bến, chủ người thanh tú rộng lượng. Nếu gặp thổ vận, tất chủ trì trệ, nếu sinh ở mùa Đông, lại là đặc biệt vậy.

Vạn Tông Nhân: Canh Tý, Canh Thìn, Nhâm Thân, Tân Hợi

Lời phê 】Sinh Nhâm Quý đến gặp thủy cục, biển mênh mông chảy từ hướng Đông, nếu như không gặp thổ đê phòng, vị trí đến tam công.

Tòng Cách cách ( còn gọi là Âm tòng Cách cách )

Cách này lấy ngày Canh Tân thấy đủ Tị Dậu Sửu kim cục, hoặc đủ Thân Dậu Tuất vậy. Kị Nam phương hỏa vận, hỷ Canh Tân vượng vận. Thấy Hợi Mão Mùi, là kim thủy ngăn cách vậy. Kị xung hình phá khố, tuế vận giống vậy. Mệnh này có đủ Thân Dậu Tuất, nguyệt lệnh Mậu thổ sinh kim, sẽ được loại Tòng cách, sinh ở chức quyền vậy.

Lời phê 】 Mùa Thu kim xem ở cách tòng, danh gọi là Tòng Cách, bên ngoài không có Viêm Đế ( hỏa) đến xâm hại, định là quan giúp triều đình.

Giá Sắc cách

Lấy sinh ngày Mậu Kỷ, gặp Thìn Tuất Sửu Mùi vậy. Kị Đông phương vận cùng Bắc phương Tài vận. Mệnh này có đủ Thìn Tuất Sửu Mùi, gặp thủy là Tài, lại không có mộc khắc, là lấy phúc. Cách này hỷ hành Tây Nam, duy chỉ có kị Đông Bắc. Chỗ gọi là Giá Sắc, là đều tòng theo thổ, can chi thấy nhiều thì chính là một loại thổ, càng có công bồi dưỡng. Chủ người nhiều Tín, nhân phẩm rất dày trọng, biết cách kiếm tiền, là người phú quý vậy.

Trương Chân Nhân: Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Mậu Thìn, Quý Sửu

Lời phê】 Mậu Kỷ sinh ở trong tháng tứ quý, phải có đủ Thìn Tuất Sửu Mùi, hỷ gặp Tài địa kiêm Quan Sát, đến vận Đông phương định gặp hung.

Khúc Trực cách

Một là viết Nhân Thọ, hai là viết Thanh Long. Cách này lấy ngày Giáp Ất thủ địa chi Dần Mão Thìn hoặc là Hợi Mão Mùi mộc cục. Không nên thấy khí Canh Tân, thấy Canh Tân tức là Quan Sát, là không phải cách này vậy. Chỉ theo mộc mà luận, cho nên viết là Khúc Trực. Vận hỷ Đông phương, Bắc phương có thủy, mộc dựa vào thủy sinh, cho nên theo cách Tòng, chủ người nhiều nhân nghĩa, kị Tây phương vận.

Lý Tổng Binh: Giáp Dần, Đinh Mão, Ất Mùi, Bính Tý

Lời phê 】 Người sinh Giáp Ất gặp đủ Dần Mão Thìn, Hợi Mão Mùi sợ Bạch Đế (kim), thì theo loại Tòng mộc là đúng, được chỗ này là người thanh cao mà thọ.

Nhật Đức tú khí cách

Thiên can phải có 3 chữ Ất, địa chi có đủ Tị Dậu Sửu, lại có ngày Bính Tý, Nhâm Tý, Tân Mão, Đinh Dậu cũng là tú khí, sợ xung khắc, đại vận cũng vậy.

Phúc Đức cách

Cách này chỉ lấy nhật chủ Kỷ Sửu, địa chi phải đủ Tị Dậu Sửu. Kị đất hỏa đất Quan, sợ xung phá. Phúc Đức không chỉ có riêng Kỷ thổ, ngũ âm đều có. Âm thổ Kỷ Tị, Kỷ Sửu, Kỷ Dậu; âm hỏa Đinh Tị, Đinh Dậu, Đinh Sửu; âm thủy Quý Tị, Quý Sửu, Quý Dậu; âm kim Tân Tị, Tân Sửu, Tân Dậu; âm mộc ất Tị, ất Sửu, ất Dậu. Kị hình xung phá hại, tuế vận cũng vậy.

Lời phê

Âm thổ gặp Tị Dậu và Sửu,

Gọi là Phúc Đức hiệu Tỳ Hưu,

Hỏa đến xâm khắc không có tốt,

Danh lợi không không chốc lát ngừng.

6

Khí mệnh Tòng Tài cách

Ví như ngày Ất thấy Thìn Tuất Sửu Mùi, Tài thần cực vượng, Ất mộc tứ trụ không có chỗ dựa, thì bỏ mà tòng theo. Cả đời người sợ vợ, là vợ kế, là người thừa kế . Tài là vợ vậy, thân không có chỗ dựa, dựa vào vợ mà thành lập, cho nên nói như vậy.

Lời phê】 Nhật chủ vô căn Tài phạm trọng, hoàn toàn dựa vào thời Ấn vượng thân cung, phùng sinh tất chủ hưng gia nghiệp, phá Ấn phân phân tổng là không. Nhật chủ có căn thì không thể thành khí, là chủ bần. Vô căn khí thì là phú.

Thương quan sinh Tài cách

Ví như sinh ngày Ất, địa chi thấy đủ Dần Ngọ Tuất, thì lấy Mậu Kỷ là Tài. Cần hành đất hỏa Tài vận Thân vượng vận, sợ đất Quan, kị hình xung, xung thì không tốt.

Khí mệnh Tòng Sát cách

Ví như ngày Ất, chi thấy Tị Dậu sửu, kim cục đại thắng lại không có chế sát, thân chủ vô khí, chỉ có bỏ thân mà tòng theo. Cần hành Sát vượng và Tài hương, kị nhật chủ có căn cùng đất Tỉ kiên.

Thương quan đới Sát cách

Ví như ngày sinh Giáp Ất, địa chi có đủ Dần Ngọ Tuất, nếu can đầu có Canh Tân, thì mượn Canh Tân thành quyền. Hỏa chế là phúc, cần nhất hành vượng vận, kị thấy Tài, được trung hòa là quý.

Lời phêKinh nói: “Thương quan đới Sát, bất bả tắc hạt“, cho nên kị thấy, cuối cùng là bần yểu, có chế lại là quý.

Tuế Đức phù Sát cách

Ví như ngày Giáp thấy năm là Canh vậy. Đúng như năm là vị trí vua, ngày là vị trí thần, thần được quyền của vua. Vừa là lấy năm làm tổ tiên, ngày là bản thân, Thất Sát có chế, thì tổ thượng từng có chức vị quan trọng.

Lời phê】Giáp là Đông phương là Tuế tinh, lấy ở một Tuế, cho nên viết là Tuế Đức, chủ người có nhân có thọ vậy.

Tuế Đức phù Tài cách

Ví như ngày Giáp thấy năm là Mậu Kỷ vậy. Nếu Tài mệnh có khí, thì chủ người được của cải sự nghiệp của Tổ tiên để lại. Thân nhược thì dù có tổ nghiệp, cũng hao tán mà không có thừa hưởng vậy.

Lời phê 】 Phàm thân nhược dù có tổ nghiệp, không thể đảm nhận, đều là chủ phí tổn mà không tồn tại, là do mệnh bất cập (không đủ) vậy.

Giáp Khâu cách ( còn gọi là Củng Tài )

Cách này dụng chi ngày và chi giờ cùng củng tài. Ví dụ như ngày Giáp Dần, giờ Giáp Tý, hư củng Sửu cung Kỷ thổ là Tài khố. Lại như ngày Ất Mão, giờ Đinh Tị; ngày Giáp Ngọ, giờ Nhâm Thân; ngày Quý Dậu, giờ Quý Hợi vậy. Phải là hư củng, không nên gặp điền thực cùng có hợp trói, thì củng không thành. Lại cần nhật chủ tự vượng hoặc là Tài vượng vận cũng tốt.

Kim Thừa tướng: Canh Tuất, Mậu Tý, Quý Dậu, Quý Hợi. Lấy Dậu Hợi kẹp Tuất hỏa là Tài.

Trương Thượng thư: Bính Thìn, Tân Mão, Quý Dậu, Quý Hợi. Dậu Hợi kẹp củng Tuất hỏa là Tài.

Giáp Tý, Quý Dậu, Quý Dậu, Quý Hợi, cũng giống như ở trên.

Cổ ca viết:

Giáp Khâu cách có ít người biết,

Củng giáp hưu điền là trong khố.

Không phạm trong trụ vị Quan Sát,

Cả đời thanh quý hiển đương thời.

Lời phê】 Mệnh Kim Thừa tướng dù là kẹp Tài, không hợp ở trụ năm có chữ Tuất là điền thực không tốt, đảm nhận tọa quý lộc chữ Tài thấy Lộc mà luận phương đảm nhận chỗ này là quý, nắm vững phương pháp cần phải nghiên cứu kĩ càng thì sáng tỏ.

Lưỡng Can bất tạp cách

Cách này chính là nói năm tháng ngày giờ chiếm hai can liên tục, thuần nhất mà không tạp vậy, thủ loại hai chữ không loạn là đúng, còn gọi là Lưỡng Can liên châu cách. Kinh nói: “Lưỡng can bất tạp lợi danh tề”, vì thế mà xưng gọi như vậy.

Mệnh thức một:

Giáp Ất Giáp Ất

Tý Hợi Tuất Sửu

Mệnh thức hai:

Bính ĐinhBính Đinh

Dần Dậu Thìn Mão

( Hai mệnh này đều có hai thiên can từng cặp giống nhau)

Ngũ hành câu túc cách

Cách này lấy Bào Thai năm tháng ngày giờ, mang đủ kim mộc thủy hỏa thổ là đúng.

Giáp Mậu Đinh Đinh Kỷ Ất Nhâm Tân Bính Quý

Tý Thìn Tỵ Mùi Mùi Dậu Ngọ Mùi Thân Dậu

Kim Mộc Thổ Thủy Thai Hỏa Thủy Mộc Thổ Hỏa Thai Kim

Hai cách này cũng không luận Quan Sát, chỉ lấy hoàn toàn là ngũ hành, nghĩa là tự có sinh sinh bất tuyệt, lý là hóa hóa vô cùng, là cũng hiếm có vậy.

Chi thần nhất tự

Giáp Bính Canh Mậu

Dần Dần Dần Dần

Giáp Giáp Giáp Giáp

Tý Tuất Dần Tý

( Chỗ này lấy can hoặc chi năm tháng ngày giờ không tạp là quý. )

Thiên Nguyên nhất khí

Ất Ất Ất Ất

Sửu Dậu Hợi Dậu ( Chỗ này lấy thiên can năm tháng ngày giờ có cùng một chữ. )

Phượng Hoàng trì

Mậu Mậu Mậu Mậu

Ngọ Ngọ Ngọ Ngọ

Can chi đều giống nhau.

***********************

Quyển ba (1)

Lục thân tổng luận

Nói đến Lục Thân, là nói đến cha mẹ, anh em, vợ, con vậy. Dụng nhật can làm chủ, Chính Ấn là chính mẫu, Thiên Ấn là thiên mẫu ( mẹ kế, người tình của cha) cùng là tổ phụ vậy. Thiên Tài là cha, chính là chồng của mẹ, cũng là thiên thê (thiếp, người tình). Chính Tài là vợ, Thiên Tài là thiếp, là cha. Tỉ Kiếp là anh em chị em vậy.

Thất Sát là nam, Chính Quan là nữ ( dương là nam, âm là nữ ). Thực thần là cháu trai, Thương Quan là cháu gái cùng là tổ mẫu vậy (ở trên đã có đồ hình, xem đồ hình thì hiểu ngay ). Mệnh phụ nữ lấy chỗ lục thân cùng với mệnh nam là khác nhau, lấy Quan tinh là chồng, lấy Thất Sát là chồng phụ hoặc là người tình, Thực thần là con trai, Thương quan là con gái. Kinh nói: Nam lấy khắc can làm con, nữ lấy can sinh là con cùng là nô tỳ vậy.

Năm là tổ thượng, tháng là phụ mẫu, anh em thúc bá trong gia đình, ngày là bản thân và thê thiếp. Lại như lục thân thụ khắc là như thế nào? Ấn thụ thấy Tài, là khắc mẹ cùng tổ mẫu vậy; thấy Tỉ Kiếp Dương Nhận, là khắc thê thiếp cùng cha vậy; Quan Sát nhiều, anh em là khó khăn; Thương quan, Thực thần nhiều thì con cháu khó khăn; Kiêu Ấn hại cháu khắc tổ mẫu vậy. Thí dụ như Chính Ấn tác hợp thì mẹ bất chính, Tài tác hợp thì vợ bất chính, Thiên Tài tác hợp thì thiếp bất chính, Tỉ kiên tác hợp thì chị em gái bất chính, Thương quan tác hợp thì tổ mẫu bất chính, Thực thần tác hợp thì cháu nữ bất chính.

Ví dụ như ngày Giáp làm chủ, thấy Quý là mẹ, thấy Mậu Thìn, Mậu là cha cùng thiếp, thấy chữ Kỷ Sửu Mùi thì cùng với chữ Mậu tranh đoạt nhau, lại hại Quý thủy, nghĩa là khắc mẹ rõ ràng vậy. Thấy chữ Giáp Dần, là khắc cha cùng thiếp; thấy chữ Canh Thân, chủ khắc anh trai chị gái vậy; thấy chữ Ất Mão, là khắc em trai em gái; thấy chữ Bính Tị, là khắc con cái vậy, còn lại theo chỗ này mà suy ra. Chỗ này tất lấy tuế vận thấy chữ nào thì là khắc người đó. Lại đem xung khắc suy vượng thuận hay nghịch, tương lai là tiến, công thành là thoái. Bao gồm cả có cô thần, quả tú, trong tuần có Không vong là kị, có 2, 3 lại là cát. Kim không thì sáng, Hỏa không thì phát, Thủy không thì lưu (cả ba chỗ này là cát ); Mộc không thì nát, Thổ không thì sụp (hai chỗ này thì hung ). Nên lấy gốc năm sinh mà khởi, khắc hại là không nghi ngờ vậy.

Lời phê】《 Tử Bình uyên nguyên lục thân luận 》 Sinh ra ta là mẹ, khắc mẹ của ta là cha; ta khắc nó là vợ ta, chỗ bản thân ta sinh ra là con, cùng loại với ta là Tỉ kiên là anh em chị em ta, sinh ra vợ ta là bà ngoại ( ngoại mẫu), khắc ngoại mẫu ta là ông ngoại ( ngoại phụ). Nếu nữ mệnh, thì lấy can ta sinh làm con cái, lấy khắc nhật can là chồng, lấy chỗ sinh chồng là mẹ chồng, lấy khắc mẹ chồng là cha chồng, còn lại như cha mẹ anh chị em đều giống như mệnh nam vậy.

Lục Thân tiệp yếu ca

Chia lộc tặng người nên hại chủ,

Tỉ kiên trùng điệp tổn phụ thân.

Chính Tài Thiên Tài cha khắc mẹ,

Vợ chồng hình nhau gặp thoái thần.

Thực thần có thọ vợ nhiều con,

Thiên Quan nhiều nữ con trai ít.

Thừa vượng Thương quan con tất tuyệt,

Trung hòa Ấn thụ con vinh thân.

Lời phê】Nói lấy ở trên 8 câu đều chủ là hình hại nam mệnh. Có Tỉ có Nhận là quá vượng mà không có chế, chủ khắc cha mẹ mà còn hình khắc vợ. Nguyệt lệnh Ấn thụ cách, trong bát tự có Tài nhiều là khắc mẹ, Ấn nhiều là khắc con, gặp đại vận Tài cũng vậy.

Luận Cha

Thiên Tài là cha, chính là Quan tinh của Ấn thụ vậy. Như ngày Giáp lấy Mậu là cha, lại thấy chữ Giáp Dần hoặc đủ mộc cục, hoặc là lâm đất tử tuyệt xung hình, chủ khắc cha vậy. Nếu không cũng chủ ly dị, không hòa thuận hoặc có tật bệnh thương tàn. Nếu được chữ Canh, chữ Thân giải cứu, hầu như không có hại lớn. Như Giáp vượng Mậu suy, cũng chủ có đau khổ thiếu chỗ nương tựa. Như Mậu lâm chỗ sinh vượng, quý nhân, Thiên Nguyệt Đức, cũng chủ có quý. Lại được Bính Đinh sinh trợ, hưởng phúc cha là rất lớn. Như lâm Sát địa, cha con cùng tha hương. Như ở nơi suy bại thụ chế, đất mộ tuyệt, chủ cha là người bình thường, không được cha giúp đỡ vậy.

Lời phê】Chỗ này lấy Giáp mộc làm chủ, cho nên lấy Mậu là cha vậy, Quý chính là mẹ của Giáp, Mậu chính là chồng của Quý, Giáp lấy Mậu là Thiên Tài, Tài vượng thì cha vượng, Tài bại Tài suy thì cha suy, cho nên luận mệnh vinh hay khô, thì lấy lý lẽ cha hưng thịnh hay rời rạc mà xem, còn lại đều giống chỗ này mà suy ra.

Luận Mẹ

Chính Ấn, là sinh ra bản thân ta vậy. Như ngày Giáp lấy quý là mẹ, gặp Kỷ Sửu vốn là chủ khắc mẹ ( Quý là Ấn, gặp Kỷ Sửu Mùi chính là thổ khắc thủy, cho nên nói là khắc mẹ). Nếu thấy nhiều là chủ mẹ lấy hai chồng. Một Mậu mất đất ( Mậu là chồng Quý) hoặc bị khắc, là chủ mẹ hại người chồng trước. Chữ Mậu được sinh hoặc Ấn lâm đến đất Đào Hoa mộc dục, là mẹ có ngoại tình. Như Ấn trường sinh, chủ mẹ hiền từ mà sống thọ, mẹ con càng hòa thuận. Mẹ như lâm đến đất Dương Nhận Sát, hoặc gặp mộ tuyệt, cô quả, chủ người mẹ không hiền thục, hoặc có tàn tật, không hòa thuận. Nên lấy lý lẽ mà suy, không có không ứng nghiệm vậy.

Lời phê】 Quý thủy sinh Giáp mộc, Giáp lấy Quý làm mẹ. Đào Hoa tức là Hàm Trì Sát, chủ dâm, thấy ở Tý Ngọ Mão Dậu.

Luận Thê thiếp

Chính Tài là vợ chính; Thiên Tài, là thiếp vậy. Giáp mộc thấy Kỷ thổ là Chính Tài, Mậu thổ là Thiên Tài. Lại thấy Ất mộc cục ( Hợi Mão Mùi ) là hại vợ, Giáp Dần là khắc vợ vậy, lại là chủ vợ bất chính ( Bất chính gọi là dâm tiện vậy). Tài ở đất suy bại mộ tuyệt, chủ vợ có bệnh tật không có hiền, nếu không tuổi cao có tái giá. Thấy chữ Quý thì thiếp bất chính ( Quý chính là vợ của Mậu vậy ). Thấy chữ Kỷ thổ Sửu Mùi, thì chủ tự yên ổn. Tỉ kiên phân đoạt, Tài đến đất mộc dục Đào Hoa, chủ thê thiếp có tư thông. Ở dưới ngày, dưới tháng tọa Tài Quan, chủ được vợ giúp đỡ nhiều, lại được thê tài. Thiên Tài đắc vị, Thiếp thắng hơn vợ; Chính Tài tự vượng, vợ không dung nạp thiếp. Quan Sát thấy nhiều, vợ có tài năng ( gọi là Can cổ) hay gây chuyện xúc phạm đáng sợ. Tài Quan đều tốt, là người sợ vợ, thấy Sát càng kị. Tài đa thân nhược, thì vợ thắng chồng; Tài mệnh có khí, thê thiếp hòa thuận, là được lực của vợ. Ngày tọa Không Vong, thê thiếp là khó khăn. Lại xem ngày cô loan, ngày dương thác âm sai, chủ khắc vợ hoặc vì vợ mà quan tâm quá mức, phòng lạnh lén cưới vợ, ở rễ điền phòng. Nữ nhân phạm chỗ này, chủ gia đình mẹ suy tàn hoặc dẫn tới việc kiện tụng. Còn lại theo chỗ này mà suy.

Lời phê】 Giáp và Kỷ hợp, Kỷ là Chính Tài, Chính Tài tức là vợ chính. Mộc dục là gặp thủy, lại thấy mang theo Đào Hoa là người phiêu lưu, cho nên nói chủ thê thiếp có tư thông. Can cổ, là nói vợ có tài năng, khiến cho nhiều người gặp phải đáng sợ. Ngày Giáp Tuất, Kỷ Hợi là ngày tọa Không Vong.

Luận anh em trai chị em gái

Tỉ kiên, là anh em trai vậy. Ví như Giáp thấy Giáp là anh trai, Ất là em trai em gái, Dần Mão cũng vậy. Thấy Canh thì khắc anh trai, thấy Tân thì hại em trai. Giáp mộc vượng, chủ anh trai chị gái tranh tài. Vừa nhiều Giáp Dần Ất Mão, thì anh em trai chị em gái bất hòa, tranh cải thị phi. Thấy Kỷ hợp Giáp, anh chị bất chính; thấy Canh thì em trai em gái bất chính. Như thấy nhiều Sát, Ất mộc đắc cục, là nói Sát hợp hội Ất mộc mà làm tổn thương Giáp. Chỗ này phúc của anh trai không như em trai, mượn sức của em trai mà tăng thêm nhờ cậy. Giáp mộc tháng Dần, Ất mộc bị chế, chủ anh trai vượng mà em trai suy. Ngoài ra có hòa thuận hay không hòa thuận, chỉ lấy bát tự hưu vượng tử tuyệt mà suy đoán, không có không ứng nghiệm vậy.

Lời phê】 Dương thấy Dương là anh em trai, âm thấy âm là chị em gái. Âm thấy dương là anh trai, dương thấy âm là em gái.

Luận Tử Tức

Thất Sát, là con trai vậy. Như Giáp thấy Canh Thân là con trai, Tân Dậu là con gái. Nếu thấy Bính hỏa Ngọ Dần, hoặc Sát đến cung Dương Nhận Sát, chủ khắc con trai, nếu không cũng tật bệnh không ra gì. Gặp Mậu Kỷ đắc lệnh, thì con trai đắc lực mà hòa thuận. Thấy chữ Bính Tị, con gái bất chính. Nếu lâm đến mộc dục Đào hoa, lại kiêm ám hợp nhiều Thực thần, con gái có tư thông. Nếu Sát đến trường sinh, Nguyệt Đức, Thiên Đức, chỗ đất đến, là Quý nhân Lộc Mã, đất Thực thần Tài, thì nói cha mạnh con quý, cần phải trung hòa. Ngày dương giờ dương thấy nhiều Nam, ngày dương giờ âm trước Nam sau Nữ, ngày âm giờ âm thấy nhiều Nữ, ngày âm giờ dương trước Nữ sau Nam. Thương quan kiến Quan, con cháu hung bạo ngu muội. Trụ giờ có Thương quan cùng Không Vong, con cái là khó khăn.

Nữ mệnh lấy Thương quan làm con trai, Thực thần là con gái, nếu thấy Ấn thụ, Kiêu thần, thì khó mà được con cái vậy.

Nam mệnh có Quan Sát đắc địa mà còn trung hòa, nói có con trai, lấy số sinh thành mà giải đoán. Sinh vượng thì gấp đôi, tử tuyệt thì giảm nửa, thái quá hay bất cập, không lấy chỗ này đoán. Thái quá thì có con trai đa số khắc yểu hoặc hung bạo ngu muội, bất cập thì ít nuôi dưỡng. Quan Sát đắc địa mà có phù trợ, nhiều sao tốt, con cái trung hiếu mà hiền minh. Ở đất hưu tù tử tuyệt, phá bại suy bệnh, Câu Giảo, Nguyên Vong, Không Hư, thì con cái không ra gì, bần tiện tật bệnh mà chết. Lại kiêm cả Cô thần Quả tú, chủ cô khổ cơ hàn. Ví dụ như ngày Giáp Tý, giờ Giáp Tý, Canh tử ở Tý, gặp tử đến già cũng không có con cái. Giờ nhập Mộ khó mà giữ đôi, nhận khí gặp Tuyệt có một con, gặp Thai sinh đầu có một cô nương, gặp Dưỡng thì 3 con chỉ còn có 2, vị trí Trường sinh 7 được nửa, hợp chủ có 7 con vậy. Mộc dục một đôi giữ khỏe mạnh, vị trí Quan đới Lâm quan là 3 con, gặp Vượng thì có 5 con tự thành, gặp Suy 2 con, gặp Bệnh là 1 con. Đếm từ Tý đến Hợi, gặp Bệnh là 1 con, dựa vào chỗ này mà suy ra. Còn như nếu bát tự không có Tử tinh (sao con cái), trụ giờ lại không sinh vượng, vận hành đất Quan Sát vượng chủ có con, qua vận lại không có. Như trong trụ có Quan Sát mà hành đất Thương Thực, vận hưu suy tuyệt nhược, thương tổn con cái, qua vận thì hết. Bát tự có một Sát có một con trai, hai Sát là 2 con trai, không có Sát không có con trai. Như trong trụ thân Sát lưỡng đình, mà Sát gặp đất vượng thì đoán là có nhiều con trai. Cũng xem Tài thần như thế nào, từng lúc tăng giảm, nhiều ít mà suy đoán, không có không ứng nghiệm vậy!

Lời phê】 Nam lấy khắc can làm con cái, lấy Giáp mộc là chủ, Canh là Thất Sát, từ Giáp tới Canh là 7 ngôi, cho nên gọi là Thất Sát, là loại dương thấy dương. Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là ngày dương giờ dương, Ất Đinh Kỷ Tân Quý là ngày âm giờ âm. Sao tốt, là các loại Thiên Nguyệt Đức, Thiên Phúc, Thiên Quan quý nhân. Không Vong đối cung là đất Cô Hư. Giáp lấy thổ là Tài, nếu thổ không vượng thì vợ không vượng.

Tổng quyết luận Phụ nữ

Suy mệnh phụ nữ, cùng với nam mệnh khác nhau nhiều, Tiến sĩ Thảo Đường Đinh tiên sinh, lấy Thần Thú bát pháp: Chiếu, Phản, Quỷ, Phục, Thuộc, Loại, Tòng, Hóa. Nữ mệnh bát pháp: Thuần, Hòa, Thanh, Quý, Trọc, Loạn, Xướng, Dâm. Lấy Quan là chồng là phúc tinh, Tài vượng sinh Quan, thì được phúc chồng. Ấn thụ, Thực thần là danh quý, có xưng hô. Sinh khí là Ấn thụ, là khó cho Tử tức. Ấn thụ Tài Quan có đủ, tất sinh ở gia đình phú quý, tướng mạo hiền thục. Ngày Giáp thấy Tân Dậu là chồng chính, có chữ Đinh Ngọ là tổn hại chồng. Canh Thân là Thiên phu ( người tình), như thấy nhiều Canh Thân Tân Dậu, là làm hại chồng mà tái giá. Nếu Tài quá nhiều, Quan Sát quá vượng, chính là minh ám cùng tập hợp chồng, đa dâm mà còn lạm dụng. Tài nhiều mà dâm, cho nên nữ nhân cần Tài nhược, là Vượng Phu ích Tử. Như Quan đắc địa, Thất Sát thụ thương, Thực thần can vượng, Ấn thụ Thiên Nguyệt nhị Đức, là Phu vinh Tử quý, mệnh rất tốt. Bát tự phụ nữ, có Thương quan, Quan Sát hỗn tạp, Thực thần Tài vượng, thân suy, là người có bệnh đố kị, hiếu sắc tham dâm, hung bạo ngu muội đáng sợ. Thương quan kiến Quan, là khắc phu tái giá, công việc nặng nhọc thân thể, tuy không hại chồng, cũng có bệnh hoạn, cả đời thiếu phúc, đa số là chủ bất an, đại kị trụ năm có Thương quan, chủ bệnh tật khi sinh đẻ, nếu không cũng tổn thọ. Thương quan chủ người có tướng mạo đẹp đẽ, thông minh, tú khí. Thương quan thấy Sát (Tài ) là phú, không có Tài là bần. Kiếp tài, Bại tài, Thương quan, thân vượng, là bần tiện là hạ cách. Ở trên lấy 15 cách đều là xung quan phùng hợp, đều có kị Thương quan, dẫu là phú quý, cũng không miễn bệnh dâm lạm.

Thất Sát, Chính Quan, chỉ cần một vị là tốt, Sát nhiều chồng nhiều, Quan Sát bị hợp, là tỳ thiếp chị em gái tranh quyền, ví dụ như Giáp dụng Tân là Quan, Bính hợp là vậy, Ất dụng Canh là Quan, thấy Đinh là vậy, Mậu dụng Ất là Quan, thấy Tân là vậy, chỗ này chính là bị hợp lấy, còn lại y như vậy, chủ phụ nữ Chiêu giá bất định. Bát tự gặp Thương quan, cùng Quan tinh tử tuyệt, có Cô thần Quả tú, ngày giờ gặp Không vong, là mệnh cô khắc. Như thiên can thấu ra Quan Sát, địa chi không có Quan Sát, lại kiêm thêm hưu tù tử tuyệt, là đất thoái khí, là nữ khí tuyệt chồng, nên lấy làm tỳ nữ hầu gái hoặc làm vợ lẻ mà suy đoán. Mệnh nếu có Thiên Nguyệt Đức, không có họa huyết quang khi sinh đẻ cùng khí dâm lạm. Nữ mệnh chỉ cần thân nhược, chủ tính thuần túy mà ôn nhu, có công phụng dưỡng cha mẹ chồng cùng giúp ích cho chồng. Thân cường là hay bắt nạt chồng, bất hiếu với cha mẹ chồng, sinh việc thị phi, nóng tính. Thân nhược là bệnh, thân cường cũng vậy. Bát tự hỷ quý, không hợp có Dịch Mã, Hàm Trì. Phải thuần hòa nhu nhược, không nên cương kiện thái cường, tuế vận cũng vậy. Có ngày Âm sai Dương thác, Cô loan, là bất lợi cho giá thú, đều không có thành thân hoa chúc, thây nhân quyến thuộc, phòng lạnh mà hiếu thú, hôn nhân gãy đổ. Cô Loan Sát nói: “Dần mộc không có chồng, Kim Hợi sao có chàng, Xích Hoàng Ngọ nằm không, Tý thủy thủ không phòng.” Chủ Nữ thì Quả mà Nam thì Cô. Ngày giờ cùng xung, nữ thì chồng con khó khăn, lại thêm Không Vong ngày giờ là cô khắc, không đợi nói cũng hiểu. Bát tự đều không có Quan Sát, lại hành vận Quan Sát Tài, chính là phu tinh đắc địa mà không cô đơn; còn bát tự đều có Tài Quan, vận hành đất Thương quan Kiếp tài, phu cung khó khăn, cần phải qua vận, tử tế suy đoán rất ứng nghiệm.

Lời phê 】 Phàm phụ nữ thân không có chỗ dựa, là chỉ ủy thác cho chồng, để một thân nương nhờ, cho nên lấy Quan quý là chủ chồng, chồng quý thì vợ vinh, xưng giống như con gái nằm mộng thấy gãy cây tùng cao. Đinh Ngọ chính là âm hỏa mà khắc Tân kim, cho nên viết là hại chồng chính. Như phu tinh vượng, Thương quan không thể hại, đoán chủ bản thân thiếu phúc mà nhiều bệnh, giống như có người hại chồng thì vợ cũng không thể yên vui là vậy. Quan, cũng là một chồng, Sát, cũng là một chồng, không nên thấy nhiều, thấy nhiều thì chủ có hai chồng vậy. Quan tinh tử tuyệt giống như chồng tử tuyệt. Hàm Trì tức là Đào Hoa Sát, chủ dâm, lại mang theo Dịch Mã, chủ bỏ nhà mà theo trai. Xích là đỏ là hỏa, Hoàng là vàng là thổ, trắng là kim, Hắc là màu đen là thủy, xanh là mộc, chủ phạm chỗ này.

Âm Mệnh phú

Phàm xem âm mệnh, trước tiên xem Phu tinh chủ thịnh suy. Thứ luận thân vinh, phải xem Tử tức cường nhược. Phu vinh Tử vượng, định là phú quý vinh hoa. Tử tử Phu suy, chỉ là cùng cô hạ tiện. Có Phu ( chồng) có Tử (con) mà bần hàn, là do thân ở đất suy; không có Phu không có Tử mà hưng thịnh, cũng là do thân ở đất vượng. Quý nhân ít, không phú cũng thịnh. Hợp quý thần, không kỹ nữ cũng là ni cô. Luận Dâm tiện, tứ trụ có Thương quan, ám dẫn Tài tổn. Chiêu tế, phu hiển ở trong trụ tháng (môn hộ); Thiên phu, phu vượng ở trên trụ ngày và giờ. Phu suy thân vượng, chủ là người liêm khiết; quỷ vượng thân suy, tất lấy cô hàn. Phàm xem ngũ hành âm mệnh, cần phải biện luận tinh tường mới sáng tỏ vậy.

Lời phê 】 Nữ nhân lấy Thực thần làm con cái, như Giáp thì Thực là Bính, người là Ất thì Thực là Đinh, Thực thần sinh vượng có khí thì đoán nói có con quý hoặc giàu có.

Luận Nữ mệnh phú quý bần tiện

Muốn suy nữ mệnh, trước tiên xem Quan tinh. Quan mang Sát là bần tiện, Quan đắc lệnh lấy an vinh. Thương quan thái trọng tất hại chồng, mà còn là người nặng tính. Đảo thực gặp nhiều là giảm phúc, kham không nỗi chớ phạm Cô thần. Sát nhiều nên chạy phòng quý, hợp nhiều định tổn chữ trinh. Tọa lộc thừa dư mà ổn định, xung thân động bước lấy khinh phù. Nếu là Đào Hoa lãng cổn, là kẻ dâm bôn không thể nói hết. Nhật lộc quy thời, quý trọng là chỗ người tôn kính. Thiên Nguyệt nhị Đức tọa bản mệnh, như gặp Ấn thụ, phong quý lưỡng quốc. Ngày giờ có Dương Nhận vốn là hung thần, là cung vừa bất lợi cho chồng, lại kiêm cả tính cách làm tổn hại cho cả đời. Thân can chủ trinh tường, giờ phạm Kim Thần kiện vượng, phải xem bát tự mạnh mẽ. Chuyên Thực thì tử vinh, kị có Thiên Ấn thắng cướp thân. Thủ khuê môn mà đúng yên tĩnh, tất là do ngày âm lấy trung hòa. Đợi chồng giúp lấy kinh doanh, chỗ này là can giờ dương rất vượng. Đại để mừng gặp Chính Lộc, sợ phạm Hàm Trì, chồng thanh quý được trường sinh, tạp trọc trái lại là lấy bại khí. Tứ trụ nhiều bại, đại kị xung thân mà phạm hợp; cả đời mang nặng, nếu không phải là ca kỹ thì cũng là ni cô. Ấn hại thì cùng với cha mẹ chồng là đố kị, Thực chuyên nên được con cháu. Quan Sát gặp nhiều, nên đề phòng dâm loạn. Chị em gái cùng thấu ra, liền sẽ tranh chồng. Khôi Cương là mấu chốt có linh biến, Nhật Quý có phúc an hưởng. Tức là lấy can chi phân định, Quan Sát thịnh mà không có chế phục, không là ca kỹ cũng là ni cô.

Lời phê】 Bôn, là không có chính. 《 Lễ 》 viết: Sính (xuất giá) thì gọi là vợ, Bôn thì gọi là thiếp, giống như vua ban đêm trốn ra khỏi thành để tìm Tư Mã Tương Như vậy. Thân can tức là Nhật chủ vậy. Kim thần, Tân Sửu, Tân Tị, Tân Dậu, trụ giờ phạm Tị Dậu Sửu kim cục thì gọi là giờ Kim thần. Thực thần là Tử tức, nếu chuyên vượng, chủ con cái có phúc. Nhật Quý, là 4 ngày Quý Mão, Quý Tị, Đinh Dậu, Đinh Hợi vậy.

Nữ mệnh quý cách

Chính khí Quan tinh,

Tài Quan lưỡng vượng,

Ấn thụ Thiên Đức,

Độc Sát hữu chế,

Thương quan sinh Tài,

Tọa lộc phùng Tài,

Quan tinh đới hợp,

Nhật quý phùng Tài,

Quan quý phùng Quan,

Quan tinh tọa lộc,

Quan tinh đào hoa,

Thực thần sinh vượng,

Thực thần sinh Tài,

Sát hóa Ấn thụ,

Nhị đức phù thân,

Tam kỳ hợp cục,

Dương Nhận hữu chế,

Củng lộc Củng quý,

Quy lộc phùng Tài.

Lời phê】Quan tinh cần hợp, chỉ hỷ một vị là quý, hợp nhiều là không quý trái lại là hạ tiện.

Nữ mệnh tiện cách

Quan Sát hỗn tạp,

Quan Sát vô chế,

Sát tinh thái trọng,

Thương quan thái trọng,

Tham Tài phá Ấn,

Tỉ kiên phạm trọng,

Vô Quan kiến hợp,

Vô Ấn kiến Sát,

Thương quan Thất Sát,

Đới hợp Đào hoa,

Bát tự hình xung,

Tài đa thân nhược,

Dương Nhận xung hình,

Kim thần đới Nhận,

Đa Quan đa hợp,

Đảo sáp Đào Hoa,

Thân vượng vô y,

Thương quan kiến Quan,

Tài Quan ngộ Ấn,

Ấn thụ ngộ Kiếp.

Lời phê 】 Đảo Sáp Đào Hoa, như Thân Tý Thìn sinh thấy Dậu, nếu người sinh Dậu gặp Nhâm thấy Thân, chủ cực dâm, còn gọi là Phượng hoàng Đào hoa, chủ là ca kỹ.

Cổn lãng Đào hoa

Nữ mệnh dụng Quan là chồng, hoặc là Sát, chỉ hỷ có một vị, nhiều là khắc phu. Như mệnh cục đầy Quan tinh là kị, trụ đầy Sát tinh là phúc trái lại là cát. Thương quan không phải quý, vận Thương quan lại hành khắc chồng, Thương quan hữu chế thân tuyệt. Nữ mệnh có Thương quan, quyết là hình con khắc chồng. Nữ mệnh có nhiều Quan tinh, là hại chồng, chủ tiện. Thương quan Đào Hoa, nữ mệnh là ca kỹ, hoặc chủ khắc con cái. Nếu thấy một vị quý nhân, hoặc mang vinh thần, hoặc phạm tuyệt địa, đa số là phú quý trinh tiết. Lộc Mã theo nhau, Đào Hoa mang quý, Hàm Trì gặp Mã là đa dâm, phá gia hại chồng. Có Thìn không có Tuất thì mệnh cô đơn, về già lạnh lẽo; Tuất nhiều không có Thìn, thiếu niên lao khổ, trung niên tốt, không hại chồng, không khắc con, phong lưu mà dâm. Thìn Tuất đầy đủ thì dâm loạn phá gia, hại chồng khắc con, yểu thọ tàn tật.

Lời phê 】 Như Thương quan có chế, thân tuyệt, lại phạm Đào Hoa, lại gặp đất thủy, định nói là Cổn Lãng ( sóng cuộn ba đào).

Nữ mệnh tổng đoán ca

Chọn vợ nên trầm tĩnh,

Tỉ mĩ cùng nghe vua,

Cung Phu tinh phải cường,

Thân chủ phải rất mạnh.

Quan tinh nếu không hợp,

Chủ không nương tựa chồng.

Hợp tuyệt chớ hợp quý,

Phép này ít người suy.

Chuyên lấy ngày thành năm,

Phép này truyền ít người.

Người lộc cả đời vượng,

Đẻ chết chê người dạy.

Dịch Mã mang Quý nhân,

Cuối cùng lạc phong trần.

Có Thìn lại thấy Tuất,

Có Tuất lại thấy Thìn,

Thìn Tuất nếu gặp nhau,

Phần đa người dâm tiện.

Có Sát không sợ hợp,

Không Sát lại sợ hợp,

Hợp thần nếu là nhiều,

Không kỹ cũng là ca.

Quý nhân đúng tọa một,

Hai ba lấy thiếp định.

Dương Nhận kèm Thương quan,

Hỗn tạp việc đa đoan.

Cục đầy đều là Ấn,

Chắc chắn là hại con.

Nhị Đức tọa Chính Tài,

Phú quý tự nhiên đến.

Tứ trụ đều hưu tù,

Phong tặng phúc lộc thọ.

Kim thủy nếu gặp nhau,

Tất là dung nhan đẹp.

Dần Thân Tị Hợi đủ,

Mệnh nói liền Cô dâm,

Tý Ngọ gặp Mão Dậu,

Định là chạy theo người.

Thìn Tuất gặp Sửu Mùi,

Phụ nữ là đại kị.

Lưỡng quý một vị Sát,

Nói quyền gia phú quý.

Tài Quan nếu tàng khố,

Xung phá sao chẳng phú.

Thiên can một chữ liềnn,

Cô phá họa liên miên,

Địa chi liền một chữ,

Hai lần việc thành hôn.

Đây là quyết Nữ mệnh,

Nghìn vàng chớ khinh truyền.

Lời phê 】 Thìn Tuất là đất Thiên la Địa võng, Khôi Cương Ác sát, Khôi Cương chính là Ác sát vậy, cho nên nữ kị thấy. Dưới ngày có Dương Nhận kèm Thương quan, chắc chắn là người chủ ác tử. Dần Thân Tị Hợi đầy đủ, Dịch Mã phạm nhiều, cho nên nữ mệnh là kị. Tý Ngọ Mão Dậu là Đào Hoa Sát không nên thấy đủ.

Luận Tiểu Nhi

Phàm mệnh tiểu nhi thấy Tài nhiều tất làm con nuôi vợ lẻ, khắc cha mẹ vậy. Nếu lúc nhỏ hành vận ở đất Tài vượng cũng như vậy. Giáp sinh nghiêng, xoáy đầu không chính, có bọc nhau thai. Đinh sinh lệch, có hai xoáy, nam sinh có chỗ dựa, ứng có khắc hình. Thìn sinh lật lại, vắng cha dễ nuôi dễ dưỡng. Thân sinh có tiếng, Dần sinh chậm, Mùi thì tốt. Thìn có bao nhau thai, sinh ngữa có hoảng sợ. Nói về mệnh tiểu nhi đại để cần thân vượng, tối hỷ có Ấn thụ sinh, không có Tài khắc, thì dễ sinh ít tai họa. Không nên thấy Quan tinh, Thất Sát, Dương Nhận, Thương quan quá vượng, thân vượng cũng nhiều họa, thân nhược thì khó nuôi. Như thấy chỗ Thìn là lo ngại, cần thiết không nên hành vận và tuế quân trợ giúp. Rất lo có Tài vượng, không theo thiếp thì cũng làm con nuôi, khắc cha mẹ vậy. Cũng không nên sớm vào hành vận, vì khí khó đối địch vậy.

Canh Tý, Mậu Dần, Mậu Tý, Đinh Tị. sinh sau giữa tháng, tháng gặp Thất Sát, có dựa vào Đinh hỏa là Ấn thụ, Dần là đất trường sinh, có thể sinh Mậu thổ. Không hợp thấy Canh Tý, chữ Tị, là kim trường sinh, có hai Tý thủy ( Tài tinh) là khắc sinh khí Đinh hỏa, lại sinh trong tháng có Thất Sát, Thất Sát đến khắc thân, thân nhược khó đối địch, cho nên tháng 11 năm đó, chết vậy. Chỗ này là họa sinh Sát hoại Ấn vậy.

Lại như: Quý Dậu, Quý Hợi, Kỷ Sửu, Ất Hợi, mệnh này tứ trụ có Tài nhiều, tự sinh đẻ hầu như đều chết, chưa đầy tuổi, cha mẹ cũng chết, chính là mệnh làm con nuôi. Ngoài ra theo chỗ này mà suy, không có nghi ngờ vậy.

Lời phê】 Tiểu nhi duy chỉ được trung hòa, vượng thì không thể đảm nhận, nhược thì không thể chịu được, chỉ chờ đến năm 15 tuổi, mới có thể phân biệt quý tiện.

Quy tắc luận Tiểu nhi Quan Sát

Mệnh Tiểu nhi, nên luận trụ giờ làm chủ, trước tiên xem Quan Sát, thứ xem cách cục. Nhật chủ cường, Tài Quan vượng, có Quan không có Sát; nhật can nhược, thiếu Tài Quan, thường bệnh có thể dưỡng; nhật can nhược, Tài Quan nhiều, có Quan có Sát. Lại có tam hợp tụ Sát thì khó nuôi dưỡng, không thấy hình xung là thanh âm vang dội, dạ đề cấp tính. Bát tự có Tài Quan, sinh ở gia đình phú quý, Thiên Quan sinh ở gia đình bình thường, Thương quan Kiếp tài sinh ở gia đình bần tiện. Thiên Quan, Thiên Ấn, Thiên Tài, chủ khi sinh ra hầu như nghiêng lệch, nếu không sinh đẻ lần thứ 3 thứ 4. Phép Tử Bình, Thiên Quan là đóng, Thiên Tài là Sát, lấy số sinh thần mà đoán. Thủy 1, hỏa 2, mộc 3, kim 4, thổ 5. Ví như ngày Giáp thì Canh là Sát, là số 4, 9 tuổi; Bính thấy Nhâm là Sát, số 1, 6 tuổi; ngày Mậu thì Giáp là Sát, số 3, 8 tuổi; ngày Canh thì Bính là Sát, số 2, 7 tuổi; Nhâm thấy Mậu Sát, số 5, thấy 10 tuổi. Về phần can âm cũng như vậy, không có không nghiệm vậy.

Lời phê 】 Thuyết Quan Sát, nhiều thuật gia không rõ vậy, nếu có một Sát là đóng ( cửa ải), một Tài là Sát ( là giết), thấy ở năm và giờ, gọi chung là Quan Sát. Ở ngày tháng, đều không chuẩn. Không quan không sát, có quan có sát đều không chuẩn, như có chuẩn nghiệm, thì trong mệnh Tiểu nhi có 10 không giữ được 1, như dựa vào thuyết Thiên Cương, là rất sai lầm vậy.

Luận Tính tình

Tính tình chính là chỗ phát sinh dục vọng vui buồn yêu thích, mừng giận ghét thương, chỗ bày ra Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. Từ máu huyết của cha mẹ mà hình thành, đều là chỗ mối quan hệ của kim mộc thủy hỏa vậy.

○ Ví như Mộc viết là Khúc Trực, vị chua, chủ về Nhân, có lòng trắc ẩn, vui vẻ hiền lành, ích vật lợi dân, giúp người cô độc, điềm tĩnh thanh cao. Nhân vật thanh tú, thể dài, sắc mặt trắng xanh, cho nên gọi là Mộc thịnh đa nhân. Thái quá thì gãy, tính thiên về cố chấp. Bất cập thì ít nhân ái, tâm sinh đố kị.

○ Hỏa viết là Viêm Thượng, vị đắng, chủ về Lễ, tâm khiêm tốn nhường nhịn, cung kính uy nghi, là nhân vật bản chất xem trọng thành thật chất phác. Khuôn mặt dưới tròn trên nhọn, ấn đường hẹp, lỗ mũi lộ ra, tinh thần hay dao động, lời nói nhanh gấp gáp, ý nhanh hay sốt ruột, sắc mặt hơi xanh đỏ, lúc ngồi đầu gối hay đong đưa. Thái quá thì thường cung kính, thông minh, tính lộ ra nóng nảy. Bất cập thì vàng gầy, gian xảo, đố độc, có thủy không có chung.

○ Kim viết là Tòng Cách, vị chua cay, chủ về Nghĩa. Tâm tính hay xấu hổ, thẹn thùng, trọng nghĩa khinh tài, cảm dũng hào kiệt, biết liêm sỉ, chủ người trung dung, cho nên thích hợp với người thân, sắc mặt màu trắng, mi cao mắt sâu, mũi cao tai vảnh, giọng nói cao to, có quả quyết cương nghị. Thái quá thì không có nhân tâm, tham muốn hiếu thắng. Bất cập thì hay suy nghĩ, thiếu quả quyết, gian lận, ít có ý chí làm việc.

○ Thủy viết là Nhuận Hạ, vị mặn, chủ về Trí,tâm tính thị phi, trí túc đa mưu, cơ mưu sâu xa, văn học thông minh. Thái quá thì quỷ trá, phiêu đãng, không có sức lật đổ, âm mưu hiểm ác. Bất cập thì nhát gan không có mưu lược, nhân vật phản chủ , gầy yếu.

○ Thổ viết là Câu Trần Giá sắc, vị ngọt, chủ về Tín, tâm tính thành thực, đôn hậu chí thành, hay chú ý đến lời nói và việc làm, hiếu kính Thần Phật. Chủ người vai rộng lưng tròn, mũi lớn miệng vuông, mắt mũi thanh tú, mặt vuông, sắc mặt màu vàng, xử sự không khinh người, độ lượng khoan hậu. Thái quá thì ngu muội cố chấp. Bất cập thì nhan sắc lo âu, mũi thấp mặt nghiêng, giọng nói nặng đục, thật thà cố chấp; thái quá thì cô đơn keo kiệt, không được tình cảm của mọi người, sâu độc tàn ác, thất tín điên đảo.

Lại như nhật can nhược thì hay xấu hổ thoái lui, nhật can cường thì cuồng vọng hoang đường, tự kiêu cố chấp. Lời nói bên trên là lấy Khinh Trọng (nặng nhẹ), vạn lần không mất một.

Ghi chú】Thông thường xem tính tình con người, đều lấy ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ thủ tượng, giống như thủ bản tính, tứ trụ thì phải không nên xâm phạm lẫn nhau, nếu nhiều thì hỗn tạp, nhân vật không thanh cao. Thụ khắc thì nhiều tật bệnh. Nếu chỉ lấy chỗ thuộc nhật chủ để làm chủ phân ra hình thể, thì chính là đúng vậy, nếu như nắm lệnh, quả nhiên có ứng nghiệm. Nếu là thu mộc điêu linh, chủ người không có đủ. Các hành hỏa thổ kim thủy con lại, suy giống như vậy.

Luận Tật bệnh

Nói về tật bệnh, chính là chỗ chủ khí huyết tinh thần, tất cả đều có tổn thương. Bên trong viết là Tạng Phủ, bên ngoài viết là Hình thể. Can chi bát tự, ý nghĩa ngũ hành sinh khắc, lấy chỗ tổn thương mà đoán. Can chi ngũ hành thái vượng hoặc bất cập đều có bệnh. Kim chủ đao kiếm hình thương, thủy chính là chìm thuyền mà chết, mộc là tự vẫn treo cổ, rắn cắn hổ vồ, hỏa thì đêm ngũ điên đảo, rắn cắn, bị thiêu cháy, thổ là núi sụp đá đè, lún bùn tường sụp.

Nếu như sinh mệnh, thiên can là chỗ thuộc bên trong nội phủ,

Thi viết: Giáp là gan, Ất là mật, Bính là tiểu tràng, Đinh là tim, Mậu là bao tử, Kỷ là lá lách, Canh là đại tràng, Tân là phổi, Nhâm là bàng quang, Quý là thận. Thiên can chỗ thuộc bên ngoài như: Giáp là Đầu, Ất là gáy, Bính cầu vai, Đinh là tim, Mậu là sườn, Kỷ là bụng, Canh là rốn, Tân là đùi, Nhâm là bắp chân, Quý là bàn chân. Tý là bệnh sưng tinh hoàn, Sửu là bụng dạ dày, Dần là cánh tay và tứ chi, Mão là mắt và tay, Thìn là lưng và ngực, Tị là răng và mặt, Ngọ là tim và bụng, Mùi là ngực và là lách, Thân là bệnh ho, Dậu là gan và phổi, Tuất là lưng và phổi, Hợi là đầu và gan. Gan chính là chỗ mầm mống của thận, thận chính là chủ của gan, thận thông ở mắt, mật tàng ở trong tâm hồn, gan tàng ở trong phách, thận tàng ở trong tinh, tâm tàng ở trong thần, tỳ tàng ở trong khí.

Mệnh Mộc thấy nhiều Canh Tân Thân Dậu, là bệnh về gan mật. Bên trong thì động tinh, khiếp nhược lo sợ, bệnh lao, nôn ra máu, đầu mắt mờ ám hoa mắt, hen suyễn, bệnh đầu phù chân, chân tay tê liệt, mắt miệng méo lệch, phong chứng, gân cốt đau nhức. Bên ngoài thì da khô, tai mắt có bệnh, râu tóc lưa thưa, tay chân không đều, bị tổn thương. Nữ thì sảy thai, huyết khí không điều hòa ( Đọa thai còn gọi là sẩy thai, là chỉ phụ nữ sinh bị thiếu tháng, còn gọi là tiểu sản, hay tảo sản. Huyết khí không điều hòa, trung y lấy khí là chủ máu huyết, khí là mẹ của máu huyết, cả hai đều hỗ tương nhau mà cùng tồn tại, nếu như không hòa hợp nhau, thì dẫn đến bệnh, mà khí huyết không điều hòa chính là mầm mống phát sinh ra bệnh. Chỗ này là chỉ con người có khí huyết không điều hòa sẽ dẫn đến bệnh tật về kinh nguyệt). Trẻ em bị giựt kinh phong, khóc đêm ho khan.

Kinh nói: Gân cốt đau nhức, là do mộc bị kim thương.

Ghi chú】Chỗ này là chủ lấy mệnh mộc thấy kim khắc, mới có các bệnh này, khắc nhiều thì nặng, ít thì nhẹ. Nếu người sinh có một mộc vượng mà gặp một kim, cũng không có bệnh này.

Mệnh Hỏa thấy thủy cùng Hợi Tý vượng địa, chủ lo tiểu tràng tâm kinh có bệnh, bên trong thì câm điên, miệng tim đau nhức, kinh phong co giật, lưỡi miệng không đầy đủ nói không được, nóng nhiệt phát cuồng. Bên ngoài thì mắt mờ tối, tiểu tràng thận khí, máu mủ lở loét. Trẻ em thì bệnh đậu mùa lở loét. Phụ nữ thì máu huyết đầm đìa. Hỏa là chủ táo khô, sắc mặt đỏ hồng.

Kinh nói: Mắt mờ u tối, đa số là do hỏa bị thủy khắc.

Ghi chú 】Mắt chính là nơi tụ đủ khí kim mộc thủy hỏa thổ, tình ngũ hành tụ lại hội hợp mà thành, cho nên sáng. Nếu ở đất thụ khắc, thì tình thương bị tổn hại ánh sáng vậy.

Mệnh Thổ thấy mộc và đất Dần Mão vượng, chủ mật, bao tử thụ thương, bên trong chủ chán ăn, dạ dày khí chặn mà buồn nôn, tiêu chảy, cổ trướng, phù thũng, không thể ăn uống, kén ăn, nôn mửa làm tổn hại lá lách. Bên ngoài thì tay trái, miệng, bụng có bệnh, da dẻ khô sáp. Trẻ em bệnh lá lách, cam tích vàng da. Thổ là chủ Ôn, nhiều trì trệ, sắc mặt mềm màu vàng.

Kinh nói: Thổ hư gặp đất thừa mộc vượng, định luận lá lách tổn thương.

Ghi chú 】 Thổ thuộc Tỳ ( lá lách), vượng thì có thể ăn tiêu, nhược thì không thể ăn vào được. Phàm mệnh Thổ thấy nhiều mộc là chủ có bệnh, có kim thì có thể khắc lại mà cứu giải vậy.

Mệnh Kim thấy hỏa và xứ Tị Ngọ vượng, chủ đại tràng và phế kinh bị bệnh, ho suyễn khó thở, bệnh tràng trĩ lậu, mất hồn như gặp ma, chứng khiếp hãi hay lo sợ. Bên ngoài thì da dẻ khô táo, mũi đỏ ung nhọt, bệnh máu mủ ung thư.

Kinh nói: Kim nhược gặp đất hỏa viêm, bệnh máu huyết là không nghi ngờ.

Ghi chú】 Kim chủ phế ( phổi) và đại tràng, nếu thấy hỏa thì là có bệnh, thấy thủy cũng có thể cứu giải. Thủy hỏa tương tế được trung hòa, tự nhiên không có bệnh này.

Mệnh Thủy thấy thổ và tháng tứ quý vượng, chủ bàng quang và thận kinh bị bệnh. Bên trong thì bệnh di tinh bạch trọc, đổ mồ hôi trộm, thấy quỷ đến, hư tổn tai điếc, thương hàn cảm mạo. Bên ngoài thi rau răng, bệnh sa tinh hoàn, đau lưng, bệnh thận, bệnh nôn mửa đau đớn. Nữ nhân chủ thai chết, huyết trắng. Thủy là chủ Hàn. Sắc mặt ngăm đen.

**Kinh nói:** Bên dưới đau lạnh, là do thủy gặp thổ gây tổn thương.

Ghi chú】 Thủy chủ thận kinh, thấy thổ nhiều khắc thì là có bệnh, có mộc nhiều khắc chế thì miễn, nếu không thì người trong thiên hạ chết hết rồi.

Luận Đại vận

Nói về đại vận, lấy thiên can viết Ngũ Vận, địa chi viết Lục Khí, cho nên tên gọi là Vận Khí. Phép Tử Bình, đại vận xem chi, tuế quân xem can, giao vận đồng tiếp mộc.

Là sao vậy? Còn hai chữ can chi, thuyết Lục thập Hoa Giáp sử dụng chữ Hoa, nếu thiên can địa chi đắc thời thì tự nhiên khai hoa kết quả thịnh vậy. Nguyệt lệnh, cũng là thiên nguyên, hành vận thì khởi từ trụ tháng. Ví như mầm giống cây con, nhận thấy mầm thì biết tên, dụng thần chi tháng thì biết cách, cho nên gọi là Giao Vận giống như ghép cây ( Tiếp mộc). Sao mệnh có rễ mầm hoa quả ? Chính là hợp ý này vậy, sao không thích hợp ư!

Xuất Quý nhập Giáp, giống như con người đã ra thì không trở về nữa, phần đa là chủ không tốt. Cổ ngữ nói: Thương hàn đổi Dương, hành vận đổi Giáp, đổi qua thì là người, đổi không qua là quỷ. Giống như Giáp Tuất tiếp Quý Hợi, chỗ này chính là can chi tiếp mộc. Sửu vận giao Dần, Thìn giao Tị, Mùi giao Thân, Tuất giao Hợi, chỗ này chính là Chuyển giác tiếp mộc ( xoay góc ghép cây). Bốn phương Đông Nam Tây Bắc, chuyển giác gọi là tiếp mộc, cách cục hung tử, cách cục tốt xấu, đại kị người già, trẻ trung xui xẻo. Dần Mão Thìn nhất khí, Tị Ngọ Mùi nhất khí, Thân Dậu Tuất nhất khí, Hợi Tý Sửu nhất khí, khí liền nhau, đều nói là không phải tiếp mộc, giống như Giáp Ất gặp vận Dần Mão, danh viết là Kiếp tài, Bại tài, chủ khắc cha mẹ và khắc vợ, có việc tranh giành phá tài. Hành vận Bính Đinh Tị Ngọ tên là Thương quan, chủ khắc con cái, có việc kiện tụng tù tội. Hành Canh Tân Thân Dậu, đất Thất Sát Quan, chủ đắc danh, vượt phát thái quá thì gặp bệnh tai ác tật. Hành vận Nhâm Quý Hợi Tý là sinh khí Ấn thụ, chủ cát khánh tăng sản. Thìn Tuất sửu Mùi Mậu Kỷ tài vận chủ danh lợi hanh thông. Chỗ này chính là thí dụ về Tử pháp (phép chết), phải tùy theo cách cục hỷ kị mà suy, không thể chấp nhất, diệu kỳ là ở thuật biến thông, nói đúng như thần. Can vượng nên hành vận suy, can nhược nên hành vận vượng, chính là “Can nhược thì giữ cầu khí vượng, có dư thì hỷ cầu bất túc” . Cần phải biến thông, chớ kiêm thêm Cô Quả, Không Vong, Câu Giảo, Tang Môn, Điếu Khách, Trạch Mộ, Bệnh Tử, Quan Phù, Bạch Hổ nhiều sát mà suy, ứng nghiệm như thần.

Lại còn một phương pháp:Dương Nhận, Đào Hoa, Phục ngâm, Phản ngâm, hưu tù, tử tuyệt, suy bại là hung vận. Đế vượng, lâm quan, lộc mã, quý nhân, sinh dưỡng, quan đới, khố là cát vận. Như Không, hung gặp Không lại cát, Cát gặp Không lại hung. Đại vận không nên cùng Thái Tuế tương khắc tương xung, tương xung là hung, lại hình xung tương khắc cũng là kị. Tuế xung khắc Vận là cát, vận khắc Tuế là hung, cách cục gặp tử là không cát. Tuế vận tương sinh là cát, Lộc Mã Quý nhân hợp giao hỗ cũng cát. Nên xem xét thật kĩ càng, cẩn thận mà suy, không có không ứng nghiệm vậy.

Chú thích 】Chỗ nói lấy năm là gốc, lấy tháng là mầm, lấy ngày là hoa, lấy giờ là quả, quả có thể kết hạt là vậy, là lấy ví dụ cho cả đời người. Dụng thần, trong tháng có chữ tàng ẩn, như cung Tý lấy Quý thủy. Chuyển giác giao vận giống như tiếp mộc, mà tiếp mộc chỗ kị có gió lớn làm lay động, thì tổn hại rễ tất đoán phải gãy, cho nên phải giữ gìn bảo vệ vậy. So với hành vận, nếu gặp Ác sát hoặc lưu niên tương khắc cũng chủ hung. Ví như Dần giao Mão, Mão giao Thần, chỗ này chính là Đông phương nhất khí, gọi là Di Hoa, mặc dù gặp gió bão cũng không tổn hại, lấy so với mệnh, dù gặp Ác tinh tương khắc cũng không hại mệnh. Nếu gặp vận khí tốt, phía Đông cây Bách cây Tùng xanh tốt nở hoa phía Tây, phía Nam hoa thịnh phía Bắc nở hoa. Nếu vận khí không tốt, thì viết là Tiếp mộc di hoa, là chủ hung.

Luận Thái Tuế cát hung

Thái tuế chính là vua trong một năm, cho nên không thể phạm, phạm thì hung. Kinh nói: “Ngày phạm Tuế quân, tai ương tất nặng, ngũ hành có cứu, năm đó trái lại gặp tài.” Ví như ngày Giáp thấy Thái tuế Mậu thổ là vậy, khắc nặng thì chết. Giáp Ất nếu ngày giờ Dần Mão Hợi Mùi, phạm khắc Tuế quân, quyết chết không nghi ngờ. Có cứu thì cát, chính là bát tự có Canh Tân Dậu Tị Sửu kim cục vậy. Kinh nói: Mậu Kỷ lo gặp Giáp Ất, can đầu cần có Canh Tân, hoặc Bính Đinh hỏa cục đốt mộc, có họa chớ hung, chỗ này suy ra hiệu quả. Hoặc được Kỷ hợp Giáp cũng cứu giải. Đại để Thái tuế không thể tổn thương, tương sinh là cát, chính là ngũ hành có cứu, năm đó trái lại tất được tài. Phạm Tuế quân, năm đó tất chủ hung tang, khắc vợ cùng phá tài gặp thị phi, vì phạm thượng. Lại thêm Câu Giảo, Không Vong, Hàm trì, Trạch Mộ, Bệnh Phù, Tử Phù, Bạch Hổ, Dương Nhận nhiều Sát cùng lâm, họa hoạn cả trăm điều. Thần Sát thêm gần, phải suy khinh trọng. Nhật can dù không khắc Tuế, e sợ vận khắc Tuế Quân, nếu thêm tuế vận xung hình, Dương Nhận xung hợp, chủ phá hao tang sự, nếu có Quý nhân Lộc Mã giải cứu thì hơi cát. Bát tự có cứu không ngại. Cho nên nói: Thái tuế chính là chủ chúng sát, nhân mệnh mà gặp vị tất là họa. Nếu gặp đất khắc chiến, tất chủ hình ở bản mệnh.

Chú thích】 Giống như sinh ngày Giáp gặp lưu niên năm Mậu, là mộc khắc thổ, cho nên viết là phạm Tuế Quân chủ hung họa, trong trụ vốn có Canh kim chế Giáp, Giáp bị chế thì không thể khắc Mậu thổ, gọi là Ngũ hành có cứu. Mậu chính là Thiên Tài của Giáp, thì trái lại là gặp Tài. Cho nên nói mô phỏng ngũ hành là chỗ này. Phàm ngày phạm Tuế quân, tức là quân thần khắc nhau, tất có một chết, thần phạm tội hình quân là rất nặng, cho nên nói hình ở bản mệnh.

Luận vận hóa khí

Nói ngũ vận hóa khí là:

Giáp Kỷ hóa thổ Ất Canh kim,

Đinh Nhâm hóa mộc sẽ thành rừng,

Bính Tân hóa thủy phân thanh trọc,

Mậu Quý Nam phương gần ngọn lửa.

Về phần hợp mà hóa,lấy năm lấy tháng thấy chỗ thiên can ngũ hành sinh ngũ hành. Như năm Giáp Kỷ tháng giêng là Bính Dần, thiên can Bính hỏa sinh thổ, cho nên Giáp Kỷ hợp thì hóa thổ; năm Ất Canh tháng giêng là Mậu Dần, thiên can Mậu thổ sinh kim, cho nên Ất Canh hợp hóa kim; năm Bính Tân tháng giêng là Canh Dần, thiên can Canh kim sinh thủy, cho nên Bính Tân hợp hóa thủy. Còn lại theo chỗ này mà suy.

Giáp Kỷ hóa thổ, là hợp trung chính. Thìn Tuất Sửu Mùi đầy đủ viết là Giá Sắc, là Câu Trần đắc vị. Ất Canh hóa kim, là hợp nhân nghĩa, Tị Dậu Sửu đầy đủ viết là Tòng Cách. Mậu Quý hóa hỏa, gọi là hợp vô tình, được hỏa cục viết là Viêm Thượng. Bính Tân hóa thủy được Thân Tý Thìn thủy cục viết là Nhuận Hạ. Đinh Nhâm hóa mộc, đượ Hợi Mão Mùi đầy đủ viết là Nhân Thọ.

Thiên can hóa hợp, là tú khí. Địa chi hợp cục, là phúc đức. Hóa chân, là công danh cự khanh. Hóa giả, là cô nhi dị tính. Phùng long tức hóa, biến thành Rồng bay lên trời, lợi thấy đại nhân. Nguyệt lệnh sinh vượng, chỗ dưỡng khố lâm quan là hóa. Âm dương được hợp, mất phối vợ chồng, khí trung hòa mà hóa, thái quá hay bất cập đều không thể hóa. Có Phu tòng Thê hóa, Thê tòng Phu hóa, Chính hóa, Thiên hóa, Nhật hạ tự hóa. Chuyển giác hóa, chính là Mùi Khôn Thân, Sửu Cấn Dần. Kinh nói: Đông Bắc mất bạn, Tây Bắc được bạn. Ngày Giáp thấy Kỷ tự hóa thổ, Kỷ thấy Giáp cũng vậy, chính là chân hóa gọi là Chính hóa. Chân hóa thì công danh cự khanh, là cách phú quý. Giả hóa là cô nhi dị tính, hoặc là tăng đạo. Đây là mở rộng hiệu lực của thập can. Nhưng Mậu Quý hóa hỏa, phía Nam không hóa Ngọ, phía Bắc không hóa Tý. Ngọ là Thiếu âm vua của hỏa, cho nên không hóa. Dần Thân chính là hỏa Thiếu dương, là hóa. Kinh nói: Cách cục hóa, trong huyền bí lại càng huyền bí, trong kì diệu lại càng kì diệu, không thể đều kể ra. Nên xem Thiên Nguyên Thần Thú bát pháp: Phản, Chiếu, Quỷ, Phục, Loại, Thuộc, Tòng, Hóa, cẩn thận suy nghĩ mới rõ.

Chú thích 】Phép này cũng theo Giáp Kỷ khởi Canh Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, gặp Long (Thìn) liền hóa, còn lại theo chỗ này mà suy. Thi quyết thấy ở quyển năm, chỗ này chỉ nói sơ lược.

Hóa khí Thập Đoạn Cẩm

1, Giáp tòng theo Kỷ hợp, dựa vào sinh ngôi thổ. Gặp Ất ám tổn thê tài. Gặp Đinh không thành y lộc. Quý hiển cao môn, chính là vì lực Tân kim. Gia đình thịnh vượng đại phú, đều dựa vào công của Mậu thổ. Thấy Quý, cả đời phát phúc. Gặp Nhâm, cả đời phiêu bồng. Tháng gặp Canh kim, nghèo rớt mồng tơi. Giờ gặp Bính hỏa, lộc hưởng nghìn chung.

Kỷ có thể hóa Giáp, tú ở chỗ Dần. Gặp Đinh bị người khác lăng nhục. Gặp Ất bản thân gặp gian truân. Dương thủy trùng trùng, làm khách bôn tẩu hồng trần. Canh kim cứng nhọn, người cô hàn bạch ốc. Bính tàng ở trong Tân, tất được quý khí. Mậu ẩn trong Quý, không đến nỗi phải bần. Nhưng nếu quan chức vinh thăng, trước tiên cần thấy Quý. Gia đình thịnh vượng cự phú, việc ở gặp Tân.

Chú thích 】:

Giáp Kỷ trung ương hóa thổ thần,

Giờ gặp Thìn Tị chiếu bụi trần,

Trong cục năm tháng gặp đất viêm (nóng),

Mới hiển công danh người phú quý.

Giáp Kỷ can đầu sinh gặp xuân,

Cả đời làm việc đầy phí công,

Có Sát gãy mục lại thành vụng,

Cô khổ mồ côi đến không ngừng.

2, Ất tòng theo Canh hóa, khí nắm Tây phương. Khó khăn vì sinh gặp ngôi Bính, vinh hoa này dài ở đất Nhâm. Đinh hỏa nắm quyền, mặt trời cười giống tựa hoa xuân. Cả đời hướng về Tân kim, như cây cỏ gặp sương. Tối hỷ đến Kỷ, vàng ngọc đầy nhà. Cần lệch hướng Giáp, lúa chở đầy kho. Ngày ngày phí công, chỉ vì Câu Trần làm loạn. Giờ giờ phí lực, chỉ vì Huyền Vũ thành họa.

Canh tòng theo Ất hóa, chất kim càng cứng. Tối kị có Tân kim ám tổn. Chỉ sợ thiên về Bính hỏa nấu chảy. vậy gặp Đinh Quan, tự Giao Long gặp được mây mưa. Vậy gặp Tị Mão, như chim Bằng chim ó ở mùa thu. Quý thủy vượng, ruộng vườn phiêu đãng. Nhâm thủy thịnh, tài lộc tăng thêm.Gặp Mậu xúc phạm, không thành cự phú. Gặp thủy trợ lực, quanh năm lâu dài.

Chú thích】 Ất Canh kim cục vượng ở Dậu, thời kỳ tòng khắc là chi tháng, Mậu Thìn Sửu mộc như tương khắc, chỗ này danh môn tương tương nhi. Nhị Canh rất sợ hỏa viêm hại, chí khí tiêu tan chủ bất lương, Dần Ngọ trùng phùng là hạ cách, lại thêm bôn tẩu chết bất ngờ.

3, Bính là dương hỏa, gặp Tân hóa thủy. Có phúc ở vị trí Mậu thổ. Thành danh ở Ất mộc lâm thân. Quan tước vinh thăng, sinh gặp Quý Tị. Gia môn hiển đạt, sinh ở Canh Dần. Mạnh mẽ khởi ở Giáp Ngọ. Họa bại phát ở Nhâm Thìn. Lần lượt gặp Đinh âm, dẫu có phú quý khó có mấy ngày. Trùng phùng Kỷ thổ, dù vinh hoa cũng tựa phù vân. ( Thủy lấy hỏa là Tài, lấy thổ là Quan, như thấy nhiều, tất có thương hại vậy. )

Tân có thể hóa thủy, gặp Bính mới thành. Tứ trụ cần nhất là thấy Mậu. Cả đời hỷ nhất gặp Canh. Thấy Kỷ thì năm nào phát phúc. Gặp Nhâm thì năm nào thành danh. Quý thủy vượng, dẫu có khốn mà không khốn. Giáp mộc vượng, dù có vinh mà không vinh. Phú quý vinh hoa, trùng trùng thấy Ất. Thương tàn cùng bách, điệp điệp gặp Đinh.

Chú thích 】 Bính Tân hóa thủy sinh tháng mùa đông, ngày âm thấy giờ phải có tình, có thổ trong cục cần phá dụng, được kim tương trợ phát tiền trình.

4, Đinh là âm hỏa, hỷ gặp dương Nhâm. Thấy Bính thì trăm năm yên ổn. Gặp Tân thì cả đời an nhàn. Phú quý song toàn, hỷ Giáp đến ở Thiên xứng. Phúc ban song mỹ, vui Kỷ cùng ở Kim Ngưu. Tính toán không thông, đều do Mậu bại. Sinh nhai vắng lặng, bởi vì do Quý. Ất mộc trùng trùng, tài lộc quyết không thành tựu. Canh kim sáng rực, công danh chớ nên cưỡng cầu.

Nhâm tòng Đinh hóa, hay là ở Đông phương. Gặp Giáp thì bị ngã ngựa, gặp Tân thì có nhiều điền trang. Bính hỏa gặp nhau, chính là anh hùng hào kiệt. Quý thủy cùng hội tụ, mua bán gặp nhiều gian khổ. Phối Ấn ngồi cao, Kỷ đến làm quan. Phiêu bồng lạc phách, Mậu mang Sát Quan. Đầu bạc không thành, đều do Canh kim thừa vượng. Thanh niên không gặp cơ may, bởi do Ất mộc gây ra họa.

5, Mậu theo tòng Quý hợp, hỏa hóa thành công. Thấy Ất thì cuối cùng có thể hiển đạt. Gặp Nhâm thì cũng tự thịnh vượng. Nhiều lộc giữ củng, hỷ Đinh đến ở ngôi Tị. Lục thân bất hòa, do Giáp vượng ở cung Dần. Bính hỏa quá viêm nóng, khó tìm phúc lộc. Canh kim chói sáng, dễ thấy hanh thông. Vợ con tổn hại, đều do Kỷ vượng. Mưu cơ gãy đổ, là do Tân cường thịnh.

Quý theo tòng Mậu hợp, lúc đến hỏa hóa. Bính tàng trong Tân, cả đời nhiều thành cũng nhiều bại. Giáp ẩn trong Kỷ, trăm năm lao lực lao tâm. Kho khố dồi dào, mừng gặp Đinh hỏa. Điền tài Ấn thực, hỷ gặp Canh kim. Quan tước thăng vinh, liên tục thấy Ất. Nắm tài phú quý, trên dưới gặp Nhâm. Tài nguyên được mất, đều do Tân kim quá vượng. Đường quan lận đận, bởi vì Kỷ thổ xúc phạm.

Chú thích

Mậu Quý Nam phương hỏa cao chiếu,

Trên chiếu ánh sáng hiển anh hào,

Trong cục không thủy hại can tháng,

Nhảy qua Long môn đoạt cẩm bào.

Thiên nguyên Mậu Quý chi tàng thủy,

Phá bại môn đình việc thay đổi,

Đắc vận lại gặp đất sinh vượng,

Hại vợ khắc con khởi phong ba.

***********************

Quyển ba (2)

Thần thú bát pháp: có Loại, Thuộc, Tòng, Hóa, Phản, Chiếu, Quỷ, Phục

Loại Tượng, chính là thiên địa một loại vậy. Như người sinh mùa xuân, thiên can Giáp Ất, địa chi đầy đủ Dần Mão Thìn không có phá hoại gián đoạn, gọi là Đông phương đoạt một khối tú khí, rất sợ dẫn tới giờ là đất tử tuyệt, gọi là phá tú khí. Vận tới tử tuyệt thì không tốt. Hoặc trụ năm trụ giờ dẫn tới sinh vượng, gọi là Tú khí gia lâm, rất rốt thập phần.

(Bài rất dài — đã rút gọn khi nhập từ bản web cũ.)