Công cụ

Bảng phối quẻ Hoàng Cực Kinh Thế 129.600 năm của Thiệu Ung, Hán – Anh đối chiếu (Hexagram-Allocated Table of Shao Yong's Supreme World-Ordering Principles)

✍ Pāramitā Publishing Studio 🏷 Miễn phí
© Sách còn bản quyền. Học quán chỉ giới thiệu thông tin, lời giới thiệu và mục lục — không cung cấp bản đọc trực tuyến hay tải về. Xin bạn tìm mua bản chính thức để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản.
Thông tin thư mục tham khảo từ archive.org.

Giới thiệu

Shao Yong (1012—1077) was one of the most diversely talented neo-Confucians in the 11th century in China. He was a cosmologist, historian, poet, prognosticator, and ethicist. His Treatise of Supreme World-Ordering Principles harmonizes and integrates Daoist ontological root of Heaven, Buddhist cosmological base of evolution, and Confucian ethics of humanity. The numero-cosmology articulated in the Treatise pushes forward the Yi-jing (I-Ching)’s metaphysical numerology to a kind of scientific paradigm applicable in studying the philosophy of cosmos and consciousness. This monograph is composed of two parts. Part I is the Introduction of around 20 pages, and Part II is the hexagram-allocated Table which is as long as 1879 pages. The former concisely introduces Yi-Jing’s numerological binary system and Shao Yong’s world-ordering principles. The latter exhaustively exhibits the 129,600-year lines of the allocated hexagrams correlated with four Pillars as well as 4 Emblems, 24 solar Terms, and 60 on-duty hexagrammatic elements.The concerned four Pillars are nominated by Shao Yong as Cycle (yuan), Epoch (hui), Revolution (yun), and Generation (shi) in his Treatise of Supreme World-Ordering Principles. The Pillars constitute a set of ordered periodicities in time which are concatenated with the distribution and redistribution of Yi-Jing’s 64 hexagrams. The whole database of the hexagram-allocated Table elucidates a self-consistent, hierarchical, and nested temporal structure of the solar-terrestrial system in the period of 129,600 years. In addition, It reveals the philosophical commitments behind the big-bang cosmology. Sign "–" in front of some years denotes “BCE”.

Tác giả: Pāramitā Publishing Studio Năm: 2020 Số trang (bản quét): 1923 Chủ đề: Shao Yong · Yi-Jing (I-Ching) · 129600

Nguồn thư mục: Archive.org — https://archive.org/download/book-2-129600/book-2-129600.pdf

Đánh giá

Ấn phẩm này là một chuyên khảo công cụ về hệ thống số học vũ trụ của Thiệu Ung (1012–1077), nhà tư tưởng Bắc Tống được xếp vào nhóm Ngũ Tử của Lý học sơ kỳ. Bản lưu hành là song ngữ Hán–Anh, do Pāramitā Publishing Studio ấn hành năm 2020, dày 1923 trang — con số cho thấy đây không phải khảo luận diễn giải mà đúng hơn là một bảng tra cứu quy mô, phân bổ toàn bộ chu trình 129.600 năm của Hoàng Cực Kinh Thế lên sáu mươi tư quẻ. Cách đặt tựa "hexagram-allocated" nói rõ nguyên tắc tổ chức: mỗi quẻ giữ một ô thời gian trong hệ đếm của Thiệu Ung, và phần chính của sách là bảng đối chiếu ấy, kèm phần dẫn nhập ngắn khoảng hai mươi trang.

Về tác giả, dữ kiện thư mục chỉ ghi Pāramitā Publishing Studio, tức một đơn vị biên soạn chứ không phải một học giả cá nhân; không có tên người hiệu đính hay dịch giả, nên không thể quy trách nhiệm học thuật cụ thể cho ai. Cũng cần phân biệt: Hoàng Cực Kinh Thế là tác phẩm của Thiệu Ung, còn cuốn đang lưu là bản chú giải – hệ thống hoá hiện đại, không phải nguyên tác. Toàn bộ phần bảng quẻ cùng cách trình bày song ngữ Hán–Anh thuộc về người biên soạn đương đại, và sách không thay thế các bản Hoàng Cực Kinh Thế trong truyền thống chú sớ.

Việc quy Hoàng Cực Kinh Thế cho Thiệu Ung nhìn chung ít tranh cãi, nhưng niên đại thành thư và mức độ can thiệp của người sau vào văn bản thì học giới vẫn bàn. Truyền bản hiện hành có nguồn gốc từ các bản in đời Minh–Thanh, trong đó một số thiên thường được xem là do môn nhân hoặc hậu học bổ sung, ảnh hưởng ít nhiều tới hệ thống nguyên hội vận thế mà bản 2020 đem ra phân bổ. Người biên soạn dựa trên bản nào để dựng bảng thì dữ kiện không nói, đấy là chỗ cần tra trực tiếp trước khi dùng.

Điểm đáng lưu ý về vị trí của sách: hệ số học của Thiệu Ung là mắt nối giữa tượng số Hán–Đường và vũ trụ luận Lý học Tống, đồng thời là nguồn cho truyền thống Mai Hoa Dịch Số về sau và cho cách đọc Dịch như một mô hình chu kỳ. Với người nghiên cứu Dịch học, Tống học hay lịch pháp tư tưởng, một công cụ đối chiếu quẻ – niên đại cỡ này có ích khi muốn định vị nhanh một vận trong toàn cục; nhưng vì là sản phẩm của một nhà xuất bản không rõ danh tính học thuật, cần đối chiếu với các nghiên cứu chuyên khảo đã được thẩm định trước khi trích dẫn.