Thuật trạch cát của người phương Đông trong Lịch Vạn Sự

🏷 Lịch Pháp ✍ Học quán Sơn Chu 🕒 18/06/2026
Thuật trạch cát của người phương Đông trong Lịch Vạn Sự

Trạch cát là một môn thuật số, lại là một loại tín ngưỡng, bất luận mọi người nhận thức, bình xét nó như thế nào thì nó vẫn phù hợp với tâm lí và là chỗ nương tựa của con người, nên nó có thể giúp con người tăng thêm lòng tự tin. Do đó không chỉ tại Trung Quốc đại lục và các nước…

Thuật trạch cát của người phương Đông trong Lịch Vạn Sự

Trạch cát là một môn thuật số, lại là một loại tín ngưỡng, bất luận mọi người nhận thức, bình xét nó như thế nào thì nó vẫn phù hợp với tâm lí và là chỗ nương tựa của con người, nên nó có thể giúp con người tăng thêm lòng tự tin. Do đó không chỉ tại Trung Quốc đại lục và các nước phương Đông, mà tại xã hội phương Tây cũng có thuật Trạch cát. Phương Tây căn cứ vào thuật chiêm tinh để suy đoán sự cát hung, nghi kị theo thời gian.

Thuật trạch cát theo nghĩa rộng bao quát cả bát quái của Chu dịch Thái ất, Lục nhâm, Kì môn độn giáp, Cầm tinh, Tòng thời, Kiến trừ, Kham dư, Phong giác, Chiêm tinh, Cô hư… trong đó có thuật số. Chúng đều thông qua các phương pháp nhất định để cung cấp cho mọi người những thông tin, tin tức liên quan đến việc cát hung.

Trạch cát theo nghĩa hẹp là lấy lịch pháp can chi làm nền tảng, căn cứ vào năm tháng ngày giờ mà các thần sát cát hung trực ở đó để tiến hành tính toán, tổng hợp mà tuyển chọn ngày cát, giờ cát theo một phương pháp nhất định. Giản đơn mà nói, trạch cát chính là căn cứ theo một phương pháp nhất định tuyển chọn ngày cát lợi, cho nên dân gian gọi nôm na là “trạch nhật” tức là “chọn ngày”, “xem ngày”, thời cổ gọi là “chọn ngày lành”, “hỏi ngày lành”.

Đặc điểm lớn nhất của con người là có năng lực tư duy, và chỉ dựa vào ưu thế đó mà con người mới có thể hàng phục được muôn loài trở thành người chủ của vạn vật, sáng tạo ra đại thế giới muôn màu muôn vẻ đẹp tươi. Nhưng năng lực tư duy đó cũng tạo cho con người một nhược điểm rất lớn: nó khiến cho người ta bối rối đến khiếp sợ và tuyệt vọng mà lại không có cách gì thoát khỏi sự quấy rầy, làm phiền của nó. Thế là, so với các loại động vật tương tự khác, tiêu chuẩn của con người lành mạnh đòi hỏi phức tạp gấp 3 lần: đã cần có thân thể khoẻ mạnh, lại phải có tâm lí lành mạnh, ngoài ra còn cần có một xã hội thích hợp với tính chất tốt lành. Chỉ cần một điểm không đủ yêu cầu là sự cân bằng của cả tam giác có thể bị suy yếu, bị phá hoại, vì thế, con người càng hi vọng đạt được, điều mong muốn tốt lành, thành công thì lại càng sợ bị tổn hại gặp các điều ngang trái, thất bại.

Trong khi sức sản xuất và trình độ nhận thức của nhân loại hãy còn tương đối thấp kém, chưa có thể đảm bảo được nguồn thức ăn cho mình, chưa có thể phòng tránh có hiệu quả với nóng, lạnh bệnh tật và các loại tai hoạ mà bất kì lúc nào cũng có thể ập đến, chưa có thể nắm được tiến trình và kết quả của sự việc thì con người cần sự trợ giúp ở thần linh. Thế là sản sinh ra thuật đồng cốt, hình thành các tôn giáo, xuất hiện việc cúng tế và bói toán. Trạch cát chính là một loại bói toán, cùng với sự sinh tồn và phát triển của nhân loại chúng đã có tác dụng tích cực.

Nhưng sau đó, khi sức sản xuất và khoa học đều phát triến tiến bộ thì cũng không thu hẹp được phạm vi của bói toán, không giảm bớt được lòng mong đợi của mọi người đối với thần linh. Bởi vì tầng lớp thấp thì mong muốn được no đủ, tầng lớp trên thì lại mong đạt được những nguyện vọng cao hơn; bản năng của con người chẳng bao giờ biết được thế nào là đủ khiến cho cả nhân loại còn tiếp tục truy cầu mãi, không thể dừng được

Thuật chiêm bốc của Trung Quốc có thể truy ngược lên đến thời kì Xuân Thu Chiến Quốc, khi mà các vương triều suy yếu, đại thần chuyên quyền, chư hầu nổi dậy, nước mạnh xâm lăng nước yếu kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu, chiến tranh xảy ra ở nhiều nơi. Ngày xưa khi thiên tử không còn ai triều cống thì lo buồn, thê thảm. Không ít chư hầu do nội bộ chia rẽ, tranh quyền đoạt lợi mà phải cong đuôi chạy lủi thủi như chó của nhà có tang. Có nhiều chủ nô của cải nhiều thế lực mạnh, nhưng cũng chỉ được một thời, đến lúc nô lệ bỏ đi ruộng đất bỏ hoang thì lụn bại khốn quẫn. Chiến tranh liên miên, đói rét dịch bệnh không dứt, quảng đại nhân dân phải chịu tai hoạ nặng nề. Thậm chí đã xuất hiện thảm cảnh “đổi con cho nhau để ăn, róc xương người mà tiến”. Trong xã hội đó, đâu đâu cũng thấy các thủ đoạn đẩy người vào cạm bẫy, vào thất bại, lụn bại, đồng thời đến đâu cũng thấy các thủ đoạn đưa bọn cơ hội bốc lên nhanh, một bước thành quan lớn và bước lên thềm vàng. Làm sao phát hiện được cạm bẫy tránh khỏi thất bại, làm sao tìm được cơ hội để đạt được thành công tâm lí đó ở một thời điểm nào đó là rất cấp bách.

Thế là rất nhiều người khốn khổ tìm đến sự “cảm ứng của trời cao”, cho nên đã chọn con đường tìm kiếm sự phù hộ của thiên thần. “Sử kí – Thiên quan thư” nói: “Bởi vì đương thời liệt cường nổi dậy, công phạt lẫn nhau, chiến tranh liên miên, thành ấp nhiều lần bị tàn phá lại thêm nạn đói, bệnh tật và các khổ nạn khác, vua tôi trên dưới đều lo sợ gặp phải tai hoạ. Cho nên việc xem thiên tượng, khí của các sao, xét sự phúc tường là điều hết sức cần thiết và cấp bách. Các nước đều xuất hiện các nhà chiêm tinh trứ danh. Như Thời Xuân Thu, có Tử Thận của nước Lỗ; Tì Táo của nước Trinh, Bốc Yển của nước Tấn, Tử Vi của nước Tống. Thời Chiến quốc, nước Sở có Cam Đức, nước Ngụy có Thạch Thân. “Thiên văn tinh chiêm” của Cam Đức, “Thiên Văn” của Thạch Thân được kết hợp lại thành “Cam Thạch tinh kinh” mang tên của cả 2 người sáng tác ra. Đương thời, đại thần các nước hầu hết đều tinh thông môn chiêm tinh học.

Thế là, lấy chiêm tinh học làm đầu, các loại thuật số về dự trắc và chiêm nghiệm, như măng mùa Xuân sau mưa cùng nhau vươn lên. Đã xuất hiện hạng người chuyên làm nghề xem bói để sinh sống, mà nghề này thu nhập cũng khá, một người làm đủ để nuôi sống 10 miệng ăn. Tập tục trạch cát biện sự đã bắt đầu lưu hành. Ở thời kì Xuân Thu Chiến Quốc, các vương thất và các nước có thói quen chọn ngày theo nguyên tắc: “Việc ngoài dùng ngày cương, việc trong dùng ngày nhu”. Những kẻ sĩ làm lễ đội mũ đều để ý kiếm tìm “lệnh nguyệt cát nhật”. Căn cứ vào sách vở để lại thì Ngũ Tử Tư của nước Ngô, Phạm Lãi của nước Việt, các đại phu… đều sở trường chọn ngày giờ cát dựa vào can chi, mà nhiều lần đã nghiệm đúng một cách kì lạ. Có thuyết cho rằng Phạm Lãi lúc đem Tây Thi trốn đi đã mang theo cuốn “Huyền vũ thiên không uy hành”, sau đó có tin ông đã chết, lúc lại có tin ông bị điên khiến Việt vương Câu Tiễn chẳng biết ra sao nữa.

Đến đời Hán, thuật trạch cát đã thịnh thành xong, mà không chỉ có một nhà. “Sử kí – Nhật giả liệt truyện” ghi chép: Thời Hán Vũ đế có một lần nhà vua triệu tập các trạch nhật gia trứ danh ở thành Tràng An và hỏi ngày X nào đó có thể lấy vợ được không? Ngũ hành gia nói là có thể, Kham dư gia nói là không thể, Kiến trừ gia nói là không cát, Tòng thời gia nói là đại hung, Lịch gia nói là tiểu hung Thiên nhân gia nói là tiểu cát, Thái nhất gia nói là đại cát mỗi người giữ cái lí của mình, tranh cãi nhau chẳng ai chịu ai, Cuối cùng Hán Vũ đế tuyên bố: “Các việc nên làm hay phải kiêng đều dựa vào ngũ hành làm chính”. Đó là lời nói quyết định giải quyết các đầu mối gây ra sự tranh cãi đó.

Theo “Sử kí – Nhật giả liệt truyện” và “Hán thư – Phương thuật liệt truyện” thì thuật trạch cát của đời Hán có Ngũ hành, Kham dư Kiến trừ, Tòng thời, Lịch gia, Thiên nhân, Thái nhất, Phong giác, Kì môn, Thất chính, Nguyên khí, Lục nhật thất phân, Phùng chiêm, Nhật giả, Đĩnh chuyên, Tu du, Cô hư, Lục Nhâm, Cầm tinh, Lộc mệnh.., cộng thêm 20 nhà, trong đó không ít phái đã hình thành xong từ thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Các thuật trạch cát đã lưu hành ở đời Hán trên cơ bản, là một thể, có hỗ trợ nhau nhưng không dựa hẳn vào nhau, không bao trùm lên nhau. Có thuật thì tương đối đơn giản, nông cạn, có thuật lại rất phức tạp, sâu xa, rắc rối khó hiểu.

Cùng với sự phồn thịnh của thuật trạch cát và sự lưu hành tập tục trạch cát, ở đời Hán đã xuất hiện “Táng lịch” chuyên bàn về cát hung, cương nhu của ngày mai táng, “Tế lịch” chuyên chép sự cát hung trong việc cúng tế, có cả “sách về tắm gội”, “sách về cắt may quần áo” chuyên chép về thuật chọn ngày cát hung cho việc tắm gội, cắt may, và cả những sách chuyên bàn về cát hung của việc xây dựng sửa chữa nhà ở, di chuyển chỗ ở. Một số sách lịch về chọn ngày tuy đã ghi đầy đủ những ngày cát hung cho một số sự việc thiết yếu của mọi người, nhưng dù sao cũng không thể có đủ chỗ cho các sự việc lớn nhỏ về sản xuất và sinh hoạt của người dân Trung Quốc nhất nhất đều được ghi vào sách được. Thế là thuật trạch cát cùng với sách lịch ghi chép về tiết khí, năm tháng, ngày, giờ đã kết hợp với nhau ngày càng chặt chẽ, có một loại sách lịch về sản xuất tựa như “Trạch cát hoàng lịch” của đời sau. Người biên chú sách lịch lúc đó tại mỗi can chi ở bên dưới lại phụ chú thêm vào các tiết khí, các ngày tế lễ quan trọng, ở bên trên lại phụ chú ngày Kiến, Trừ, Mãn,… của 12 trực, ghi cả Phản chi, Huyết kị, Đại thời, Tiểu thời, Thổ phủ, Nguyệt sát… rất thuận tiện cho mọi người chọn ngày để tiến hành công việc.

Nội dung chú giải trong các sách lịch đời Hán, nhìn chung hãy còn ít, nhưng cũng đại biểu được cho xu hướng phát triển của thuật trạch cát, là mầm mống cho việc làm thành “Trạch cát hoàng lịch” của đời sau. Vì vây mà từ đời Hán về sau các thuật trạch cát Kiến trừ, Tòng thời, Kham dư, Lịch gia, Ngũ hành, Cô hư, Lộc mệnh, Lục nhâm, Kì môn, Thất chính… đã phát triển liên tục, mạnh mẽ, các nội dung chủ yếu của thuật trạch cát được đưa vào trong đó, đồng thời hình thức biểu hiện cũng không ngừng được hoàn thiện. Đến đời Đường, các yếu tố và hình thức cơ bản của Trạch cát hoàng lịch đời sau về đại thể đã hoàn chỉnh rồi. Đến đời Lưỡng thống thuật trạch cát và hình thức biểu hiện ở hoàng lịch của nó, so với đời Thanh đã không khác nhau mấy nỗi, đã hoàn chỉnh rồi.

Thuật trạch cát đời Hán lấy “phân ra” làm đặc trưng, học thuyết của mỗi nhà tự nó đã là một chỉnh thể. Thuật trạch cát đời sau lấy “hợp lại” làm đặc trưng, học thuyết của các nhà hợp lại thành một chỉnh thể và lấy hoàng lịch làm hình thức biểu hiện.

Thuật trạch cát về sau, do các nhà trạch cát nổi danh đời Hán không ngừng phát triển, dung hợp mà thành một thể phức hợp, bởi thế các thần sát của nó không chỉ nhiều về số lượng, mà còn sự cát hung thiện ác cũng không giống nhau. Phàm mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày, cả đến mỗi giờ đều đã có cát thần, lại có hung sát, đây cát, kia hung mâu thuẫn nhau. Nếu gặp hung sát mà phải kiêng kị, tránh đi thì một năm 365 ngày cơ hồ không có được ngày nào có thể làm việc thực sự được. Bởi vậy trạch cát biện sự không thể hoàn toàn câu nệ vào sự cát hung của thần sát được; mà cần có nguyên tắc và phương pháp biến thông để chọn xem nên dùng hay bỏ. Thuật trạch cát là một hệ thống phức tạp hẳn cần đến sự biến thông.

Sự việc có lớn nhỏ, nặng nhẹ không giống nhau, cho nên việc chọn ngày cát, phương cát cũng phức tạp hay đơn giản, khó hay dễ không giống nhau. Nguyên tắc chung là: việc nhỏ chỉ cần chọn ngày, giờ, việc lớn thì cần phải xem rõ năm, tháng. Những việc như nhập học chỉ cần chọn ngày Thành, ngày Khai là có thể được, ngoài ra không phải kiêng kị gì, chữa mắt thì không dùng ngày Bế, để cho mắt có thể sáng tỏ như cũ, lợp nhà thì tránh ngày Thiên hỏa và ngày Ngọ (Ngọ thuộc Hoả) để khỏi phải lo gặp hỏa hoạn.

Nguyên tắc dùng hay bỏ của trạch cát, cứ theo “Hiệp kỷ biện phương thư” quyển 10 nói thì: “Phàm cát đủ để tháng hung thì theo nghi không theo kị, phàm cát hung chống nhau thì việc đức, việc hỉ vẫn kị, phàm cát không đủ thắng hung thì theo kị không theo nghi” Cụ thể mà nói, khi các cát thần và hung sát lẫn lộn thì phương pháp xử lí không ngoài 6 tình huống:

1. Cát đủ thắng hung thì theo nghi không theo kị 2. Cát đủ chống hung ngộ Đức thì theo nghi khống theo kị, không ngộ Đức thì có khi theo nghi, có khi theo kị. 3. Cát không chống nổi hung, ngộ Đức mà cát thắng thì theo nghi không theo kị, còn không ngộ Đức thì theo kị không theo nghi. 4. Hung thắng cát, ngộ Đức bắt đầu chống nhau thì theo nghi không theo kị, không ngộ thì theo kị không theo nghi. 5. Hung lại gặp hung, ngộ Đức vẫn theo kị không theo nghi, không ngộ Đức thì mọi việc đều kị, 6. Hung chồng lên đại hung, ngộ Đức thì mọi việc vẫn phải kị. Các hung sát đã chồng lên nhau, không kể lực lượng lớn nhỏ, nặng nhẹ, chủ thứ, nhất thiết phải tránh đi.

Trừ nguyên tắc cơ bản đó, thuật trạch cát còn nhiêu phương pháp quyền biến khác, như phép quyền biến trong việc tu tạo, phép quyền biến trong việc an táng, phép quyền biến trong việc lấy vợ gả chồng… Ngoài ra còn có phép chế sát, hoá sát.

Chế sát hoá sát có nghĩa là xem sự cát hung của các thần sát lớn hay nhỏ, nặng hay nhẹ rồi dựa vào ngũ hành của chúng xem có thể chế được hay không, có thể hoá được hay không, để quyết định nên dùng hay bỏ, Tóm lại nguyên tắc là: đại sát thì tránh đi, trung sát thì chế hoặc hoá đi, tiểu sát thì chỉ cần cát tinh chiếu lâm là có thể dùng được. Cụ thể mà nói chế sát là căn cứ vào ngũ hành của hung sát mà lấy cái tương khắc với nó chế đi. Nếu sát thuộc Kim thì lấy Hỏa chế đi; sát thuộc Hỏa thì lấy Thủy chế đi. Chỗ nói “Kim đến khắc Mộc thì Hỏa báo thù cho Mộc; Hoả làm tiêu Kim thì Thủy rửa nhục cho Kim” ý là như vậy. Như sát cư ở phương Tây Canh, Dậu, Tân thuộc Kim thì dùng ngày Bính, nếu được năm, tháng, ngày, giờ đều là Bính thì càng đẹp, khi đó Kim sát bị Hỏa thần khắc chế, nếu không sẽ có hại. Nếu sát đóng là phương Nam Bính, Ngọ, Đinh thuộc Hỏa thì dùng ngày Quí Hợi, Nhâm Tí là ngày Thủy có thể chế được ngọn lửa hung ác ấy, chuyển hung thành cát. Còn hoá sát là căn cứ vào ngũ hành của hung sát lấy chỗ tương sinh, tương thân với nó hoá đi, như sát thuộc Mộc khắc Thổ thì dùng Hỏa cục, khiến cho Mộc sinh Hoả, Hỏa lại sinh Thổ thì tham sinh mà quên khắc, xoay lại là ân ở trong ân. Trường hợp sát thuộc Thủy có khi dùng thủy cục, đó là dùng loại tương thân thì sát lại biến đổi thành thân bổ trợ, như sát tại phương Đông, ở Dần, ta dùng ngày Giáp (năm, tháng, ngày, giờ đều là Giáp càng đẹp). Giáp – Lộc tại Dần, sát ấy là Lộc của ta; người mệnh Giáp mà dùng thì lại là Lộc của sinh mệnh, Giáp sơn, Giáp hướng mà dùng thì cũng là Lộc của sơn hướng. Nếu sát tại phương Bắc, đóng ở Hợi thì 8 dùng ngày Dậu hoặc Sửu (năm tháng, ngày, giờ đều là Tị Dậu Sửu càng tốt) Ngày Dậu Mã tại Hợi nên sát là ngựa của ta. Mệnh Tị Dậu Sửu mà dùng thì sát lại là ngựa của sinh mệnh, Tị Dậu Sửu sơn hướng mà dùng thì sát là ngựa của sơn hướng. Những trường hợp như thế, chẳng những không hung mà còn đại cát. Cho nên thời xưa “Thông thư” có nói: Nếu muốn phát thì cần tu chỉnh tam sát”. Có thể thấy hung sát hoá thành cát diệu là do người am hiểu tính chất của nó mà có phép chế hoá thích hợp để dùng.

Khi so sánh việc chế sát và hoá sát với nhau, người xưa cho là: chế giống như lấy sức khuất phục người, chẳng may lực không thể thắng được thì trái lại càng thổi bùng ngọn lửa hung ác đó ra, cái hại sẽ càng lớn. Nếu quả thực có hàng phục được hung sát thì cũng chỉ là ngăn không cho hung sát gây hoạ mà thôi. Còn hoá sát giống như lấy đức mà cảm phục người, biến đổi cái tâm ý hung ác thành lương thiện, chẳng những hung sát không dám gây hoạ mà còn có thể tạo phúc, như bọn đạo tặc đã hồi chính về với triều đình cứ thể trở thành người trung quân ái quốc. Tục ngữ có câu: “Đứa con du đãng đã tỉnh ngộ thì được vàng cũng chẳng bằng”, vì thế thời xưa có câu “Chế sát không bằng hoá sát”.